LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến T.S Lê Thị Minh
Nguyệt, người đã luôn động viên và khích lệ, tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt
tình cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, các thầy cô
trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ PP dạy học Ngữ văn
trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu.
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã luôn sát cánh động viên và
hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Phùng Thị Tâm
1
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
CNTT
GV
HĐ
HS
NXB
PP
PPDH
SGK
THCS
THPT
tr
Đại hội XI của Đảng (1/2011) về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, đào tạo đã
nêu rõ việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa,
hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế cần được tiến hành với các
giải pháp toàn diện, đồng bộ và nhất quán, trong đó có nội dung là cần đổi mới PP dạy
và học. Trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 (6/2012)
đã nêu ra những bất cập và yếu kém của tình hình giáo dục Việt Nam giai đoạn 20012010 đó là “Nội dung chương trình, PP dạy và học, công tác thi, kiểm tra, đánh giá
chậm được đổi mới. Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết, PPDH lạc hậu,
chưa phù hợp với đặc thù khác nhau của các loại hình cơ sở giáo dục…”. Đồng thời
nêu ra các giải pháp phát triển chiến lược giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011- 2020,
trong đó có việc đổi mới nội dung, PPDH, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo
dục. Chiến lược nêu rõ cần “tiếp tục đổi mới PPDH và đánh giá kết quả học tập, rèn
luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học
của người học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và
học”. Như vậy, một trong những nội dung mà Đảng nhấn mạnh trong việc nâng cao
chất lượng giáo dục đó là cần đẩy mạnh đổi mới PPDH.
1.2. Trò chơi là PPDH tích cực, hiệu quả góp phần vào việc đổi mới PPDH
Trò chơi là một hoạt động của con người mà mục đích trước tiên là giải trí, thư
giãn sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi. Nhưng qua đó, người chơi còn được
rèn luyện các giác quan, rèn luyện tư duy, khả năng hợp tác, làm việc nhóm, tạo cơ hội
giao lưu với mọi người… Đối với học sinh THCS thì hoạt động chơi không còn đóng
vai trò chủ đạo nữa, song cùng với học thì chơi là nhu cầu không thể thiếu. Trò chơi
trong dạy học được coi là PPDH có hiệu quả bởi nó có tác dụng khơi dậy hứng thú cho
người dạy lẫn người học đồng thời tạo ấn tượng sâu sắc về bài học, giúp việc học trở
nên nhẹ nhàng. Trong các hoạt động học tập, nếu chúng ta kết hợp khéo léo việc cung
cấp kiến thức gắn với trò chơi sẽ góp phần phát huy khả năng tự học của HS, làm cho
các em phát triển các năng lực một cách tự nhiên. Trò chơi với tính hấp dẫn tự thân
4
của nó là tiềm năng lớn để trở thành một PPDH hiệu quả, kích thích sự hào hứng, vui
quan điểm của nhà sư phạm Đức Ph. Phroebel. Chính ông là người đề xuất ý tưởng kết
hợp dạy học với trò chơi. Ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát
triển thể chất, làm giàu vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của
trẻ. Vào những năm 40 của thế kỉ XIX, các nhà nghiên cứu Nga như P.A.Bexonova,
O.P.Seina…đã đánh giá cao vai trò giáo dục đặc biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân
5
gian Nga đối với trẻ em. Ngoài ra còn một số cái tên tiêu biểu trong việc nghiên cứu
về PP trò chơi như: M. Montessori, Ovida Dekroli, Nathan Bennelt, I.A.Komenxki…
Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi dạy học được công bố,
trong đó có hai xu hướng là sử dụng trò chơi trong giờ học chính khóa và giờ học
ngoại khóa.
