KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SWAT DỰ ĐOÁN TÁC ĐỘNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CHẾ ĐỘ DÒNG CHẢY
THƯỢNG NGUỒN LƯU VỰC SÔNG MÔ
1
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AR4
:
Báo cáo đánh giá lần thứ 4
ASEAN
:
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BĐKH
:
Biến đổi khí hậu
:
:
:
:
:
:
:
:
Metan
Cacbon dioxit
Chlorofluorocarbon
Đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Hồng
Bản đồ số hóa độ cao
Food and Agriculture Organization of the United Nations
Hidrocloflocacbon
Hệ sinh thái
Đơn vị đồng nhất về tác động thủy văn
Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu
Liên hiệp quốc
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nitodioxit
Phương pháp tính dòng chảy tràn bề mặt
Soil and Water Assessment Tools
Tài nguyên và môi trường
Chương trình môi trường Liên hợp quốc
2
Bảng 3.7
Các tệp tin đầu ra của mô hình SWAT......................................
Bảng 3.8
Các thông số phân tích độ nhạy đối với chế độ dòng chảy
....................................................................................................
Bảng 3.9
Giá trị các thông số được hiệu chỉnh trong mô hình SWAT
....................................................................................................
Bảng 3.10
Giá trị các hệ số đánh giá trong giai đoạn hiệu chỉnh và
kiểm chứng.................................................................................
Bảng 3.11
Các kịch bản được sử dụng trong nghiên cứu............................
Bảng 3.12
Mức thay đổi (oC) nhiệt độ trung bình các tháng so với
thời kỳ 1980 – 1999 theo kịch bản phát thải trung bình
(B2) tại tỉnh Sơn La...................................................................
Hình 3.2
Bản đồ DEM của thượng nguồn lưu vực sông Mã....................
Hình 3.3
Bản đồ sử dụng đất vùng thượng nguồn lưu vực sông Mã
năm 2015....................................................................................
Hình 3.4
Bản đồ thổ nhưỡng vùng thượng nguồn lưu vực sông Mã
....................................................................................................
Hình 3.5
Dữ liệu về lượng mưa và lưu lượng dòng chảy theo tháng
(giai đoạn 1994 – 2015) của thượng nguồn lưu vực sông
Mã tại trạm thủy văn Xã Là.......................................................
Hình 3.6
Sơ đồ các bước áp dụng SWAT trong nghiên cứu.....................
Hình 3.7
Quá trình phân định lưu vực trong mô hình SWAT..................
Hình 3.8
Hình 3.15
So sánh giá trị lưu lượng dòng chảy mô phỏng và quan trắc
tại điểm đầu ra của lưu vực (đơn vị: m3/s).................................
5
5
Hình 3.16
Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa các tháng theo kịch bản
gốc (1995 – 2001)......................................................................
Hình 3.17
Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa các tháng theo kịch bản
S2 của tỉnh Sơn La (2002 - 2015)..............................................
Hình 3.18
Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa các tháng theo kịch bản
B2 của tỉnh Sơn La (2016 - 2050)..............................................
Hình 3.19
Mức thay đổi về lượng mưa so với kịch bản gốc.......................
khu vực (Lê Anh Tuấn, 2011). Chính vì vậy, việc dự báo những tác động của
biến đổi khí hậu đến nguồn tài nguyên nước luôn chiếm vị trí quan trọng
trong những nỗ lực để ban hành các giải pháp thích ứng tại từng địa phương.
Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của khoa học viễn thám
và hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã giúp cho mô hình hóa mô phỏng trở
thành công cụ đắc lực nhất trong việc dự báo các tác động đến tài nguyên
nước trên quy mô lưu vực. Có thể kể đến một số mô hình như: MIKE 11,
HEC – RAS, HEC – HMS, SWAT,… (A. H. Kamel, 2008; Nguyễn Đính,
Nguyễn Hoàng Sơn, Lê Đình Thành, 2013; Lê Mạnh Hùng, 2012). Trong đó
SWAT (Soil and Water Assessment Tools) là mô hình được áp dụng rộng rãi
kể từ năm 2000 đến nay bởi nhiều ưu điểm như tiết kiệm thời gian, công sức,
tài chính và quan trọng hơn cả là có độ chính xác cao. Được xây dựng trên cơ
sở bề mặt vật lý và sự kết hợp với các phương trình hồi quy mô tả mối quan
hệ giữa những biến đầu vào và đầu ra dựa trên các thông tin về thời tiết, thuộc
tính của đất, tài liệu địa hình, thảm phủ và việc sử dụng đất, SWAT được ứng
dụng để dự báo sự bồi lắng, ảnh hưởng của việc quản lý sử dụng đất và lượng
hóa chất tồn dư trong nông nghiệp đến nguồn nước trên quy mô lưu vực.
