NGUYỄN THỊ THANH HIỀN
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------
Nguyễn Thị Thanh Hiền
CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG NGA
TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
ĐỢT 1 KHÓA 2014
HÀ NỘI, năm 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Thị Thanh Hiền
CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG NGA
TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
CHƯƠNG 2. Câu phủ định chứa các phương tiện phủ định chính danh ở tiếng
Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt ...................................................................22
2.1. Câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các từ phủ
định trong tiếng Nga ........................................................................................22
2.2. Câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định bằng các từ phủ
định trong tiếng Việt ........................................................................................36
2.3. Phân tích đối chiếu câu phủ định chứa các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định
bằng các từ phủ định .........................................................................................50
2.4. Tiểu kết ..........................................................................................................55
CHƯƠNG 3. Câu phủ định không chứa các phương tiện phủ định chính danh
ở tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt .......................................................57
3.2. Câu phủ định không chứa các phương tiện phủ định chính danh trong tiếng
Việt .................................................................................................................63
3.3. Phân tích đối chiếu câu phủ định không chứa phương tiện phủ định chính
danh ................................................................................................................70
3.4. Tiểu kết ..........................................................................................................73
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................76
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luận văn Câu phủ định tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt của chúng
tôi được thực hiện vì những lý do sau đây:
Như chúng ta đều biết, việc nghiên cứu về câu là một nội dung quan trọng trong
nghiên cứu ngữ pháp dù theo quan điểm ngữ pháp truyền thống hay ngữ pháp hiện
đại. Trong số các kiểu câu phân theo mục đích giao tiếp thì câu phủ định nằm trong
số các hiện tượng mang tính phổ quát của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Vì vậy,
như một lẽ tự nhiên, từ lâu nó đã là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học
trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đối
không có quá trình đó, thì sự vật không thể phát triển được. Sự thay thế đó được
triết học gọi là sự phủ định. Sự phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác
trong quá trình vận động và phát triển.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng sự chuyển hóa từ những thay đổi về
lượng dẫn đến những thay đổi về chất, sự đấu tranh thường xuyên của các mặt đối
lập làm cho mâu thuẫn được giải quyết, từ đó dẫn đến sự vật cũ mất đi, sự vật mới
ra đời. Sự thay thế diễn ra liên tục tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng
của sự vật. Sự vật mới ra đời là kết quả của phủ định sự vật cũ. Điều đó cũng có
nghĩa sự phủ định là tiền đề, điều kiện cho sự phát triển liên tục, cho sự ra đời của
cái mới thay thế cái cũ. Đó là phủ định biện chứng. Triết học Mác - Lênin cho rằng,
phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, sự phát
triển tự thân, là mắt khâu trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự
vật cũ.
Phủ định là một thao tác lô-gích, nhờ đó mà một phán đoán này tạo ra được một
phán đoán mới (gọi là phủ định cái xuất phát) sao cho nếu phán đoán xuất phát là
chân lý thì sự phủ định phán đoán ấy là sai, còn nếu phán đoán xuất phát là sai thì
cái phủ định nó là chân lý. Phán đoán là một hình thức cơ bản của tư duy, dưới dạng
khẳng định hoặc phủ định, thể hiện nhận thức của con người về đối tượng trong thế
giới khách quan. Một phán đoán sẽ có một và chỉ một trong hai giá trị đúng hoặc
2
sai. Sự phủ định phán đoán được xác định một cách duy nhất bởi quy tắc: Nếu phán
đoán P (1a) sau đây là đúng thì phán đoán ~P (1b) sai còn nếu phán đoán (1a) sai thì
phán đoán (1b) đúng:
Ví dụ: dẫn lại ví dụ của Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học, tr.17)
(1a)
P =
nghi vấn, câu cầu khiến.