Việc sử dụng trò chơi trong giờ học chính khóa được nghiên cứu khá rộng rãi ở
các cấp học khác nhau. Tác giả Trương Thị Xuân Huệ với công trình “Xây dựng và sử
dụng trò chơi phát triển nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5, 6 tuổi”
đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan tới việc sử dụng trò chơi trong hoạt
động dạy học, xây dựng được một hệ thống các trò chơi với nội dung phù hợp nhằm
hình thành biểu tượng toán học cho HS 5,6 tuổi. Các luận văn của Nguyễn Thị Hương
“Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học nhằm nâng cao hứng thú và hiệu quả dạy
học hóa học”, Nguyễn Xuân Việt “Thiết kế và sử dụng một số trò chơi kết hợp vào
bài giảng điện tử nhằm nâng cao tính tích cực học tập môn Hóa học cho học sinh
(Phần phi kim - Hóa học 10 nâng cao)” đã chỉ ra vai trò tích cực của trò chơi, đặc biệt
là kết hợp chúng với CNTT trong quá trình dạy học. Ngoài ra ở một số bài đăng trên
các tạp chí, các nhà nghiên cứu đã nêu ra những trò chơi đặc thù với từng môn học để
kích thích sự hứng thú học tập của HS như “Sử dụng trò chơi trong dạy học lịch sử ở
trường tiểu học”của Nguyễn Thị Hường trên tạp chí Giáo dục (2003), “Sử dụng trò
chơi toán học góp phần kích thích hứng thú học tập của học sinh tiểu học” của tác giả
Đăng Thị Thu Thủy đăng trên tạp chí Thiết bị Giáo dục (2010).
Về việc sử dụng trò chơi trong giờ học ngoại khóa, dựa vào đặc trưng của giờ học
ngoại khóa tiếng Việt ở nhà trường phổ thông” của Nguyễn Thị Hiền đề cập đến việc
ứng dụng trò chơi trong các cuộc thi trí tuệ, hình thức câu lạc bộ. Trong công trình này
việc thiết kế, xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học như một PPDH hầu như chưa được
chú trọng và nhắc đến cụ thể, đầy đủ.
Một số công trình nghiên cứu trực tiếp về trò chơi dạy học như: khóa luận tốt
nghiệp của Phạm Trà My “Xây dựng trò chơi ngôn ngữ trong dạy học nhóm bài
phong cách học ở trung học phổ thông” bước đầu đưa ra một số quan điểm về nguồn
gốc, bản chất của trò chơi và một vài trò nhằm rèn luyện ngôn ngữ cho HS THPT khi
học nhóm bài phong cách học. Bài đăng trên tạp chí giáo dục của Nguyễn Thị Hạnh
(2007) “Dùng phương pháp sử dụng trò chơi học tập để dạy học tự chọn môn tiếng
Việt” đã trình bày bản chất của trò chơi học tập là “dạy học thông qua việc tổ chức
hoạt động cho HS, dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động bằng cách tự chơi
trò chơi…” [14; tr.19]. Bài viết này nhắc tới một cách sơ lược quy trình thực hiện trò
chơi, ưu điểm, nhược điểm, những lưu ý khi sử dụng trò chơi; đồng thời nêu ra hai ví
dụ về trò chơi học tập để dạy nội dung tự chọn tiếng Việt ở tiểu học.
Đối với việc sử dụng trò chơi trong dạy học nhóm bài từ ngữ, chưa có công trình,
luận văn, luận án nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Thảng hoặc nó chỉ được
đề cập đến ở một vài điểm trong các bài đăng trên tạp chí như: “Giới thiệu thêm về trò
chơi vui học môn tiếng Việt THCS” của Nguyễn Thế Truyền. Tác giả mới dừng ở việc
giới thiệu sơ lược một số trò chơi áp dụng được vào các bài thuộc nhóm bài từ ngữ
như : trò ô chữ cầu thang [13; tr.65]; trò Đômino với bài Từ Hán Việt [13; tr.66-67].
7
2.3. Nghiên cứu về dạy học nhóm bài từ ngữ trong nhà trường phổ thông
Nhóm bài từ ngữ là nhóm bài có vị trí quan trọng trong phần tiếng Việt, đặc biệt
là ở cấp THCS. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về dạy học nhóm bài từ ngữ ở
THCS đi theo hai hướng.
Hướng thứ nhất là nghiên cứu về nguyên tắc, PPDH nhóm bài từ ngữ nói chung.
theo nhiều hướng khác nhau.
8
Nhìn chung, các công trình trên có đề cập đến các biện pháp, PPDH khác nhau,
nhưng chưa có công trình nào nhắc tới việc sử dụng trò chơi như một PPDH trong việc
dạy học nhóm bài từ ngữ.
