Thực trạng nhiễm norovirus và mối liên quan với kháng nguyên nhóm máu ở bệnh nhi dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Đa khoa Hà Nam năm 2012-2013 (FULL TEXT) - Pdf 41

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

NGUYỄN MINH HIỆP

THỰC TRẠNG NHIỄM NOROVIRUS VÀ MỐI LIÊN QUAN
VỚI KHÁNG NGUYÊN NHÓM MÁU Ở BỆNH NHI DƯỚI 5 TUỔI
ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ NAM NĂM 2012-2013

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
CHUYÊN NGÀNH: DỊCH TỄ HỌC
MÃ SỐ: 62 72 01 17

HÀ NỘI, 2017


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy là bệnh có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong cao thường gặp ở trẻ em,
theo Tổ chức Y tế Thế giới hàng năm trên thế giới có khoảng 1,5 tỷ lượt trẻ bị
mắc tiêu chảy và 1,5-2,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong vì bệnh tiêu chảy,
trong đó 80% trẻ em dưới 2 tuổi [4], [22]. Trung bình trẻ dưới 3 tuổi mắc từ 3
đến 4 đợt tiêu chảy, thậm chí có những trẻ mắc 8 đến 9 đợt tiêu chảy mỗi năm
[2]. Tiêu chảy gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ và là gánh nặng
không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần cho gia đình cũng như cho xã hội,
đặc biệt các quốc gia nghèo hoặc đang phát triển trong đó có Việt Nam [57].
Trong những năm qua, mặc dù có nhiều biện pháp tích cực trong công
tác phòng và chống bệnh tiêu chảy, nhưng bệnh tiêu chảy vẫn xảy ra ở mức
độ cao với nguyên nhân có thể là do vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng,… Trong
số các nguyên nhân này, đối với trẻ em, tiêu chảy do vi rút thường chiếm ưu
thế, trong đó norovirus (NoV) là nguyên nhân gây tiêu chảy đứng thứ hai sau

khai với tên đề tài:
“Thực trạng nhiễm norovirus và mối liên quan với kháng nguyên nhóm
máu ở bệnh nhi dưới 5 tuổi điều trị tại bệnh viện Đa khoa Hà Nam năm
2012-2013”
với các mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm norovirus ở
bệnh nhi dưới 5 tuổi có/không có triệu chứng tiêu chảy cấp điều trị tại bệnh
viện đa khoa Hà Nam 12/2012-11/2013.
2. Xác định mối liên quan giữa kháng nguyên hệ nhóm máu ABO và
Lewis với tình trạng nhiễm norovirus.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 . Bệnh tiêu chảy
1.1.1. Một số khái niệm
Định nghĩa tiêu chảy
Theo Tổ chức Y tế Thế giới: Tiêu chảy là tình trạng trẻ đi ngoài phân
lỏng từ 3 lần trở lên trong 24 giờ, kèm theo các triệu chứng như nôn, sốt, đau
bụng, mệt mỏi…[4], [18].
Đợt tiêu chảy
Đợt tiêu chảy là thời gian kể từ ngày đầu tiên mắc tiêu chảy cho đến
sau hai ngày khi phân trẻ trở lại bình thường. Nếu sau hai ngày đó mắc tiêu
chảy trở lại là trẻ bắt đầu mắc đợt tiêu chảy mới [5], [19].
Tiêu chảy cấp
Tiêu chảy cấp là đợt tiêu chảy kéo dài không quá 14 ngày (thường dưới
7 ngày) [2].
1.1.2. Các tác nhân vi rút liên quan đến bệnh tiêu chảy

0-59

36,3

2005-2006

Khánh Hòa

< 44

6,0

2002-2003

Thành phố Hồ Chí Minh

0-59

7,1

1.1.2.2. Rotavirus, adenovirus, astrovirus và sapovirus
Trong số các RV gây bệnh cho người, vi rút thuộc nhóm A là hay gặp
nhất, gây tiêu chảy nặng ở trẻ em. Rotavirus nhóm B thường gây những vụ
dịch tiêu chảy nặng trên người lớn, trong khi đó RV nhóm C gây ra các
trường hợp tiêu chảy lẻ tẻ ở trẻ em.
Bảng 1.2. Tỷ lệ nhiễm RV gây tiêu chảy ở Việt Nam [140], [141], [185].
Thời gian

Địa điểm


vi rút này có thể giải thích như sau: RV gây nhiễm trên bề mặt vi nhung mao
tế bào ruột non, kết hợp với adenovirus gây nhiễm tế bào đáy (basal) (tế bào
có khả năng nhân lên) được cho là nguyên nhân gây tiêu chảy nặng hơn do
mất lớp tế bào có chức năng thay thế tái tạo [116].