Hiện nay, do khả năng tiếp cận nguồn dữ liệu còn hạn chế nên những nghiên
cứu ứng dụng mô hình SWAT ở Việt Nam còn rất ít, vì vậy tôi quyết định
7
7
thực hiện đề tài “Ứng dụng mô hình SWAT dự đoán tác động của biến đổi
khí hậu đến chế độ dòng chảy thượng nguồn lưu vực sông Mã” nhằm khảo
sát, dự đoán tác động của biến đổi khí hậu tới những thành phần của dòng
chảy và cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà quản lý lưu vực cũng
như các nghiên cứu thủy văn tiếp theo tại lưu vực sông Mã.
chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kỳ từ quá khứ
đến hiện nay (Trần Thanh Xuân & nnk, 2011).
Nguyên nhân do con người
Trong báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPPC (AR4) về BĐKH năm 2007 đã
chỉ ra rằng con người là nguyên nhân chính gây ra BĐKH, quá trình biến đổi
này bắt đầu từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã
sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa
thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các
chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái
đất. Có thể kể đến 4 loại khí có tác động mạnh mẽ nhất đến sự BĐKH là:
cacbondioxit (CO2), metan (CH4), nitodioxit (N2O) và Chlorofluorocarbon
(CFC).
CO2 là khí nhà kính có tác động lớn nhất đến quá trình BĐKH. Những số liệu
9
9
về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được
khoan ở Greenland và Nam Cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tan
băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ
khoảng 180 – 200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời
kỳ tiền công nghiệp (280ppm). Từ khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO 2 bắt
đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng
khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO 2 tự nhiên
trong khoảng 650 nghìn năm qua (IPCC AR4, 2007).
IPCC cho biết, lượng phát thải khí CO2 là có sự chênh lệch đáng kể giữa các
nước giàu và những nước đang phát triển. Từ năm 1840 – 2004, tổng lượng
phát thải khí CO2 của các nước giàu chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí
AR4 của IPPC (2007) đã đưa ra các số liệu về nhiệt độ trung bình của không
khí, băng tan và mực nước biển để chứng minh cho sự nóng lên của khí quyển
và trái đất.
Nhiệt độ
Trong vòng 100 năm (1906 – 2005), nhiệt độ trái đất đã tăng lên 0,74 oC, tăng
nhanh hơn bất kỳ thế kỷ nào trong lịch sử, kể từ thế kỷ 11 đến nay. Vào 5
thập kỷ gần đây (1956 – 2005), mức nhiệt độ đã tăng 0,64 ± 0,13 oC, gấp đôi
thế kỷ 20. Giai đoạn 12 năm sau đó (1995 – 2006) có tới 11 năm được xếp
vào danh sách 12 năm nhiệt độ cao nhất trong lịch sử quan trắc nhiệt độ kể từ
năm 1850, trong đó có 2 năm nóng nhất là 1998 và 2005. Đáng lưu ý là mức
tăng nhiệt độ Bắc Cực gấp đôi mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu, khiến
cho diện tích băng che phủ ở Bắc bán cầu giảm đi 7% so với năm 1900 và
nhiệt độ của khối băng vĩnh cửu cũng đã tăng lên 3 oC so với năm 1982. Các
quan trắc từ năm 1978 đến nay cũng cho kết quả đáng báo động là lượng băng
trung bình hàng năm ở Bắc Băng Dương giảm đi 2,7% mỗi thập kỷ.