Như vậy, việc sử dụng trò chơi vào dạy học nhóm bài từ ngữ tiếng Việt ở chương
trình Ngữ văn 7 đến nay vẫn còn là một vấn đề mới mẻ, chưa có một công trình nào đi
sâu tìm hiểu cụ thể, chi tiết. Trên tinh thần nghiên cứu, học hỏi và kế thừa những ưu
điểm của các công trình đã có, đồng thời kết hợp với những ý kiến và quan điểm riêng,
đề tài của chúng tôi sẽ lựa chọn vấn đề sử dụng trò chơi vào dạy học nhóm bài từ ngữ
tiếng Việt ở chương trình Ngữ văn 7 để nghiên cứu và phát triển.
3.
Mục đích nghiên cứu
Sử dụng trò chơi vào dạy học nhóm bài từ ngữ tiếng Việt ở chương trình Ngữ
văn 7 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học nhóm bài từ ngữ nói riêng, môn Ngữ văn nói
chung và phát triển năng lực của học sinh.
4.
-
Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về trò chơi trong dạy học nói chung và trò chơi dạy
học trong dạy và học nhóm bài từ ngữ tiếng Việt.
Thiết kế một số trò chơi để dạy học nhóm bài từ ngữ tiếng Việt ở chương trình Ngữ
văn 7.
Thiết kế giáo án thử nghiệm và đánh giá vai trò của trò chơi dạy học.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
đối với PPDH này.
PP thống kê: Sử dụng PP thống kê toán học để xử lí các kết quả thu được sau điều tra.
PP thực nghiệm sư phạm: Trong điều kiện có hạn và khuôn khổ của khóa luận, chúng
tôi dừng lại ở khâu thiết kế giáo án thử nghiệm và đánh giá vai trò của trò chơi trong
dạy học nhóm bài từ ngữ tiếng Việt.
7.
Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng trò chơi trong dạy học nhóm bài từ ngữ tiếng Việt lớp 7 một cách
hợp lí, sáng tạo sẽ góp phần nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho HS, từ đó nâng
cao hiệu quả dạy học từ ngữ nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung.
8.
Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, khóa luận này
được triển khai thành ba nội dung lớn, tương ứng với ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc sử dụng trò chơi trong dạy học nhóm bài từ
ngữ tiếng Việt ở chương trình Ngữ văn 7.
Trong xu hướng đổi mới PPDH ngày nay, trò chơi dạy học là một PP mới mẻ
thường được nhắc tới. Chương này đề cập tới các vấn đề liên quan đến trò chơi dạy
học như: trò chơi, hoạt động chơi, cấu trúc, phân loại…Đồng thời chỉ ra vị trí, vai trò
của nhóm bài từ ngữ tiếng Việt lớp 7 trong chương trình tiếng Việt ở phổ thông, đặc
điểm tâm sinh lí của HS THCS cũng như thực trạng việc dạy và học nhóm bài từ ngữ
ở lớp 7 để làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng trò chơi dạy học vào nhóm bài này.
Chương 2: Xây dựng và tổ chức trò chơi trong dạy học nhóm bài từ ngữ tiếng
Việt ở chương trình Ngữ văn 7.
Ở chương này, từ vị trí, nội dung của nhóm bài từ ngữ tiếng Việt lớp 7 kết hợp
với những nguyên tắc cũng như các bước xây dựng trò chơi dạy học, chúng tôi đã tiến
chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội,
ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
thông trong dạy và học”. Như vậy, trong các văn kiện chính trị của Nhà nước về Đào
tạo và Giáo dục thì việc đổi mới PPDH là một vấn đề trọng yếu để hoàn thành mục
tiêu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Cốt lõi của đổi mới là hướng tới hoạt
động học tập tích cực, dần loại bỏ thói quen học thụ động, đổi mới hình thức hoạt
động của GV và HS, hình thức tương tác trong dạy học, giúp HS thấy mình được học
chứ không phải bị học.
Trong việc đổi mới PPDH người ta thường nhắc tới các kĩ thuật dạy học tích cực.