3
Ở Nga có rất nhiều các công trình nghiên cứu về câu phủ định từ các góc độ
khác nhau. Đại diện cho trường phái nghiên cứu câu phủ định từ quan điểm ngữ
dụng học là tác giả U.D. Apresyan. Ông cho rằng đối với cách tiếp cận theo quan
điểm ngữ dụng học, đặc trưng của các cách phân chia, giải thích các hiện tượng
ngôn ngữ xuất phát từ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Bởi vậy, hiện tượng phủ
định cũng được nghiên cứu như là một hiện tượng bên trong ngôn ngữ: nó có cơ chế
giao tiếp bác bỏ hay thay đổi ý kiến của người phát ngôn. Ông đưa ra kết luận phủ
định đơn thuần là một phạm trù ngôn ngữ học, nó không hề phản ánh tình trạng của
sự vật trong thực tế, mà chỉ thể hiện thái độ của người nói đối với nhận định đã
được nêu ra về tình trạng của sự vật đó, đánh giá nhận định đó là sai.
Nhiều nhà ngôn ngữ học xem xét vấn đề phủ định như một phạm trù ngôn ngữ
độc lập mà trong đó có bốn hướng nghiên cứu chính: đó là coi phủ định như một
phạm trù ngữ pháp, phạm trù cú pháp, phạm trù cú pháp ngữ nghĩa và phạm trù ngữ
nghĩa. Khi thừa nhận vai trò của hiện thực khách quan, đa số các nhà nghiên cứu đã
coi mối liên kết khách quan, hay chính xác hơn là sự phủ định trong chính hiện thực
là đối tượng phủ định trong ngôn ngữ.
Xuất phát từ quan điểm trên, tác giả E.I. Shendels đã đưa ra định nghĩa về phủ
định trong ngôn ngữ như sau “Phủ định như một phạm trù ngôn ngữ là cách thể
hiện mối quan hệ phủ định giữa các khái niệm nhờ vào các phương tiện ngôn ngữ
đặc biệt” [Trích theo V.N. Bondarenko, Phủ định như một phạm trù lô-gích ngữ
pháp, 1983, tr. 78]. V.N. Bondarenko đánh giá định nghĩa trên chưa thỏa đáng bởi
vì, theo ông, từ quan điểm ngôn ngữ khi nói đến sự phủ định chúng ta không bàn
đến các khái niệm vốn là đối tượng nghiên cứu của lô-gích học, mà việc cần làm là
nghiên cứu các thành phần của câu và ý nghĩa ngữ pháp của nó. E.I. Shendels viết
tiếp “Nội dung cơ bản của phạm trù ngữ pháp khẳng định và phủ định là cách thể
Câu phủ định cũng được các nhà ngữ pháp và ngôn ngữ học Việt Nam nghiên
cứu từ nhiều quan điểm khác nhau nhưng tựu trung là quan điểm ngữ pháp truyền
thống hoặc cấu trúc có kết hợp với cách lý giải lô-gích học của Trần Trọng Kim
(1939), Lê Văn Lý (1948), Bùi Đức Tịnh (1953), Trương Văn Chình và Nguyễn
Hiến Lê (1963); quan điểm cú pháp-ngữ nghĩa của Nguyễn Kim Thản (1964,1972),
Đái Xuân Ninh (1978), Hoàng Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt (1983),
5
Diệp Quang Ban (1984, 1989, 1992, 1998), Nguyễn Minh Thuyết 1994); quan điểm
lô-gích ngữ nghĩa Nguyễn Đức Dân (1977, 1983, 1985), Hoàng Phê (1989) và gần
đây là quan điểm ngữ pháp chức năng, ngữ dụng học, lý thuyết hành vi ngôn ngữ
của Nguyễn Đức Dân (1987, 1996), Cao Xuân Hạo (1991)…
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu câu phủ định tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt nhằm mục
đích làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về câu phủ định trong hai ngôn
ngữ, từ đó giúp người đọc hình dung rõ nét hơn về đặc trưng loại hình ngôn ngữ
thông qua phạm trù câu phủ định.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Khái quát hóa một số thành tựu nghiên cứu về câu phủ định nói chung, câu
phủ định trong tiếng Nga và tiếng Việt nói riêng và các vấn đề lý thuyết liên quan
đến đề tài luận văn;
- Trình bày các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong câu phủ định tiếng
Nga và tiếng Việt;
- So sánh đối chiếu các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong tiếng Nga
và tiếng Việt để chỉ ra sự khác biệt và tương đồng về câu phủ định giữa hai ngôn
ngữ.
số vấn đề về câu phủ định; đồng thời trình bày cơ sở lý thuyết về ngôn ngữ học đối
chiếu.