Lượng mưa
Lượng mưa có xu thế biến đổi rất khác nhau giữa các khu vực và tiểu lưu vực
trên từng khu vực và giữa các giai đoạn khác nhau trên từng tiểu lưu vực
trong thời kỳ 1901 – 2005. Chẳng hạn như ở châu Mỹ, lượng mưa tăng lên
11
11
nhiều nơi ở Bắc Mỹ, nhất là ở Bắc Canada nhưng lại giảm đi ở Tây Nam
nước Mỹ, Đông Bắc Mexico và bán đảo Bafa với tốc độ giảm chừng 2% mỗi
thập kỷ, gây hạn hán trong nhiều năm qua. Tương tự, ở Nam Mỹ, lượng mưa
tăng lên trên lưu vực Amazon và vùng bờ biển Đông Nam nhưng giảm ở
Chile và vùng bờ biển phía Tây. Các khu vực nhiệt đới như Nam Á và Tây
Phi có lượng mưa giảm rõ rệt với trị số là 7,5% trong thời kỳ 1901 – 2005.
BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến thảm thực vật và HST rừng. Nước biển
dâng làm thu hẹp 25.000 ha diện tích rừng ngập mặn có tác động xấu đến
13.000 ha rừng tràm và rừng trồng trên các đất bị nhiễm phèn. Do BĐKH,
phân bố ranh giới các kiểu rừng nguyên sinh, thứ sinh có thể dịch chuyển và
tăng nguy cơ diệt chủng của động thực vật, làm biến mất các nguồn gen quý
hiếm, tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, phá hoại cây rừng. Theo
báo cáo của IPCC năm 2007, khoảng 20 – 30% các loài động thực vật được
đánh giá là có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ trung bình toàn cầu vượt quá
1,5 – 2,5oC.
Tác động đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội
BĐKH có tác động trực tiếp đến sản xuất lương thực, lâm nghiệp, các hoạt
động văn hóa, thể thao, du lịch, thương mại và dịch vụ, có ảnh hưởng gián
tiếp thông qua các tác động tiêu cực đến các lĩnh vực khác như giao thông vận
tải, xây dựng, nông nghiệp, sức khỏe cộng đồng,….
Sản xuất lương thực
Nhiệt độ tăng nhẹ từ 1 – 3 oC, năng suất một số cây lương thực trên các vĩ độ
cao và vĩ độ trung bình sẽ tăng nhẹ, tùy thuộc vào mùa vụ. Ngược lại, ở
những khu vực có vĩ độ thấp, đặc biệt các khu vực nhiệt đới gió mùa với nhiệt
độ tăng 1 – 2oC sẽ làm gia tăng tình trạng hạn hán, năng suất lương thực dự
kiến giảm đi có thể dẫn tới thiếu lương thực, tăng nguy cơ bị đói (IPCC,
2007).
Đới bờ biển
Hàng năm, hàng triệu dân chịu ngập lụt hàng năm do nước biển dâng, nhất là
những vùng thấp đông dân trên các châu thổ của Châu Á, Châu Phi và các
13
13
đảo nhỏ (IPCC, 2007).
14
14
trước đó (1931 – 1960). Nhiệt độ mùa đông tăng với tốc độ phổ biến 0,1 –
0,4oC mỗi thập kỷ, tương đối cao ở vùng khí hậu phía Bắc, cao nhất ở Tây
Bắc và tương đối thấp ở các vùng khí hậu phía Nam, thấp nhất ở Nam Bộ.
Mùa xuân có tốc độ tăng nhiệt độ phổ biến là 0,04 – 0,17 oC mỗi thập kỷ, mùa
hè là 0,1 – 0,18 oC, mùa thu là 0,1 – 0,15oC.
Lượng mưa
Lượng mưa trung bình năm trong 9 thập kỷ qua (1911 – 2000) có xu thế biến
đổi không rõ rệt theo các thời kỳ và các khu vực khác nhau: có giai đoạn
tăng lên và có giai đoạn giảm xuống. Lượng mưa năm giảm ở các vùng
khí hậu phía Bắc và giảm ở các vùng khí hậu phía Nam. Trong 50 năm
qua (1958 – 2007), lượng mưa trung bình trong cả nước đã giảm khoảng
2% (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ
TNMT, 2008).