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS trong các
tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện điều khiển quá trình dạy học. Kĩ thuật dạy
học tích cực vô cùng đa dạng, phong phú như: kĩ thuật “Khăn trải bàn”; kĩ thuật dạy
học theo sơ đồ KWL và bản đồ tư duy; kĩ thuật “ổ bi”; kĩ thuật tia chớp; kĩ thuật
"Động não"; kĩ thuật XYZ …
Một số tài liệu cho trò chơi dạy học là một kĩ thuật dạy học tích cực. Tuy nhiên,
trong khuôn khổ khóa luận này, người viết coi trò chơi dạy học là một PPDH tích cực.
Do việc thiết kế và tiến hành một trò chơi dạy học cần sử dụng kết hợp nhiều kĩ thuật
11
dạy học. Ví dụ như: kĩ thuật tia chớp để tham gia trực tiếp vào hoạt động chơi; tranh
luận để trả lời câu hỏi và thảo luận sau khi chơi, kĩ thuật sơ đồ tư duy để khái quát,
củng cố lí thuyết sau trò chơi…
Trò chơi là một PPDH tích cực, nếu được sử dụng hợp lí sẽ thúc đẩy một cách tự
nhiên thái độ học tập của HS, tạo được môi trường, không khí học tập vui vẻ, lí thú,
nâng cao chất lượng giáo dục.
1.1.2. Lí thuyết về trò chơi dạy học
1.1.2.1. Các khái niệm công cụ
- Chơi và hoạt động chơi
Nhà nghiên cứu Hoàng Phê đề cập đến khái niệm chơi với tư cách một danh từ
khẳng định rằng, trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội, được
truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục.
Trong cuốn “Giải thích thuật ngữ tâm lí - giáo dục”, Trần Hồng Cẩm có đề cập
trò chơi là hoạt động tâm lí học hay tinh thần hoàn toàn không có tính vụ lợi, thường
có cơ sở là qui ước hay tưởng tượng trong ý thức của người chơi, không ngoài mục
đích tự thân và miêu tả là tạo khoái cảm.
Như vậy, trò chơi nhìn chung là một tập hợp các yếu tố quan trọng, có vai trò
trung tâm trong hoạt động chơi, bao gồm mục đích, luật chơi, quy tắc, thao tác chơi và
các hành động trong quá trình chơi. Trò chơi có tính cạnh tranh, thi đấu, có tính thách
thức đối với người tham gia.
1.1.2.2. Trò chơi dạy học
Có khá nhiều quan điểm về trò chơi sử dụng trong dạy học, ngay cả vấn đề tên
gọi của chúng cũng có sự khác nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn là các cách gọi tên như:
trò chơi học tập và trò chơi dạy học.
Một số nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ trò chơi học tập, là loại trò chơi có luật
tiêu biểu, khi tham gia, người chơi gián tiếp giải quyết các nhiệm vụ học tập như: củng
cố, chính xác hóa các biểu tượng, phát triển các kĩ năng hoạt động và khả năng giao
tiếp. Khái niệm trên nhấn mạnh đến đặc trưng có luật của trò chơi và mục đích dạy học
của nó.
Một số khác lại sử dụng thuật ngữ trò chơi dạy học là “những trò chơi được lựa
chọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và
PPDH, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên HS tìm kiếm và lĩnh hội tri
thức, học tập và rèn luyện kĩ năng, tích lũy và phát triển các phương thức hoạt động và
hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ, pháp luật, khoa học, ngôn ngữ, cải
thiện và phát triển phẩm chất, tức là tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của học
sinh khi họ tham gia trò chơi” [1; tr.395]. Các nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ trò
chơi dạy học này cho rằng cần nhấn mạnh đến đối tượng sáng tạo ra trò chơi là các nhà
giáo chứ không phải HS. Họ coi cách gọi tên trò chơi học tập thật ra chưa chính xác vì
HS không xây dựng và thiết kế chúng, ý tưởng và mục tiêu không phải do HS đề ra,
HS chỉ là người tham gia trò chơi.
là các nội dung kiến thức, các nhiệm vụ học tập mà HS cần tiếp thu được sau khi chơi.
Nhiệm vụ học tập chứa đựng trong các trò chơi thường nhằm mục đích ôn tập, củng cố
kiến thức đã học, cung cấp kiến thức mới, rèn luyện các kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng
chung…
Hành động chơi: là các thao tác, hoạt động mà người chơi cần thực hiện để tham gia
trò chơi và giải quyết nhiệm vụ học tập.