5

Bảng 1.3. Tỷ lệ nhiễm adenovirus gây tiêu chảy ở Việt Nam [140], [16].
Thời gian

Địa điểm

Tuổi (Tháng)

Tỷ lệ (%)

2011-2012

Thái Bình

0-59

3,2

2002-2003

Thành phố Hồ Chí Minh

0-59


Sapovirus gây bệnh cho người với bệnh cảnh là viêm dạ dày ruột cấp.
Đây là tác nhân gây dịch tiêu chảy ở cả người lớn và trẻ em [68], [70].
Bảng 1.5. Tỷ lệ nhiễm sapovirus gây tiêu chảy ở trẻ em Việt Nam [140],
[194].
Thời gian

Địa điểm

Tuổi (Tháng)

Tỷ lệ (%)

2007-2008

Thành phố Hà Nội

0-59

1,4

2002-2003

Thành phố Hồ Chí Minh

0-59

0,8



Quốc gia
Libya
Ấn độ
Qutar
Austria
Anh
Hồng Kông
Chile
Nga
Trung Quốc

Năm
2008
2008
2009
2009
2009
2008
2008
2007
2015

NoV(%)
17,5
15,8
28,5
36,0
24,5
23,0
18,0

67,9% ở trình tự thuộc ORF2 và ORF-3. Tương tự như vậy, chủng NoV 026
phân lập tại Việt Nam cũng là chủng có trình tự tái tổ hợp như vậy [101],
[128].
Từ giữa những năm 1990, chủng GII.4 đã xuất hiện và trở thành chủng
phổ biến nhất. Điều quan trọng là cứ sau 2-3 năm lại có chủng GII.4 mới xuất
hiện và sau đó nhanh chóng trở thành tác nhân chính trong những vụ dịch
mới. Khả năng lây nhiễm lan tràn của chủng GII.4 có thể do chúng có khả
năng tóm bắt rộng rãi các loại kháng nguyên A, B, H của hệ kháng nguyên
nhóm máu, trong khi đó các genotype khác khó nhận biết kháng nguyên hệ
này với phổ hẹp hơn, do đó không có ưu thế bằng chủng GII.4. Một số nghiên
cứu cũng chỉ ra rằng NoV GII.4 cũng tiến hóa theo giai đoạn, giống như vi rút
cúm và sự tiến hóa này bị ảnh hưởng bởi miễn dịch cộng đồng. Bề mặt tiếp
xúc giữa HBGA và NoV khá bảo thủ, cho thấy HBGA đóng vai trò trong tiến
hóa của NoV. Theo dõi tiến hóa chủng GII.4 có ý nghĩa quan trọng trong việc
phát triển vắc xin phòng NoV [80].
Phan T.G (2006) nghiên cứu 5 vùng ở Nhật Bản từ tháng 7/2003 đến
6/2006 với 402 trẻ bị tiêu chảy cho thấy GII chiếm 98,3% với các chủng được


8

phát hiện là GI.4, GII.2, GII.3, GII.4 và GII.6, trong đó GII.3 chiếm 43,9%,
GII.4 được gọi là Lordsdale chiếm 35,1%. 2 chủng có biến thể mới GIIb’’ và
GII/4’’ được phát hiện lưu hành ở Nhật Bản. Lần đầu tiên xuất hiện chủng
GIIb và GII/3 và các dạng tái tổ hợp, các chủng này chiếm tới 96% chủng
phân lập được [155]. Nghiên cứu ở Italy bởi Ramirez và cs thấy có sự xuất
hiện của 4 chủng biến thể GII.4 2002, GII.4 2004, GII.4 2006a và GII.4
2006b [159].
Như vậy năm 2006 tìm thấy chủng GII.4 gọi là Lordsdale, Năm 2013
lưu hành chủng GII.4SYDNEY là tác nhân gây tiêu chảy, tuy nhiên đến năm