Không khí lạnh
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập
kỷ qua. Các biểu hiện dị thường thường xuyên xuất hiện, ví dụ như đợt không
khí lạnh gây rét đậm rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 ở Bắc
Bộ làm cho một số trẻ nhỏ và, cụ già tử vong, ngành nông nghiệp thiệt hại
nặng nề tới 400 tỷ đồng (Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến
đổi khí hậu, Bộ TNMT, 2008). Gần đây nhất, đợt rét đậm, rét hại từ ngày 23
đến ngày 28/01/2016, tuy thời gian không kéo dài nhưng có cường độ rất
mạnh, nhiệt độ thấp nhất lịch sử ở nhiều nơi đã ghi nhận; đợt rét này gây ra
băng giá trên diện rộng ở các tỉnh Bắc Bộ, nhiều nơi ở độ cao trên 800m so
với mực nước biển đã xuất hiện mưa tuyết.
Bão
khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau, trên 100 loài được
đưa vào Sách Đỏ Việt Nam.
Tác động tiềm tàng của BĐKH lên rừng ngập mặn ở Việt Nam có thể gồm:
nhiệt độ tăng sẽ làm rừng ngập mặn chuyển dịch lên phía bắc; khả năng tốt
lên khi lượng mưa tăng và nếu cường độ bão tăng lên sẽ làm rừng ngập mặn
bị hủy hoại. Các hoạt động: phát triển nuôi trồng thủy sản, chuyển đổi sử
dụng đất (làm muối, trồng cói, cấy lúa), khai thác quá mức (gỗ, củi) và ô
nhiễm nước cũng làm gia tăng tác động của BĐKH đến rừng ngập mặn. Nước
biển dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước ven biển, diện tích rừng ngập
16
16
mặn có nguy cơ bị thu hẹp; nghiêm trọng nhất là khu vực rừng ngập mặn dễ
bị tổn thương ở Cà Mau, TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam Định. Trong
vòng hơn 60 năm qua, tốc độ mất rừng ngập mặn ở Việt Nam là rất cao, từ
408.500 ha (1943) còn 209.740 ha (2008), đã giảm mất 198.759 ha (48,5%),
trung bình mỗi năm giảm 3.200 ha, riêng giai đoạn 1985 – 2000 giảm khoảng
15.000 ha/năm. Diện tích rừng ngập mặn suy giảm sẽ dẫn tới nhiều tác động
như: giảm sự đa dạng và phong phú của các loài chim, tôm và cá; ảnh hưởng
tới sinh kế người dân do suy giảm sản lượng thủy hải sản đánh bắt và nuôi
trồng; giảm khả năng chắn sóng, bão và khả năng lọc, giữ độc tố dẫn đến ô
nhiễm môi trường (Mai Trọng Nhuận, 2015).
Ngoài ra, BĐKH có thể gây ra một trong những đe dọa lớn nhất đối với HST
rừng đó là cháy rừng, đặc biệt là ở vùng cao nguyên miền trung và Đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL). BĐKH làm tăng nguy cơ cháy rừng khắp cả nước.
Trong đó, các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên có hiểm họa cháy rừng rất cao,
các tỉnh miền Bắc có nguy cơ cháy rừng cao làm tăng tính dễ tổn thương của
9%, nhưng trên hệ thống sông Đồng Nai, dòng chảy mùa lũ giảm từ 4 – 7%.
Đối với sông Mê Công, so với thời kỳ 1985 – 2000, dòng chảy mùa lũ (tại
Kratie) trung bình thời kỳ 2010 – 2050 chỉ tăng khoảng 5 – 10%, dòng chảy
mùa cạn (trạm Tân Châu) trung bình thời kỳ 2010 – 2050 có thể hiện xu thế
tăng khoảng 10% (Trần Thục & Hoàng Minh Tuyền, 2011). Dựa vào những
số liệu này cùng với kịch bản BĐKH cho Việt Nam có thể nhận định rằng
tình hình hạn hán do thiếu hụt nguồn nước trong tương lai sẽ gia tăng ở các
lưu vực sông ở Việt Nam (Nguyễn Văn Thắng, 2010).