Luật chơi: mỗi trò chơi dạy học đều có luật chơi cụ thể, đó là những quy tắc về việc
thực hiện các hành động mà người chơi phải tuân theo như cách chơi, cách tính
điểm… Luật chơi quyết định trò chơi, nếu phá vỡ nó thì trò chơi dạy học cũng bị
phá vỡ.
Như vậy, ba yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết, quy định, tác động qua lại lẫn
nhau. Nếu thiếu một trong ba yếu tố thì không thể giải quyết được nhiệm vụ đặt ra
trong trò chơi dạy học.
1.1.2.4. Các loại trò chơi dạy học
Tùy theo các tiêu chí khác nhau mà chúng ta có thể phân loại thành các trò chơi
dạy học khác nhau.
a) Phân loại trò chơi theo sự năng động
Trò chơi động: là những trò chơi có sự chuyển động hoặc vận dụng đến cơ bắp của
người chơi như chạy nhảy, nhào lộn, kéo đẩy, vượt chướng ngại. Nhìn chung, các trò
chơi này nghiêng về phát triển thể chất là chủ yếu.
14
-
-
-
-
5
6
7
8
9
10
11
1
1
2
1
1
1
1
1
1
1
1
3
11
18, 23
35
39
43
48
61
65
68
liệu Ghi nhớ Luyện tập.
Bước 1: Cung cấp ngữ liệu để phân tích (Ngữ liệu thường là các câu văn, đoạn trích
được trích ra từ một tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn lớp 7) và đưa ra
các câu hỏi mang tính chất định hướng đến nội dung bài học.
Bước 2: Rút ra ghi nhớ (Bảng ghi nhớ).
Bước 3: Luyện tập (Đây là hệ thống các bài tập từ dễ đến khó với mục đích củng cố,
tái hiện lại các tri thức ngôn ngữ mà HS vừa học trước đó).
Trong chương trình Ngữ văn, phần tiếng Việt ở THCS và THPT bao gồm hai bộ
phận: tri thức về hệ thống tiếng Việt và kĩ năng về sử dụng tiếng Việt. Một trong
những mục tiêu hàng đầu của chương trình phần tiếng Việt đó là giúp HS sử dụng
thành thạo tiếng mẹ đẻ với cả bốn kĩ năng: đọc, viết, nghe, nói.
Nhóm bài từ ngữ chiếm một vị trí quan trọng trong nội dung tiếng Việt ở THCS
nói riêng và phổ thông nói chung. Ngay từ bậc tiểu học, các em đã bắt đầu làm quen
với một số bài thuộc nhóm bài này ở mức độ đơn giản, đặc biệt là những bài liên quan
đến nghĩa của từ như: từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm….Đến lớp 6, nhóm bài
từ ngữ tiếp tục được đưa vào chương trình một cách cụ thể và khái quát hơn. Đi theo
hệ thống ấy, chương trình phần tiếng Việt lớp 7 kì I đã dành hầu hết thời lượng cho
các bài thuộc nhóm bài này (12/17 tiết ). Đến THPT, HS được thực hành các tiết học
về nhóm bài từ ngữ là chủ yếu.
Nhóm bài từ ngữ tiếng Việt xuất hiện xuyên suốt trong cả ba cấp học phổ thông,
cho thấy tầm quan trọng của nó. Trước tiên, từ ngữ là công cụ không thể thiếu của quá
trình giao tiếp. Muốn tham gia giao tiếp với đối tượng thứ hai trở đi, chúng ta cần phải
hiểu được từ, có khả năng huy động và sử dụng từ. Nếu một trong các đối tượng tham
gia không nắm được từ thì quá trình giao tiếp sẽ gặp rất nhiều cản trở, không đạt được
hiệu quả. Thứ hai, từ ngữ giúp con người nắm bắt được các hiện thực phong phú, phức
tạp và đa dạng thành những nhóm đồng nhất với những nét tương đồng và khác biệt,
tức là nắm được các khái niệm của sự vật, làm đơn vị trong quá trình tư duy của mình.