Chương 2 – Câu phủ định chứa các phương tiện phủ định chính danh ở
tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt: Nội dung của chương này tập trung
vào việc xác định đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa của các phương tiện thể hiện ý
phủ định chứa các từ phủ định đặc trưng trong tiếng Nga và tiếng Việt; phân tích,
đối chiếu các phương tiện này để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn
ngữ.
Chương 3 – Câu phủ định không chứa các phương tiện phủ định chính
danh ở tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt: Nội dung của chương này
tiếp tục đi sâu vào xác định đặc điểm về cấu trúc, ngữ nghĩa của các phương tiện thể
7
hiện ý phủ định mà chứa các từ phủ định đặc trưng trong tiếng Nga và tiếng Việt
đồng thời phân tích, đối chiếu các phương tiện này để tìm ra điểm tương đồng và
khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Một số vấn đề về câu phủ định
1.1.1. Khái niệm câu phủ định
Để đưa ra một định nghĩa thống nhất, được đa số các nhà khoa học chấp nhận
về câu phủ định là công việc không hề dễ dàng. Trong tiếng Nga, theo tác giả D.E.
Rozental, “câu có thể được gọi là câu phủ định nếu mối quan hệ giữa đối tượng của
lời nói và điều được nói đến trong câu bị phủ định.” [Tiếng Nga hiện đại, D.E. Rozental chủ biên, phần 2 – cú pháp, 1979, tr.21]
Từ điển Bách khoa thư khoa học xã hội của Nga đưa ra định nghĩa chung nhất
sự vật, sự việc hay đặc trưng, tính chất, quan hệ nào đó, hoặc để phản bác một ý
kiến, một nhận định của ai đó hay của chính mình”. Khái niệm cho thấy câu phủ
định không chỉ có nhiệm vụ miêu tả như trong định nghĩa của Diệp Quang Ban mà
nó còn có vai trò quan trọng trong việc bác bỏ một nhận định nào đó.
Như vậy, qua quan sát các khái niệm nêu trên chúng ta có thể khái quát hóa các
đặc trưng của câu phủ định như sau:
- có chứa các dấu hiệu phủ định;
- được sử dụng để miêu tả sự vắng mặt của vật, hiện tượng hay sự kiện, sự vắng
mặt của đối tượng hay của đặc trưng đối tượng; hoặc để bác bỏ một nhận định.
1.1.2. Đôi nét về các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong các công trình
nghiên cứu ở Nga và Việt Nam
Trong tiếng Nga có một số lượng đáng kể các nghiên cứu về dấu hiệu nhận biết
đặc trưng của câu phủ định. Sách Ngữ pháp tiếng Nga (Русская грамматика)
(1980) đã tổng kết 6 phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định trong câu đơn gồm có:
- tiểu từ не;
- tiểu từ ни;
- đại từ và trạng từ phủ định với tiếp đầu tố не-: некого, нечего, негде, некуда,
неоткуда, незачем, некогда;
- đại từ và trạng từ phủ định với tiếp đầu tố ни-: никто, ничто, никакой…;
- vị từ: нет, нельзя, невозможно, немыслимо;
10
- từ нет tương đương với một câu phủ định hay một thành phần chính trong
câu.
Ngoài các phương tiện kể trên, tác giả E. Pugatreva trong cuốn Tiếng Nga hiện
đại, phần 2 – cú pháp (1979) bổ sung các phương tiện biểu đạt ý phủ định khác như
sử dụng các phụ tố cấu tạo từ mang nghĩa phủ định (не-, без-...), các cấu trúc câu
(Много ты понимаешь, Так я и верил...), phương tiện từ vựng (отказаться,
- một số lối nói đặc biệt cộng với một giọng điệu đặc biệt.