NoV không những gây tiêu chảy cấp cho trẻ, mà nó còn là mối nguy
hiểm cho cộng đồng, nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy trẻ lành mang NoV
chiếm tới 6,6%, đây là nguồn lây lan mạnh trong cộng đồng đặc biệt ở nhà
trẻ, trường học.
Người lành nhiễm NoV nhưng không biểu hiện bệnh là mối đe dọa cho
cộng đồng vì nguy cơ bùng phát dịch rất lớn. Trên thế giới đã có một số
nghiên cứu về tình trạng nhiễm NoV không biểu hiện lâm sàng tiêu chảy [41],
[128]. Theo nghiên cứu của tác giả Miguel L. O’ Ryan và cs trên 198 trẻ ở
Chile (2009), tỷ lệ nhiễm NoV và RV không biểu hiện triệu chứng trên lâm
sàng là 8% và 1,3% [125]. Một nghiên cứu khác được thực hiện ở Mexico bởi
Herbert và cs năm 2006 trên 63 trẻ em cho thấy tỷ lệ nhiễm NoV không biểu
hiện tiêu chảy là 19,8% [82]. Shuwan Zhang và cs ở Trung Quốc khi nghiên
cứu trên 201 trẻ tiêu chảy và 53 trẻ không tiêu chảy ở bệnh viện thấy tỷ lệ
nhiễm NoV biểu hiện tiêu chảy trên lâm sàng chiếm tỷ lệ 35,9% và không
biểu hiện triệu chứng là 9% [177]. Tại Anh (2010) tỷ lệ nhiễm NoV không có
triệu chứng lâm sàng là 10% [74]. Một nghiên cứu đánh giá tình trạng nhiễm
NoV trên 229 bệnh nhân tiêu chảy và 90 bệnh nhân không tiêu chảy ở Vitoria
của Brazil (2010) cho thấy 17% bệnh nhân có triệu chứng và 13% bệnh nhân


10

không có triệu chứng tiêu chảy nhiễm NoV [62]. Tại Hàn Quốc năm 2010,
một nghiên cứu được thực hiện bởi Doo-Sung Cheon đã phân tích tỷ lệ nhiễm
NoV nhưng không biểu hiện triệu chứng có khác nhau theo mùa, trong đó
mùa đông là 5,5%, mùa hè là 3,5% [66].
Barreira và cộng sự đã chỉ ra rằng chủng NoV GII.4 là chủng phổ biến
nhất ở trẻ mắc tiêu chảy, còn chủng GII.3 thường tìm thấy ở trẻ không có
triệu chứng [39]. Do đó cần có thêm các nghiên cứu sử dụng các phương pháp
nhạy hơn để đánh giá mức độ biểu hiện bệnh, mối liên quan với các chủng vi

chương trình giám sát bệnh tiêu chảy ở các bệnh viện miền Bắc, tỷ lệ mắc tiêu
chảy ở trẻ trai cao hơn 1,9 lần số trẻ gái [10], còn ở miền Nam số trẻ trai bị
tiêu chảy cao hơn trẻ gái 1,4 lần [11].
Suy dinh dưỡng: Trẻ suy dinh dưỡng dễ bị mắc tiêu chảy và các đợt
tiêu chảy thường kéo dài, đặc biệt trẻ suy dinh dưỡng nặng bị tiêu chảy có tỷ
lệ tử vong rất cao. Nguyên nhân chính gây tử vong khi trẻ bị tiêu chảy là mất
nước và điện giải, tiếp theo là suy dinh dưỡng. Suy dinh dưỡng và tiêu chảy
tạo thành vòng xoắn bệnh lý là tiêu chảy dẫn đến suy dinh dưỡng và khi trẻ bị
suy dinh dưỡng lại có nguy cơ bị bệnh tiêu chảy cao [4].
Suy giảm miễn dịch: Trẻ suy giảm miễn dịch tạm thời hay gặp sau sởi,
các đợt nhiễm vi rút khác như thủy đậu, quai bị, viêm gan hoặc suy giảm
miễn dịch kéo dài dễ mắc tiêu chảy và tiêu chảy kéo dài [18], [19].
Mùa, khí hậu, thời tiết
Theo các nghiên cứu, bệnh hay gặp ở vùng khí hậu ôn đới chiếm tới
50% các trường hợp mắc tiêu chảy, bệnh thường xảy ra vào mùa đông có khí
hậu và thời tiết lạnh, khô vào khoảng các tháng 11 đến tháng 5. Nghiên cứu
tại Nhật Bản cho thấy trẻ tiêu chảy do NoV gặp chủ yếu vào mùa đông[100].
Ở các nước nhiệt đới và các nước đang phát triển yếu tố mùa ít rõ rệt, bệnh có
thể gặp quanh năm nhưng có xu hướng tăng về mùa lạnh, mùa khô như ở các