Thứ ba, từ ngữ chính là cơ sở xây dựng nên các hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm
văn học. Việc dạy học từ ngữ tốt, đặc biệt là dạy học từ ngữ theo hướng ngôn ngữ
nghệ thuật sẽ giúp HS có đà để đi vào thế giới nghệ thuật, đào sâu các tầng ý nghĩa
em chưa có kĩ năng cơ bản để tổ chức tự học, động cơ học tập còn đa dạng, chưa bền
vững, nhiều khi có biểu hiện mâu thuẫn, thờ ơ, lười biếng. HS thường chỉ chú ý vào
những môn mà các em cho rằng mình có khả năng hoặc nó hấp dẫn, lỗi cuốn.
- Về khả năng ghi nhớ và chú ý
Ở lứa tuổi THCS, HS đã bắt đầu có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn
khi tri giác các sự vật, hiện tượng. Trí nhớ dần mang tính chất của quá trình có điều
khiển, điều chỉnh và có tổ chức. Các em có tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu, từ ngữ
trừu tượng một cách khái quát, tổng hợp chứ không còn ghi nhớ từng bài, từng chữ
17
như lứa tuổi tiểu học. Trong quá trình ghi nhớ, các em thiết lập được mối quan hệ
phức tạp hơn, gắn tài liệu mới với tài liệu cũ, biết cách khái quát các vấn đề, tốc độ ghi
nhớ và khối lượng ghi nhớ được tăng lên. Tùy theo yêu cầu của bài học mà mỗi em sẽ
lựa chọn cho mình cách ghi nhớ thích hợp để nhớ nhanh, nhớ lâu hơn.
Sự phát triển chú ý của HS lứa tuổi này cũng có những đặc trưng riêng. Một mặt,
chú ý có chủ định bền vững được hình thành. Nhưng mặt khác, sự phong phú của
những ấn tượng, sự rung động tích cực và xung động mạnh mẽ của lứa tuổi này
thường dẫn đến sự chú ý không bền vững. Việc chú ý của các em có tính lựa chọn rất
rõ, các em có khả năng say mê, tập trung học tập, sôi nổi tham gia vào việc lĩnh hội tri
thức nếu các em thấy vấn đề cần thiết và hấp dẫn.
Trò chơi hoàn toàn phù hợp với HS lứa tuổi này vì các em đã có khả năng khái
quát, ghi nhớ nhanh những đơn vị kiến thức có trong trò chơi. Đây sẽ là một hoạt động
lí thú thu hút sự chú ý của các em, làm cho việc học hấp dẫn hơn bao giờ hết.
Tóm lại, khi dạy học phần từ ngữ tiếng Việt trong SGK Ngữ văn 7 có sử dụng trò
chơi cần chú ý tới đặc điểm tâm lí và nhận thức của HS để đạt hiệu quả cao nhất.
1.4. Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học nhóm bài từ ngữ tiếng Viêt ở
chương trình Ngữ văn 7
chơi trong khi học các bài từ ngữ.
+ 56,7% HS (85/150 HS) cho rằng sẽ rất hứng thú nếu được học các giờ từ ngữ
có sử dụng trò chơi.
Bảng 1.1: Tầm quan trọng của nhóm bài từ ngữ tiếng Việt với HS
Tầm quan trọng của nhóm bài từ ngữ tiếng
Viết với HS
a. Rất quan trọng
b. Bình thường
c. Không quan trọng
Số HS chọn
Phần trăm (%)
19
84
47
12,7 %
56 %
31,3 %
Bảng 1.2: Mức độ hứng thú của HS với giờ học từ ngữ tiếng Việt lớp 7
Mức độ hứng thú của HS với giờ học từ ngữ
tiếng Việt lớp 7
a. Rất hứng thú
b. Bình thường
c. Không hứng thú
d. Rất ghét
19
+ 39% GV quan sát thấy trong giờ dạy học từ ngữ của mình HS thường mất tập
trung khi học, chỉ 12% GV thấy các em chú ý vào giờ học.
+ 72% GV (18/25 GV) chưa bao giờ sử dụng trò chơi trong dạy học nhóm bài từ
ngữ tiếng Việt lớp 7, có 4% GV (1/25 GV) thường xuyên sử dụng trò chơi vào dạy học
nhóm bài từ ngữ, có 24% GV (6/25 GV) từng sử dụng trò chơi vào dạy học nhóm bài
từ ngữ nhưng mức độ không thường xuyên.