Bên cạnh đó, tác giả cũng tổng kết các quy tắc chung về việc dùng từ phủ định
đồng thời nhấn mạnh việc thực hiện các quy tắc đó còn phụ thuộc vào một số nhân
tố khác như tính chất lời nói, đặc điểm về tổ chức câu, ý nghĩa của lời nói…
Nguyễn Đức Dân dành sự quan tâm đặc biệt cho câu phủ định bác bỏ. Ông tập
trung phân tích các dấu hiệu đặc trưng của loại câu này như việc sử dụng các từ
phiếm định nào, gì, đâu, bao giờ… hoặc dùng từ mà để tạo thành các tác tử bác bỏ.
Qua việc khảo sát các phương tiện thể hiện ý nghĩa phủ định ở cả hai ngôn ngữ,
chúng ta thấy rằng các phương tiện này tập trung ở ba nhóm như sau:
- các phụ tố cấu tạo từ;
- các từ phủ định đặc trưng;
- các kết hợp, cấu trúc cú pháp không xuất hiện các từ phủ định đặc trưng.
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung miêu tả các phương
tiện thể hiện ý nghĩa phủ định dựa trên việc phân chia các nhóm phương tiện phủ
định như trên đã trình bày.
1.1.3. Phân loại hiện tượng phủ định
Dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có các cách phân loại khác nhau và cho các
kết quả khác nhau. Thông thường người ta thường đề cập đến ba cặp câu phủ định
sau: câu phủ định toàn bộ và câu phủ định bộ phận; câu phủ định chung và phủ định
riêng; câu phủ định miêu tả và câu phủ định bác bỏ.
a) Phủ định toàn bộ và phủ định bộ phận
Phủ định toàn bộ và phủ định bộ phận là kết quả của cách phân loại dựa trên vị
trí của từ phủ định trong câu, với quan niệm trong câu, chỉ có vị ngữ được coi là
thành phần chính, các thành phần còn lại (kể cả chủ ngữ) đều coi là thành phần thứ
yếu. Đây là cách tiếp cận của ngữ pháp truyền thống theo quan điểm cú pháp ngữ
12
nghĩa của các nhà Việt ngữ học mà điển hình là Diệp Quang Ban, Nguyễn Kim
Không học sinh nào đến.); hoặc không/ chưa + từ trỏ rộng (đại từ phiếm chỉ) (Ai
cũng nói. → Không ai nói; Không đâu đáng yêu hơn Tổ quốc).
Còn để bày tỏ ý phủ định bộ phận, “có thể dùng từ phủ định ở phụ ngữ của câu
hay ở phụ ngữ của các cụm từ trong câu. Thường thấy nhất là:
Ở phụ ngữ của câu:
Ví dụ:
5. Không vội vàng, anh đi lại phía tôi.
Ở phụ ngữ của vị từ (phủ định kết quả, trạng thái… của hoạt động, tính
chất…):
Ví dụ:
6. Tôi xem không hiểu.
7. Nó nghĩ không ra.
8. Anh viết không gọn.
Ở phụ ngữ của danh từ (thường phủ định sự tồn tại của sự vật sở thuộc):
Ví dụ:
9. Những đứa trẻ không nơi nương tựa đã được Nhà nước nuôi nấng.
1) Phần chêm xen:
Ví dụ:
10. Tất cả mọi người – không kể đàn ông hay đàn bà – đều phải là những chiến sĩ
kiên cường chống Mỹ, cứu nước.
Cùng quan điểm với tác giả Nguyễn Kim Thản, tác giả Diệp Quang Ban cũng
cho rằng hiện tượng phủ định được phân loại thành câu có vị ngữ bị phủ định, câu
có chủ ngữ bị phủ định, câu có thành phần phụ của từ và thành phần phụ của câu bị
phủ định. Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến câu có thành phần phụ phủ định nòng cốt
câu. Trong kiểu câu này, một số phương tiện phủ định đóng vai trò phụ ngữ của câu
và có tác dụng phủ định toàn bộ nòng cốt câu câu hoặc vị ngữ của câu.
