VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ BÊ
ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC
TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9 22 20 24
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. HOÀNG VĂN VÂN
HÀ NỘI – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công
trình nào khác.
Tác giả
Võ Thị Bê
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
4.2. Đối chiếu đặc điểm về Trường trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt .....118
4.3. Đối chiếu đặc điểm về Không khí trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt 128
4.4. Đối chiếu đặc điểm về Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt .131
4.5. Tiểu kết.............................................................................................................145
KẾT LUẬN ............................................................................................................147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN .....................................................................................................151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................152
DANH MỤC QUY ƯỚC VIẾT TẮT
1. VBCNDH
Văn bản chuyên ngành dược học
2. ĐNĐD
Đề ngữ đánh dấu
3. ĐNKĐD
Đề ngữ không đánh dấu
4. ĐNLN
Đề ngữ liên nhân
5. ĐNVB
13. QT: TT
Quá trình tinh thần
14. QT: HH
Quá trình hiện hữu
15. QT: PN
Quá trình phát ngôn
16. QT: HV
Quá trình hành vi
17. HĐ
Hữu định
18. VN
Vị ngữ
19. PNT
Phát ngôn thể
20. NT
Bảng 2.3. Chi tiết về thuật ngữ khoa học trong VBCNDH tiếng Anh......................71
Bảng 2.4. Phương thức sử dụng “tiền tố”, “hậu tố” trong thuật ngữ dược học tiếng
Anh ............................................................................................................................74
Bảng 2.5. Phân tích cấu trúc/dạng trong VBCNDH tiếng Anh ................................76
Bảng 2.6. Phân tích các kiểu Thức trong VBCNDH tiếng Anh ...............................78
Bảng 2.7. Phân tích các kiểu Tình thái trong VBCNDH tiếng Anh .........................79
Bảng 2.8. Phân tích Đề ngữ trong VBCNDH tiếng Anh ..........................................83
Bảng 2.9. Tần số xuất hiện của quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định trong
VBCNDH tiếng Anh .................................................................................................85
Bảng 2.10. Số lượng liên kết logic trong VBCNDH tiếng Anh ...............................89
Bảng 3.1. Số lượng cú và phân bố các kiểu quá trình trong VBCNDH tiếng Việt ..94
Bảng 3.2. Số lượng cú có Chủ ngữ hiển ngôn và cú không có Chủ ngữ hiển ngôn
trong VBCNDH tiếng Việt........................................................................................99
Bảng 3.3. Chi tiết về thuật ngữ khoa học trong VBCNDH tiếng Việt....................102
Bảng 3.4. Phương thức tạo thuật ngữ dược học tiếng Việt trên ngữ liệu vốn có ....103
Bảng 3.5. Phân tích dạng chủ động, bị động trong VBCNDH tiếng Việt ..............105
Bảng 3.6. Phân tích các kiểu Thức trong VBCNDH tiếng Việt .............................106
Bảng 3.7. Phân tích các kiểu Tình thái trong VBCNDH tiếng Việt .......................108
Bảng 3.8. Phân tích Đề ngữ trong VBCNDH tiếng Việt ........................................110
Bảng 3.9. Tần số xuất hiện của quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định ...................113
Bảng 3.10. Số lượng liên kết logic trong VBCNDH tiếng Việt. ............................115
Bảng 4.1. Đối chiếu các kiểu quá trình trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt119
Bảng 4.2. Đối chiếu Tình thái trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt..............130
Bảng 4.3. Đối chiếu Đề ngữ trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt ................132
Bảng 4.4. Các phụ ngữ tình thái có chức năng như Đề ngữ liên nhân trong
VBCNDH tiếng Anh ...............................................................................................134
Bảng 4.5. Các phụ ngữ tình thái có chức năng như Đề ngữ liên nhân trong
VBCNDH tiếng Việt ...............................................................................................136
Y học, các ngành khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng khác [58, tr 3]. Ngành
dược chuyên về bào chế, sản xuất các loại thuốc (hay còn gọi là dược phẩm) cũng
như thực hiện việc khám chữa bệnh, phân phối thuốc và có trách nhiệm đảm bảo an
toàn, hiệu quả của các loại dược phẩm. Vì vậy, khả năng sử dụng tiếng Anh chuyên
ngành thành thạo sẽ giúp những người làm trong ngành Y Dược có thể tiếp cận với
tri thức cũng như với những tiến bộ của ngành một cách nhanh nhất. Tuy nhiên,
thực tế cho thấy việc đào tạo tiếng Anh chuyên ngành (ESP) vốn gặp nhiều khó
khăn và hiệu quả chưa cao [14, tr. 4]. Khái niệm ESP mới được biết đến vào những
năm đầu thập kỉ 1990, nhưng cách hiểu và áp dụng còn quá sơ khai đến mức một số
tài liệu hay giáo trình tiếng Anh chuyên ngành được biên soạn thuần túy là các bài
đọc hiểu và bài tập ngữ pháp, từ vựng liên quan [14, tr. 3]. Bàn về vai trò của tiếng
Anh khoa học, Robert Goldbort [171, tr. 3] đã khẳng định: “Tiếng Anh khoa học có
ý nghĩa vô cùng to lớn trong cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học”. Trên thực
tế, những tài liệu nghiên cứu hay những phát minh, ứng dụng mới về dược học trên
thế giới hầu hết đều được công bố bằng tiếng Anh và không phải tài liệu hay công
trình nghiên cứu nào cũng được dịch sang tiếng Việt.