+ 53% GV được hỏi cho rằng nếu sử dụng trò chơi trong dạy học nhóm bài từ
ngữ tiếng Việt lớp 7 sẽ đem lại hiệu quả học tập, 18% GV cho rằng trò chơi rất hiệu
quả khi sử dụng trong nhóm bài này.
Về các PPDH được GV sử dụng thường xuyên trong giờ dạy học nhóm bài từ
ngữ tiếng Việt, kết quả chi tiết như sau:
Bảng 1.3: Các PPDH thường được sử dụng trong dạy học nhóm bài từ ngữ
tiếng Việt lớp 7
Các PPDH thường được sử dụng trong dạy học nhóm bài từ ngữ
tiếng Việt lớp 7
Giảng giải, thuyết trình
Vấn đáp
Thảo luận nhóm
Trò chơi dạy học
Các PP khác
Số GV
25
25
11
1
9
Tiểu kết chương 1
Đổi mới các PPDH, các hình thức tổ chức dạy học là nhu cầu thiết yếu trong tình
hình giáo dục hiện nay. Trước thực tế đó, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đề xuất
nhiều biện pháp, PPDH nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, trong
đó có trò chơi. Có nhiều cách gọi tên trò chơi trong dạy học, trong khóa luận này,
chúng tôi sử dụng thuật ngữ trò chơi dạy học là loại trò chơi có nội dung tri thức gắn
với hoạt động học tập của HS, gắn với nội dung bài học, trò chơi có luật định, có định
hướng đối với sự phát triển trí tuệ của người học dùng cho mục đích giáo dục và dạy
học. Tùy theo các tiêu chí mà người ta phân loại thành các trò chơi dạy học khác nhau,
nhưng về cấu trúc trò chơi dạy học nào cũng có sự kết hợp các yếu tố chơi và các yếu
tố sư phạm trong một tổ hợp hoạt động và quan hệ hiện thực, cấu trúc gồm các thành
tố: mục đích chơi, hành động chơi và luật chơi. Với vai trò quan trọng, nhóm bài từ
ngữ tiếng Việt luôn được chú ý giảng dạy trong các cấp ở phổ thông. Qua đó nhằm
hình thành cho HS các tri thức về từ ngữ cơ bản, cung cấp hành trang cho các em tham
gia vào giao tiếp, học tập các môn học khác một cách hiệu quả. Mặt khác, thực tế khảo
sát cho thấy việc dạy học nhóm bài này ở cấp THCS còn chưa đem lại hiệu quả cao,
PPDH chưa đa dạng, thu hút được hứng thú của HS. HS lứa tuổi THCS có đầy đủ
phẩm chất tư duy, trí tuệ để đáp ứng yêu cầu của trò chơi dạy học. Hoạt động học tập
của các em đã có tính độc lập cao, có khả năng ghi nhớ nhanh và khái quát. Các em sẽ
thực sự chú ý vào những nội dung bài học có sự thu hút, hấp dẫn, mới lạ với mình. Trò
chơi dạy học hoàn toàn đảm nhiệm được yêu cầu này, nói sẽ giúp cho con đường đến
với các tri thức từ ngữ của HS thú vị hơn, các em sẽ hào hứng để tự mình bước đi đến
đích dưới sự theo dõi của GV, chứ không phải đi một cách uể oải.
CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC NHÓM BÀI TỪ
NGỮ TIẾNG VIỆT Ở CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 7
21
2.1.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính tạo sức và phù hợp với đặc điểm nhận thức
của HS
Trò chơi phải huy động, khơi gợi các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm đã có ở
HS, khả năng biết làm việc tập thể, sự chú ý, sức tập trung…để hoàn thành trò chơi. Vì
vậy các nhiệm vụ trong trò chơi không được quá dễ hay quá khó. Trò chơi có nhiệm
vụ quá dễ sẽ tạo cho HS sự nhàm chán, nhưng quá khó sẽ làm cho các em nản chí,
22
những trò chơi như thế không đem lại tác dụng giáo dục như mong muốn. Trò chơi
dạy học phải được xây dựng trên những thử thách, tạo điều kiện cho HS từng bước
khám phá các kiến thức mới từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ cơ bản đến
nâng cao, tạo đà cho các em “nâng” được những kiến thức ngày càng “nặng” hơn.