Ví dụ:
11. Không phải mẹ bảo con đến đây [mà là con đi học về ghé qua thôi].
coi là câu phủ định riêng, bởi vì một phần từ của tập hợp “ông Ba” hay “một số
người” không có một thuộc tính “biết việc đó”. Trong khi đó, căn cứ vào vị trí của
15
từ phủ định không, tất cả các câu trong các ví dụ nêu trên đều được xếp loại câu phủ
định toàn bộ bởi vì từ không đứng ngay trước các vị từ trong câu.
Chúng ta nhận thấy có sự mâu thuẫn rõ rệt giữa hai cách phân loại câu phủ
định. Chẳng hạn, câu “Mọi người đều nói không rõ” có thể được coi là câu phủ định
chung xét theo tiêu chí về số lượng phần tử mang yếu tố phủ định, lại vừa là câu
phủ định bộ phận theo tiêu chí vị trí của từ phủ định trong câu.
c) Phủ định miêu tả và phủ định bác bỏ
Sự ra đời của lý thuyết hành động ngôn từ đã giải quyết được mâu thuẫn trong
hai cách phân loại câu phủ định nêu trên. Căn cứ vào mục đích hay ý nghĩa của sự
phủ định, câu phủ định được chia thành hai loại: câu phủ định miêu tả và câu phủ
định bác bỏ.
Khi tư duy về các sự vật và hiện tượng, người ta xây dựng các phán đoán về các
thuộc tính và mối quan hệ giữa chúng. Nguyễn Đức Dân (1987) đã đưa ra ví dụ như
sau. Quan sát các ngôi nhà trong một khu phố, người ta nói “Ngôi nhà này cao, ngôi
nhà kia thấp”. Các phán đoán này được biểu hiện bằng những câu khẳng định. Thay
cho câu trên, ta có thể nói “Ngôi nhà này cao, ngôi nhà kia không cao”. Thế là để
miêu tả chúng ta có thể dùng một câu khẳng định “ngôi nhà kia thấp” và một câu
phủ định “ngôi nhà kia không cao” để diễn tả cùng một nội dung có ý nghĩa tương
đương. Vì thế, có loại câu dùng để miêu tả gọi là câu phủ định miêu tả. Diệp Quang
Ban đã nêu ra định nghĩa về câu phủ định miêu tả “…phủ định miêu tả được thực
hiện trong quá trình miêu tả, nhìn nhận sự vắng mặt (tính âm) của vật, hiện tượng
hoặc đặc trưng, quan hệ của vật, việc, hiện tượng” [Diệp Quang Ban, Ngữ pháp
tiếng Việt phổ thông, tập 2, 1989, tr. 267]. Bên cạnh đó, cũng có những câu phủ
định không dùng để miêu tả, nó được dùng để đối đáp, bác bỏ ý kiến của những
bằng cách một hay cách hai, ngầm ý của người được đề nghị nhắm đến việc bác bỏ
lời đề nghị.
Hay khi bị phê phán “Cậu lại trốn học rồi”, người ta có thể đáp lời “Nào tớ có
muốn vậy đâu!”. Có thể hiểu câu trả lời này không phủ định thực tế có “”trốn học”
nhưng có phần thanh minh về nguyên nhân dẫn tới việc đã làm cũng nhằm mục đích
bác bỏ lời phê phán đó.
Một ví dụ khác cũng để chứng tỏ rằng ý phủ định bác bỏ được thể hiện qua vô
vàn các hành vi khác nhau như sau: nếu không đồng thuận với nhận định “Bạn Hoa
học giỏi nhất lớp” chúng ta cũng có thể dùng một phán đoán đối lập của nó “Bạn
Lan còn học giỏi hơn”. Hai phán đoán đối lập nhau mang nghĩa phủ định lẫn nhau
nhưng không nhất thiết phải có một câu ở dạng phủ định.