Trước tình hình đa phần giáo viên dạy tiếng không được đào tạo về chuyên
ngành, hoặc nếu tự học thì nói chung cũng không đủ kiến thức chuyên ngành để
đảm bảo truyền đạt chính xác trong mọi trường hợp [12], [13]. Hơn nữa, xét từ quan
điểm giảng dạy và học tập tiếng Anh chuyên ngành, các giáo trình và tạp chí chuyên
ngành dược học chưa được tìm hiểu một cách toàn diện cũng như nghiên cứu đối
chiếu tiếng Anh với tiếng Việt từ trước tới nay. Đồng thời thực tế cũng chỉ ra trình
độ tiếng Anh của nhiều sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành dược
vẫn chưa thể đọc hiểu được những tài liệu chuyên ngành dược học bằng tiếng Anh.
Trong khi nhu cầu tìm hiểu những phát triển mới về dược học như là một chuyên
ngành khoa học ngày càng cao cũng như trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng
1
ngành sử dụng để kiến tạo VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt và
chúng được sử dụng như thế nào?
(ii)
Các VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng và
khác biệt nào liên quan đến những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội đó?
2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã đề ra ở trên, luận án đề xuất một số nhiệm vụ nghiên
cứu dưới đây:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ chuyên ngành, ngôn ngữ trong
văn bản chuyên ngành y dược tiếng Anh và tiếng Việt trên thế giới và ở Việt Nam.
- Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản về cơ sở lý thuyết của Ngôn ngữ học chức
năng hệ thống về phương diện ngữ vực để xây dựng khung lí thuyết cho luận án.
- Sử dụng khung lí thuyết đã được thiết lập để mô tả, phân tích các đặc điểm ngôn
ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt trên quan điểm của Ngôn ngữ học chức
năng hệ thống về phương diện Trường, Không khí và Cách thức.
- Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt theo
các phương diện đã nêu, từ đó thiết lập những nét tương đồng và khác biệt trong hai
ngôn ngữ.
- Kết luận chung về những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội về ngữ nghĩa, ngữ pháp
– từ vựng trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án sẽ tập trung vào việc nghiên cứu các đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp –
từ vựng và liên kết trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt. Khung lý thuyết mà
nghiên cứu dựa vào là ngôn ngữ học chức năng hệ thống (viết tắt là SFL) [113],
cứu cũng như sản xuất, kinh doanh và lưu thông phân phối thuốc. Ngoài ra, tạp chí
còn là nơi công bố các công trình nghiên cứu khoa học và làm cầu nối chuyển giao
công nghệ; Thứ hai, Tạp chí nghiên cứu Dược học Anh là tạp chí được các độc giả
trong giới đánh giá là tạp chí khoa học cống hiến cho công chúng những bài báo
chất lượng cao trong mọi lĩnh vực khoa học dược học bao gồm thuốc dược phẩm,
dược bệnh viện, dược hạt nhân, dược quân y, dược chẩn đoán, dược điều trị, dược
động học, dược lâm sàng, dược tâm lý, phát triển thuốc cũng như an toàn trong thử
nghiệm thuốc v.v. ( />4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp miêu tả
và phương pháp so sánh-đối chiếu.
Phương pháp miêu tả giúp luận án phác họa một bức tranh toàn cảnh về diễn
ngôn dược học tiếng Anh và tiếng Việt nói chung hiện đang được sử dụng tại Việt
Nam. Đồng thời cũng giúp luận án miêu tả đặc điểm ngôn ngữ của văn bản dược
4
học. Trên cơ sở miêu tả, luận án sẽ đưa ra các mô hình cấu trúc sử dụng ngôn ngữ
dược học trong tiếng Anh và tiếng Việt.