Dạy học nói chung và việc sử dụng trò chơi trong dạy học nói riêng luôn phải
phù hợp với quá trình lĩnh hội kiến thức và đặc điểm tâm lý, nhận thức của HS.
2.1.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính chất của hoạt động chơi
Trò chơi dạy học là một hình thức vừa học vừa chơi. Khi tham gia, HS sử dụng
những kiến thức của mình để hoàn thành trò chơi, từ đó tiếp thu được tri thức mới. Vì
vậy, muốn sử dụng trò chơi hiệu quả thì nó trước hết phải hấp dẫn, kích thích sự năng
động, tự giác, tích cực của HS. Trò chơi mà không mang tính chất “vui” và “chơi” thì
rất khó thu hút, làm giảm sự hứng thú của các em vào bài học. Tuy rằng mục đích
chính của việc sử dụng trò chơi là dạy học nhưng người thiết kế, tổ chức tuyệt đối
không được làm trò chơi xa rời bản chất của nó.
Ngoài ra, trong quá trình chơi, GV cần quan sát để tất cả lớp đều có cơ hội tham
gia vào trò chơi, đặc biệt là những HS trầm tính, ngại đám đông. Tuyệt đối tránh việc
tạo cho các em có cảm giác trò chơi chỉ dành cho những bạn hăng hái, sôi nổi.
Cuối cùng, sau khi kết thúc mỗi phần của trò chơi, GV phải có sự đánh giá công
bằng đáp án, được sự nhất trí đa số từ phía HS, có phần thưởng cho người thắng cuộc.
2.1.2. Các bước xây dựng trò chơi trong dạy học nhóm bài từ ngữ tiếng Việt ở
chương trình Ngữ văn 7
này, người thiết kế phải tự mình trả lời câu hỏi trò chơi ấy sẽ mang lại những kiến thức
và hình thành những kĩ năng gì cho HS thông qua các hoạt động chơi. Nhìn chung
trong mỗi trò chơi, mục tiêu của bài học và của trò chơi phải có sự kết hợp nhuần
nhuyễn, thống nhất với nhau.
Bước 3: Thiết kế trò chơi
Đây là bước phức tạp và cần đầu tư nhiều thời gian nhất của người thiết kế. Sau
khi xác định được mục tiêu bài học, mục đích trò chơi và lớp tiến hành tổ chức, người
thiết kế phải xác định trò chơi mà mình sử dụng có tên, hình thức chơi…như thế nào.
Đây là khâu lên ý tưởng về trò chơi trong đầu sau đó hiện thực hóa nó. Việc thiết kế
khá phức tạp, vì vậy có thể sáng tạo ra những trò chơi mới hoặc lấy gợi ý từ những trò
24
chơi quen thuộc như Đuổi hình bắt chữ, Ai là triệu phú, Chiếc nón kì diệu…,sau đó
điều chỉnh lại nội dung câu hỏi và cách chơi cho phù hợp với điều kiện lớp học về thời
gian và không gian.
Với những trò chơi có sử dụng CNTT, tiến hành trên máy tính, máy chiếu, người
thiết kế phải có sự chuẩn bị công phu và đầu tư nhiều về thời gian. Trước hết cần lựa
chọn phần mềm sẽ sử dụng để thiết kế, tiến hành các thao tác trên máy tính để xây
dựng trò chơi đó (tạo các thao tác chơi trên máy tính, hiệu ứng hình ảnh, âm thanh) sau
đó chạy thử trò chơi trên máy tính cho thật trơn tru. Điều quan trọng cần chú ý ở
những trò chơi này là cơ sở vật chất của lớp học có đủ yêu cầu đáp ứng tiến hành trò
chơi hay không.
Với các trò không tiến hành trên máy tính, người thiết kế phải tính toán, tưởng
tượng trong đầu các thao tác chơi sẽ diễn ra để trò chơi mang tính khả thi cao nhất.
Ngoài ra, cần căn cứ vào không gian, thời gian lớp học để lựa chọn hình thức chơi
phù hợp.
Lưu ý: Như đã nhấn mạnh ở trên, khi sử dụng trò chơi dạy học, việc quan trọng
nhất không phải ai là người xây dựng, thiết kế trò chơi mà là mục đích dạy học mà trò