1.2. Ngôn ngữ học đối chiếu
1.2.1. Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu
Ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ học miêu tả và ngôn ngữ học so sánh là ba
phân ngành cơ bản của ngôn ngữ học hiện đại. Căn cứ vào đối tượng, mục đích và
cách thức so sánh, ngôn ngữ học so sánh thường được phân chia thành những ngành
17
sau: ngôn ngữ học so sánh lịch sử, ngôn ngữ học so sánh loại hình hay loại hình học
và ngôn ngữ học đối chiếu.
Theo định nghĩa của tác giả Bùi Mạnh Hùng, ngôn ngữ học đối chiếu là một
phân ngành ngôn ngữ học nghiên cứu so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ bất
kỳ để xác định những điểm giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ đó, không
tính đến vấn đề các ngôn ngữ được so sánh có quan hệ cội nguồn hay thuộc cùng
một loại hình hay không. Việc lựa chọn ngôn ngữ để đối chiếu hoàn toàn phụ thuộc
vào những yêu cầu lý luận và thực tiễn nghiên cứu. Về căn bản ngôn ngữ học đối
chiếu đứng trên quan điểm đồng đại khác với quan điểm lịch đại của ngôn ngữ học
so sánh lịch sử.
Về mặt lý thuyết, căn cứ vào phạm vi đối chiếu người ta phân biệt đối chiếu hệ
thống và đối chiếu bộ phận. Đối chiếu hệ thống là đối chiếu tổng thể hai ngôn ngữ
với nhau. Còn đối chiếu bộ phận là đối chiếu các đơn vị, phạm trù, hiện tượng cụ
thể của hai ngôn ngữ. Tuy nhiên, trên thực tế không có công trình nào có thể đối
chiếu một cách đầy đủ ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác như những tổng thể. Cách
tiếp cận thích hợp nhất là đối chiếu các phương tiện của hai ngôn ngữ trên từng
phạm trù, bình diện riêng biệt, đó chính là phạm vi đối chiếu bộ phận.
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân biệt phạm vi đối chiếu bộ phận. Ví
dụ, tác giả T. Krzeszowski phân biệt 3 lĩnh vực đối chiếu:
- Đối chiếu những hệ thống tương đương trong hai ngôn ngữ như đại từ, quán
từ, động từ, hệ thống nguyên âm, phụ âm…
- Đối chiếu những kết cấu tương đương như kết cấu nghi vấn, kết cấu phủ định,
kết cấu bị động, kết cấu danh ngữ…
- Đối chiếu các quy tắc tương đương như quy tắc bị động, đảo trật tự trong kết
cấu nghi vấn, đồng hóa và dị hóa ngữ âm…
Lê Quang Thiêm (1989) phân biệt phạm vi đối chiếu theo phạm trù, cấu trúc hệ
thống, chức năng và hoạt động, phong cách, lịch sử - phát triển.
Theo Bùi Mạnh Hùng, sự phân biệt các phạm vi đối chiếu cần xác định trên cơ
sở phân biệt các bình diện phân tích ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ
dụng.
1.2.4. Những cách tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ
19
Một công trình nghiên cứu đối chiếu có thể chọn một trong hai cách tiếp cận
chủ yếu sau: đối chiếu hai (hay nhiều) chiều và đối chiếu một chiều.
a) Nghiên cứu đối chiếu hai (hay nhiều) chiều xem xét các hiện tượng được so
sánh của hai hay nhiều ngôn ngữ trong mối quan hệ qua lại trên một cơ sở đối
chiếu, dựa trên một cơ sở so sánh (TC - tertium comparationis) nhất định. Cách này
nội dung lý thuyết cơ bản về vấn đề câu và ngôn ngữ học đối chiếu cũng được trình
bày trong luận văn. Mặc dù có nhiều bình diện nghiên cứu về câu phủ định, trong
phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi chủ yếu đề cập đến các phương tiện thể hiện ý
nghĩa phủ định cấu trúc câu đơn tiếng Nga, tập trung vào việc xác định, miêu tả và
phân tích ý nghĩa cơ bản của chúng trong hai ngôn ngữ.
21