Luận án sử dụng phương pháp miêu tả vì trong so sánh đặc điểm ngôn ngữ
chuyên ngành dược học tiếng Anh và tiếng Việt, luận án cần thiết phải đưa ra một
khuôn khổ lý thuyết chung để mô tả một cách có hiệu quả.
Phương pháp so sánh - đối chiếu được sử dụng để đối sánh các đặc điểm ngôn
ngữ nổi trội của VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt, nhằm tìm ra những điểm tương
đồng và khác biệt trong hai văn bản, trong đó tiếng Anh là ngôn ngữ nguồn và tiếng
Việt là ngôn ngữ đối chiếu.
Khung lý thuyết chủ yếu dựa trên nghiên cứu của Bùi Mạnh Hùng [29] và có
kết hợp một số nghiên cứu khác.
Ngoài ra, luận án cũng sử dụng một số thủ pháp khác như phân tích và thống
thập khối liệu phù hợp. Dựa vào các tiêu chí ở trên, luận án chọn ra được 25 bài báo
tiếng Anh và 25 bài báo tiếng Việt được viết bởi các tác giả khác nhau. Đồng thời
nội dung của các bài báo đã chọn là những nghiên cứu mang tính thời sự và không
trùng lặp nhau. Phần khối liệu tiếng Anh được gán ký hiệu từ E01 đến E25, phần
khối liệu tiếng Việt mang ký hiệu từ V01 đến V25 (chi tiết xin xem phần khối liệu).
4.2.3. Bối cảnh thu thập khối liệu
Như đã đề cập trong Mục 5.2, khối liệu được lựa chọn làm đối tượng để khảo
sát là 25 bài báo tiếng Anh và 25 bài báo tiếng Việt. Tuy nhiên, nếu xét đối với mỗi
bài báo tiếng Anh thì có độ dài trung bình từ 8 trang đến 20 trang, bao gồm cả các
bảng biểu và sơ đồ (chi tiết xin xem phần phụ lục). Mỗi bài báo chuyên ngành dược
học tiếng Anh bao gồm 3 phần cơ bản: (i) phần mở đầu (gồm phần tóm tắt - abstract
và phần giới thiệu - introduction); (ii) phần thân bài và (iii) phần kết luận. Các bài
báo luận án nghiên cứu là những báo cáo thể hiện kết quả của một thí nghiệm. Theo
quan điểm của Bhatia [71], thể loại chính trong các bài báo luận án nghiên cứu được
viết bằng “ngôn ngữ khoa học” và thuộc thể loại ‘báo cáo’. Các báo cáo này thể
hiện kết quả của một thí nghiệm hay những cuộc điều tra, khảo sát về lĩnh vực dược
học. Chúng cung cấp một nguồn đáng giá về các công trình nghiên cứu khoa học
ngành dược ở Việt Nam và trên thế giới. Xét về cách thức tổ chức, mỗi bài báo
tiếng Anh trong luận án nghiên cứu được cấu trúc chi tiết như sau.
(i)
Phần mở đầu: gồm phần tóm tắt - abstract và phần giới thiệu –
introduction. Phần tóm tắt là phần có chức năng là một diễn ngôn độc
lập. Phần này có chức năng cung cấp những vấn đề cụ thể và chính xác
nội dung của toàn văn bài báo. Phần giới thiệu là một diễn ngôn khác
dài hơn và có chứa trung bình khoảng 24 cú/1 bài báo.
(iii)
Phần thân bài: hầu hết phần thân bài báo đều bao gồm ba phần cơ
Phần mở đầu: gồm phần tóm tắt và phần đặt vấn đề. Phần tóm tắt
cũng là một diễn ngôn độc lập. Phần này cung cấp cụ thể nội dung của
toàn văn bài báo. Phần đặt vấn đề là một diễn ngôn khác dài hơn và có
trung bình là 9 cú/1 bài báo.