12

nước như Bangladet [152]. Một nghiên cứu được thực hiện tại 4 vùng của
Nhật Bản vào năm 2004-2005 cho thấy tỷ lệ nhiễm NoV là 18,5%, nhiễm
NoV xảy ra quanh năm nhưng cao nhất vào tháng giêng. Ở các nước đang
phát triển, nghiên cứu dịch tễ học về NoV cũng đang được quan tâm [154].
Tập quán, điều kiện, môi trường sống
Trẻ bú sữa bằng bình, nếu không đảm bảo vệ sinh, nguy cơ tiêu chảy
do vi rút cao gấp khoảng 10 lần so với trẻ bú mẹ hoàn toàn hoặc không bú

NoV kháng thể IgM tăng và tồn tại trong khoảng từ 30-90 ngày, sau đó kháng
thể IgG xuất hiện và tồn tại trong thời gian dài hơn[102]. Các nghiên cứu
huyết thanh học cho thấy ở Mexico, hơn 90% trẻ từ 20 - 24 tháng tuổi có
kháng thể đặc hiệu với genotype VA387 [97], [131].
1.3.6. Tình hình nghiên cứu và phát triển vắc xin phòng NoV
Các vắc xin phòng tiêu chảy do NoV hiện đang được phát triển. Ứng
cử viên đầu tiên là hạt giả virus (VLP) tái tổ hợp dựa trên protein capsid của
vi rút, với tá dược là hydroxide nhôm và Monophosphoryl lipid. Vắc xin này
được dùng với 2 liều cách nhau 28 ngày [92]. Vắc xin này đã được kiểm
chứng trong hai nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, và khả năng bảo vệ khỏi
tiêu chảy nặng [60]. Công ty Takeda đang tài trợ phát triển vắc xin này với sự
hợp tác và tham gia của Bộ Quốc phòng Mỹ. Vắc xin này được thiết kế dựa
trên thành công của các vắc xin VLP phòng ung thư cổ tử cung (HPV) hiện
tại đã cấp phép. Một ứng cử viên vắc xin NoV dựa trên công nghệ VLP khác
đang được phát triển tại Đại học bang Arizona sử dụng cấu trúc tương tự như
VLP của Takeda, nhưng được sản xuất trên vector thực vật và chưa được thử
nghiệm lâm sàng.
Vắc xin kết hợp giữa NoV VLP và RV VP6 cũng đang được phát triển
ở giai đoạn tiền lâm sàng và thử nghiệm lâm sàng (bảng 1.7) sẽ được bắt đầu
trong thời gian tới [103]. Vắc xin này được đồng phát triển bởi Đại học


14

Tampere (Phần Lan) và UMN Pharma (Nhật Bản). Vắc xin này kết hợp 3 loại
protein bao gồm VLPs làm từ vỏ capsid NoV (VP1) của chủng GI.3 và GII.4
và protein tái tổ hợp VP6 của RV (rVP6). VP6 là thành phần chiếm tỷ lệ cao
trong hạt vi rút và có trình tự ổn định và chung cho các RV nhóm A. Các
protein thành phần của vắc xin được biểu hiện một cách riêng biệt trên
baculovirus, rồi sau đó trộn lại. Các nghiên cứu tiền lâm sàng trên chuột đã

Nhà phát
Giai đoạn tiền
Pha I Pha II
triển
lâm sàng
GI.1/GII.4
Takeda
VLP
Vaccines
GI.1/GII.4
ĐHTH Bang
X
VLP
Arizona
Tổ hợp
ĐHTH
X
NoV-VLP và Tampere; MN
protein VP6 Pharma
của rotavirus
ĐHTH
X
NoV hạt P
Cincinnati
Viện Pasteur X
Tổ hợp VLP Shanghai;
NoV và
Viện Hà Lâm
EV71
Trung Quốc