Theo Thông báo Quốc gia lần thứ 2 của Việt Nam cho Công ước khung của
Liên Hợp Quốc về BĐKH thì BĐKH có thể gây suy giảm đáng kể mực nước
ngầm, đặc biệt là giai đoạn sau 2020 do áp lực của hoạt động khai thác phục
vụ sản xuất và suy giảm lượng nước bổ sung cho nước ngầm trong mùa khô.
Tại vùng đồng bằng Nam Bộ, nếu lượng dòng chảy mùa khô giảm khoảng 15
– 20% thì mực nước ngầm có thể hạ thấp khoảng 11m so với hiện tại. Vào
mùa cạn, mực nước ngầm bị suy giảm do ít được bổ sung từ mưa kết hợp với
nước biển dâng dẫn đến nước ngầm tại các vùng đồng bằng ven biển bị xâm
nhập mặn, làm giảm lượng nước nhạt có thể khai thác, sử dụng (Trần Thanh
18
18
Xuân & nnk, 2011).
Tác động đến sản xuất lương thực
Giữa năm 1976 và 2005, lũ lụt và xâm nhập mặn làm hỏng 40.000 ha đất trồng
trọt và phá hủy trên 100.000 tấn lương thực (Mai Van Cong & nnk, 2009). Khô
hạn đã làm cho khoảng 74.000 ha cà phê đã bị thiệt hại (UNEP, 2000), gây
thiếu nước cho trên 120.000 ha đất canh tác, tập trung ở hầu hết các tỉnh Tây
Nguyên, Ninh Thuận và Bình Thuận. Hạn hán dẫn tới xâm nhập mặn, riêng
vùng ĐBSCL diện tích đất canh tác thường xuyên bị ảnh hưởng bởi xâm nhập
gây ngập lụt nghiêm trọng. Trận mưa lớn kỷ lục trong hơn 100 năm gần đây
tại miền Bắc diễn ra từ đêm ngày 30/10/2008 đến ngày 4/11/2008 đã làm Hà
Nội bị ngập trên diện rộng, 31.517 hộ dân bị ngập, 4.439 hộ phải di dời. Trận
mưa lớn này cũng nhấn chìm 12 xã với hơn 12 vạn dân của tỉnh Ninh Bình.
Lũ quét sau bão Damrey phá hủy ít nhất 1.194 ngôi nhà và gây ra hư hỏng
11.576 ngôi nhà khác ở vùng cao hơn. Năm 2010, khu vực miền Trung chịu
bốn đợt lũ lớn lịch sử làm hư hại 6.000 ngôi nhà, gần 500.000 ngôi nhà và
300.000 ha lúa, hoa màu bị ngập lụt (Ban chỉ đạo Phòng chống Lụt bão Trung
ương, 2012).
Năm 2015, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh mưa lớn kéo dài từ 25/7 đến đầu
tháng 8/2015 được đánh giá là có cường độ và diện bao phủ lớn nhất trong 50
năm qua trên địa bàn tỉnh. Tính đến đầu tháng 8/2015, đã có 17 người thiệt
mạng; 32 người bị thương; khoảng 3.700 hộ dân, trường học, bệnh xá ngập
lụt; hàng trăm ngôi nhà sập đổ; thiệt hại 4.863,2 ha lúa và hoa màu; hư hỏng
2.258 lồng bè thủy sản; hạ tầng kinh tế, giao thông hư hỏng nặng; ngành than
bị trôi sạt 300.000 m3 đất đá, hàng vạn tấn than... ước thiệt hại lên tới 2.700 tỷ
đồng, trong đó riêng ngành than mất hơn 1.200 tỷ đồng (Báo cáo hiện trạng
môi trường tỉnh Quảng Ninh, 2015).