(ii)
Phần thân bài: gồm ba phần cơ bản: (1) Tư liệu và phương pháp
nghiên cứu; (2) Kết quả nghiên cứu và (3) Bàn luận. Xét phần tư liệu
và phương pháp nghiên cứu, nhìn chung các bài báo đều trình bày về
tư liệu và hóa chất; thiết bị máy móc; phương pháp nghiên cứu, xử lý
số liệu v.v. Phần kết quả của các bài báo bao gồm nhiều bảng và biểu
đồ minh họa. Phần bàn luận là phần rất dài, độ dài của phần này thay
đổi ở các bài báo. Ở phần này, là nội dung phân tích và thảo luận
những kết quả thu được từ nghiên cứu. Xét phần kết luận, đây là phần
7
tóm tắt lại kết quả nghiên cứu đạt được với ý nghĩa của nghiên cứu.
Bên cạnh đó, phần kết luận còn đưa ra những gợi ý cho nghiên cứu
tiếp theo.
(iii)
Phần kết luận: bao gồm hai phần nhỏ hơn là kết luận và tài liệu tham
khảo. Phần kết luận tóm tắt lại kết quả nghiên cứu đạt được với ý
nghĩa của nghiên cứu. Bên cạnh đó, phần kết luận còn đưa ra những
gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo. Phần tài liệu tham khảo phụ thuộc vào
lượng tham khảo của các nhà dược học tiếng Việt.
8
(iii)
Phân tích mật độ thuật ngữ khoa học trong vai trò làm Tham thể làm
chủ ngữ được sử dụng trong phần mở đầu, phần thân bài, phần kết
luận và trong khối liệu;
(iv)
Phân tích dạng chủ động và bị động được sử dụng trong phần mở đầu,
phần thân bài, phần kết luận và trong khối liệu;
(v)
Phân tích số lượng và tỷ lệ các kiểu thức được sử dụng trong phần mở
đầu, phần thân bài, phần kết luận và trong khối liệu;
(vi)
Phân tích số lượng và tỷ lệ các kiểu tình thái (modality) được sử dụng
trong phần mở đầu, phần thân bài, phần kết luận và trong toàn khối liệu;
(vii)
Phân tích số lượng và tỷ lệ các kiểu Đề ngữ được sử dụng trong phần
mở đầu, phần thân bài, phần kết luận và trong toàn khối liệu;
(viii) Phân tích số lượng và tần số xuất hiện của quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ
Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đóng góp vào việc nâng cao kỹ năng viết
các ngôn bản khoa học liên quan đến chuyên ngành dược học, khả năng đọc hiểu
nội dung các ngôn bản này trong hai ngôn ngữ nhanh hơn và thấu đáo hơn, và dịch
các văn bản thuộc chuyên ngành dược học từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
một cách hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được áp dụng để giảng dạy tiếng
Anh chuyên ngành trong các trường cao đẳng và đại học dược ở Việt Nam hiện nay.
7. Cấu trúc cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo và phụ lục kèm theo, luận
án gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí thuyết. Trong chương này,
luận án tổng quan về tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành nói chung cũng
như tiếng Anh chuyên ngành y dược nói riêng và Ngôn ngữ học chức năng hệ thống
trên thế giới và ở Việt Nam. Ngoài ra, luận án cũng trình bày lý thuyết về phân tích
diễn ngôn, lý thuyết liên quan đến VBCNDH, lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ
thống. Cụ thể, là lý thuyết liên quan đến các đặc điểm về Trường, Không khí và
Cách thức thông qua các phương diện biểu đạt nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân
và nghĩa văn bản. Bên cạnh đó, luận án cũng trình bày về lý thuyết ngôn ngữ so
sánh đối chiếu nhằm tạo cơ sở cho việc đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ trong hai văn
bản được thuyết phục hơn.
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng
Anh. Chương này luận án tập trung phân tích, miêu tả các đặc trưng về Trường,
Không khí và Cách thức dựa trên cơ sở lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống
của Halliday về ngữ vực. Cụ thể, luận án đi sâu phân tích, miêu tả hệ thống chuyển tác
và dạng, các Tham thể làm chủ ngữ và các thuật ngữ trong vai trò Tham thể làm chủ
10
ngữ để làm rõ đặc trưng về Trường. Đặc trưng về Không khí được luận án tập trung
khác [136], [137], [138], [139], [166]; (ii) Nghiên cứu của Dudley-Evans; (iii)
Nghiên cứu của Halliday và một số nhà nghiên cứu khác.
Theo hai nhà ngoại ngữ chuyên ngành nổi tiếng Hutchinson & Waters [139],
tiếng Anh chuyên ngành được phát triển từ thời gian đầu của những năm 1960.
Đồng thời nó cũng là kết quả của sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới trong những
năm 1950 và 1960. Cụ thể là sự phát triển của khoa học và công nghệ, sử dụng tiếng
Anh tăng nhanh như ngôn ngữ khoa học quốc tế, công nghệ và kinh doanh, quyền
lực kinh tế ngày càng tăng đối với những quốc gia có mỏ dầu và sự gia tăng của
lượng sinh viên quốc tế tham gia học tập ở Anh, Mỹ và Úc. Nghiên cứu của hai tác
giả cũng chỉ ra tiếng Anh chuyên ngành được phát triển qua ba giai đoạn và được
phát triển với tốc độ khác nhau ở những quốc gia khác khau. Hutchinson & Waters
(Ibid.) quan niệm: “Tiếng Anh chuyên ngành là một đường hướng, không phải là
một thành phẩm” (English for specific purpose must be seen as an approach not as
a product). Theo quan niệm này, Hutchinson & Waterscho rằng tiếng Anh chuyên
ngành không phải là một thể loại ngôn ngữ đặc biệt, cần đến phương pháp tài liệu
giảng dạy đặc biệt, nằm ngoài ngôn ngữ. Hoặc McDonough’s [166] đã cho rằng:
12
“Tiếng Anh chuyên ngành mô tả các chương trình ngôn ngữ thiết kế cho các nhóm
hoặc cá nhân, những người đang học tập và có những mục đích và nhu cầu cụ thể,
rõ ràng”. Ngoài ra, Hutchinson & Waters [139], Robinson [172], Dudley-Evans
[92] cho rằng tiếng Anh chuyên ngành về cơ bản là phục vụ mục đích, nhu cầu rõ
ràng, cụ thể của người học. Khi nghiên cứu về đặc điểm của tiếng Anh chuyên
ngành, Hutchinson & Waters [139] cũng khẳng định được kết quả của Swales [178]
cho rằng trong thực tế tiếng Anh khoa học và công nghệ chính là sự minh họa cho
sự phát triển của tiếng Anh chuyên ngành. Khi nghiên cứu về kết quả của Ewer &
Latorre [94], ông cũng hé lộ rằng có một chút khác biệt trong cấu trúc ngữ pháp
trong tiếng Anh khoa học với tiếng Anh thông thường như sự khác nhau về sử dụng
cứu gần đây của Tony Dudley-Evans cũng đã nhận định trên quan điểm của Swales
[179] nhìn các văn bản khoa học từ góc độ thể loại thì việc sử dụng của thì hiện tại
hoàn thành trong tiếng Anh có lẽ cũng rất quan trọng trong các bài báo hàn lâm
khoa học. Việc sử dụng thì của động từ trong các bài báo hàn lâm khoa học được
Tony Dudley-Evans thể hiện như sau:
Thì hiện tại đơn (dạng chủ động và bị động), hiện tại hoàn thành thường
được sử dụng trong phần dẫn luận. Tuy nhiên, dạng bị động chỉ được sử dụng để
mô tả các phương pháp nghiên cứu. Phần thảo luận hay phần kết luận trong các bài
báo hàn lâm khoa học thường hay sử dụng thì quá khứ. Trong khi đó, thì hiện tại
thường hay được sử dụng trong các phần bình luận hay chú giải trong các bài báo
hàn lâm.
Ở dạng bị động của tiếng Anh chuyên ngành, Tony Dudley-Evans [92] cũng
chỉ ra kết quả của Wingard [189] cho rằng trong các văn bản y học, có tới 60%
động từ được sử dụng ở dạng chủ động và gần 40% được sử dụng ở dạng bị động.
Xu hướng sử dụng dạng chủ động để mô tả sự lựa chọn các thủ tục; tuy nhiên dạng
bị động được sử dụng khi các tiến trình thủ tục được miêu tả. Ngoài ra nghiên cứu
còn chỉ ra rằng kết quả nghiên cứu của Tarone và cộng sự, họ cho rằng xu hướng sử
dụng dạng chủ động đối với những nghiên cứu của bản thân người nghiên cứu,
nhưng dạng bị động được sử dụng để đề cập đến những nghiên cứu trước đó [182].
Với động từ tình thái trong tiếng Anh chuyên ngành, nghiên cứu của Tony
Dudley-Evans về tiếng Anh chuyên ngành cũng chỉ ra động từ tình thái đặc biệt là
may, might, could, would dùng để chỉ mức độ chắc chắn của một tuyên bố hay một
yêu cầu trong văn bản khoa học [92]. Nếu tuyên bố đưa ra sự tương phản trong kết
quả, may được sử dụng để nói đến những vấn đề không chắc chắn và những tuyên
bố cảnh báo. Tuy nhiên, nếu tuyên bố đưa ra sự tương phản trong kết quả, could
được sử dụng để nói những vấn đề không chắc chắn, thậm chí là những tuyên bố
cao hơn mức độ cảnh báo.