Vùng Nam Bộ là một trong ba vùng đồng bằng dễ tổn thương nhất do BĐKH
bởi có địa hình thấp so với mực nước biển, nhiều nơi chỉ cao khoảng 20 – 30
cm (Lê Huy Bá & Thái Vũ Bình, 2011). Lũ và triều cường năm 2000, 2001 và
2011 ở ĐBSCL làm hư hại tương ứng hơn 900.000, 350.000 và 177.000 ngôi
nhà (Ban chỉ đạo Phòng chống Lụt bão Trung ương, 2012).
Theo kịch bản BĐKH (Bộ TNMT, 2012), ở Việt Nam sẽ có khoảng 115 đô
thị từ loại 5 đến loại đặc biệt chịu tác động mạnh của BĐKH, trong đó có 21
20
20
21
21
thương bởi tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan và nước biển dâng.
Bên cạnh một số tác động tích cực như kéo dài thời gian mùa du lịch do giảm
số ngày rét đậm, rét hại thì hầu hết các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan
đều có ảnh hưởng xấu đến hoạt động du lịch – dịch vụ. Các điểm du lịch và
cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch có khả năng bị ngập, bị xói lở, suy thoái, bồi lấp
thậm chí bị phá hủy do mưa bão, lốc tố và nước biển dâng. Nhiệt độ tăng có
thể tăng nguy cơ cháy, gây hư hỏng, xuống cấp công trình, tăng các chi phí
cho hệ thống làm mát, chi phí cho thực phẩm, nước sinh hoạt và chi phí bảo
hiểm vì nguy cơ tai nạn tiềm ẩn của khách. Mưa kéo dài làm công trình dễ bị
nấm mốc, làm giảm giá trị di tích (Mai Trọng Nhuận, 2015).
Mưa bão kết hợp triều cường và nước biển dâng xâm thực sâu vào đất liền có
thể làm hư hỏng, giảm diện tích thậm chí biến mất các bãi tắm ven biển hoặc
bào mòn, phá hủy kết cấu của công trình di tích ven biển cũng như hệ thống
hạ tầng du lịch. BĐKH cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động lữ hành, đến các
chương trình du lịch, tăng thời gian, tăng chi phí khi phải thay đổi lịch trình
hoặc phải hủy chương trình do thiên tai bất thường. Đặc biệt, khi các phương
tiện giao thông như tàu hỏa, máy bay không hoạt động được làm du khách bị
kẹt tại các điểm xảy ra thiên tai gây nhiều bất lợi cho du khách. Hệ thống du
lịch tàu biển cũng bị ảnh hưởng lớn khi thiên tai do không cập bến được theo
đúng lịch trình, cảng biển hư hại không đáp ứng đủ điều kiện hoạt động.
Tác động tới sức khỏe con người
Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm. Ở miền Bắc,
mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính sinh học của con người. BĐKH
làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới như sốt rét, sốt xuất huyết;
làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật
Giao diện của mô hình đã được phát triển trên nhiều môi trường như
Windows (visual basic), GRASS, ArcView, ArcGIS và đã được kiểm chứng
chặt chẽ ở nhiều nơi trên thế giới.
1.2.2. Các thành phần lý thuyết của mô hình
Chu trình thủy văn được mô tả trong mô hình SWAT dựa trên phương trình
cân bằng nước:
Trong đó:
23
23
- SWt: lượng nước trong đất tại thời điểm t (mm H2O)
- SWo: lượng nước trong đất tại thời điểm ban đầu trong ngày thứ i (mm
H2O)
- t: thời gian (ngày)
- Rday: lượng nước mưa trong ngày thứ i (mm H2O)
- Qsurf: lượng dòng chảy bề mặt trong ngày thứ i (mm H2O)
- Ea: lượng nước bốc hơi trong ngày thứ i (mm H2O)
- Wseep: lượng nước thấm vào vùng chưa bão hòa trong ngày thứ i (mm H2O)
- Qgw: lượng nước ngầm (mm) chảy ra sông trong ngày thứ i
Hình 1.1: Sơ đồ vòng tuần hoàn thủy văn trong mô hình SWAT
Mưa và các yếu tố khí hậu
Khí hậu của một lưu vực cung cấp nguồn nước và năng lượng cho vòng tuần
hoàn nước và khống chế tầm quan trọng của từng thành phần trong vòng tuần
24
24
25
25