14
tiếng Anh, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Anh Michael Halliday đã chỉ ra thuật
ngữ “ngôn ngữ khoa học” là tên gọi cho một biến thể chức năng hay một kiểu ngữ
15
vực được khái quát hóa trong một ngôn ngữ cụ thể. Sự đa dạng về loại hình văn bản
có thể được mô tả theo ba thông số của ngôn cảnh tình huống: Trường, Không khí,
và Cách thức. Về đặc điểm Trường, các văn bản khoa học mở rộng, truyền bá hay
khám phá kiến thức về các ngành khoa học tự nhiên như toán, lý, hóa, sinh, các
ngành khoa học xã hội và nhân văn như kinh tế, tài chính, văn học, giáo dục v.v. Về
đặc điểm Không khí, chúng được nói và viết ra để các nhà chuyên môn, học sinh và
sinh viên, hoặc thậm chí cả những người bình thường nghe/đọc dưới các hình thức.
Về đặc điểm Cách thức, chúng có thể là các kênh âm thanh hay văn tự. Ngôn ngữ
khoa học có sự đa dạng về chức năng hùng biện - phân tích, giải thích, tranh luận,
tổng hợp, tưởng tượng v.v. Tuy nhiên, Halliday đã khẳng định sự khác nhau về
không gian và thời gian hoàn toàn không đủ để phân biệt các văn bản khoa học với
các ngữ vực khác. Theo Halliday [109], ngữ vực là một tập hợp các đặc điểm có
liên quan xuất hiện cùng nhau trong những xác suất không giới hạn. Bởi vậy,
nghiên cứu bản chất của ngôn ngữ khoa học trong Writing Science: Literacy and
Discursive Power của Halliday & Martin [112, tr. 71-85] đã chỉ ra bảy điểm cơ bản
có thể được sử dụng để minh họa cho các đặc điểm cơ bản của tiếng Anh khoa học
như sau: (i) Các khái niệm đan xen nhau; (ii) Tính kỹ thuật; (iii) Cách diễn đạt đặc
biệt; (iv) Mật độ từ vựng cao; (v) Sự tối nghĩa về mặt cú pháp; (vi) Ẩn dụ ngữ pháp;
và (vii) Có tính không liên tục về ngữ nghĩa học.
Trong nghiên cứu trên, Halliday đã khẳng định, hầu hết các đặc điểm được
minh họa ở trên trong văn bản khoa học xảy ra độc lập với nhau. Tuy nhiên, chúng có
quan hệ chặt chẽ với nhau, có xu hướng kết hợp với nhau tạo nên đặc điểm của diễn
ngôn khoa học. Và ông cũng nhấn mạnh rằng việc học một ngành khoa học cũng chính
là học ngôn ngữ khoa học. Ông cũng phân biệt, trong diễn ngôn hành chính những đặc
khu vực, lịch sử nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam vẫn còn rất
khiêm tốn. Ở Việt Nam, tiếng Anh chuyên ngành chỉ bắt đầu được quan tâm từ đầu
những năm 1980. Đặc biệt là từ khi Mĩ dỡ bỏ lệnh cấm vận chống lại Việt Nam vào
năm 1993, vấn đề dạy ngữ vực nào của một ngoại ngữ ở các trường đại học Việt
Nam mới thu hút sự chú ý của các nhà giáo học pháp, các nhà thiết kế chương trình
và biên soạn chương trình. Chính vì vậy, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ
chuyên ngành đưa ra các khái niệm khác nhau về tiếng Anh chuyên ngành. Phan
Văn Hòa [27] quan niệm tiếng Anh chuyên ngành là tiếng Anh vì/theo những mục
đích cụ thể. Thái Duy Bảo [6] thì cho rằng tiếng Anh chuyên ngành là tiếng Anh
chuyên biệt. Trần Quang Hải [17] thì chỉ ra rằng các thuật ngữ tiếng Anh chuyên
ngành, tiếng Anh không chuyên, hay tiếng Anh chuyên biệt đều dịch từ thuật ngữ
ESP (English for specific purpose). Tuy nhiên, Lâm Quang Đông đã nhận định, về
cơ bản ESP được gọi chung là tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam [14, tr. 3].
17