Nôn thường xuất hiện đầu tiên trong tiêu chảy do NoV, lúc đầu trẻ
buồn nôn, nôn khan sau đó nôn ra thức ăn, ăn uống vào có thể nôn ngay hoặc
sau một thời gian thì nôn ra thức ăn. Chất nôn có mầu trắng hoặc mầu vàng có
thể kèm theo chất nhầy, nôn thường xuất hiện trong vòng 1 đến 2 ngày đầu,
thường xuất hiện trước tiêu chảy và sốt. Số lần nôn từ vài lần trong một ngày,
thậm chí có thể nôn nhiều hơn đến hơn chục lần, nôn trong tiêu chảy do NoV
thường đỡ khi được bồi phụ nước và điện giải [65], [143].
Tiêu chảy thường xảy ra sau nôn 1 đến 2 ngày hoặc xảy ra ngay bằng
dấu hiệu nôn. Phân lúc đầu của tiêu chảy ở dạng như bột đậu màu vàng, tiếp
đến số lần tiêu chảy tăng dần phân lỏng dần tới đi tóe ra toàn nước. Phân có
mùi tanh nên có thể dựa vào mùi phân để nhận biến bệnh nhân tiêu chảy do vi
rút. Phân thường không có nhày máu, hoặc có nhày máu khi tiêu chảy kèm
theo các nguyên nhân nhiễm khuẩn khác. Số lần tiêu chảy thường khoảng 7
lần trong/ngày, có trường hợp tiêu chảy 10 đến 15 lần/ngày thậm trí trên 20
lần /ngày. Số lần tiêu chảy cao điểm nhất xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ
5 của đợt tiêu chảy, sau đó trẻ hầu hết tự khỏi sau 5 đến 7 ngày mắc bệnh mà
không cần phải dùng thuốc kháng sinh hay thuốc cầm tiêu chảy, mà chỉ cần


17

điều trị bằng bồi phụ nước điện giải và chế độ dinh dưỡng phù hợp sẽ giúp trẻ
chóng khỏi và phục hồi sức khỏe nhanh [195].
Sốt là biểu hiện thường gặp, chiếm 60% trong tiêu chảy do NoV. Sốt là
triệu chứng khởi đầu của đợt bệnh, có thể kèm theo triệu chứng nôn và tiêu
chảy, trẻ sốt nhẹ và vừa là chủ yếu, nhưng cũng có trường hợp sốt rất cao đến
40oC, sốt thường biểu hiện trong 1 đến 3 ngày đầu của đợt tiêu chảy, sau đó
nhiệt độ trở về bình thường [1], [2], [22]. Triệu chứng chính của tiêu chảy cấp
do NoV là tiêu chảy, nôn và sốt. Nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy trẻ bị tiêu
chảy do NoV có nôn chiếm 68% và sốt 48,3%. Tại Đài Loan theo một nghiên

Mất nước nặng

- Không uống được nước hoặc uống kém
- Nếp véo da mất rất chậm (sau 2 giây)
Khi có hai trong các dấu hiệu sau:
- Vật vã, kích thích
- Mắt trũng

Có mất nước

- Uống háo hức, khát
- Nếp véo da mất chậm
Không có đủ các dấu hiệu để phân loại có
mất nước hoặc mất nước nặng

Không mất nước

+ Mắt: Có thể bình thường, trũng hoặc rất trũng và khô.
+ Nước mắt: Trẻ khóc to không có nước mắt khi bị mất nước.
+ Miệng và lưỡi: Dùng ngón tay khô và sạch sờ vào trong miệng và
lưỡi trẻ, khi rút ngón tay thường khô và không có nước bọt khi trẻ bị mất nước.
+ Thóp trước: Mất nước thóp trước lõm và rất lõm khi mất nước nặng.
+ Độ chun giãn da: Khi véo da thành nếp ở vùng bụng rồi bỏ ra, nếp
véo da thường mất nhanh, khi nếp véo da mất chậm (hoặc mất rất chậm trên 2
giây) là biểu hiện mất nước nặng [19].
1.4.3. Thời kỳ hồi phục bệnh
Trong thời kỳ hồi phục bệnh, các triệu chứng sẽ thuyên giảm dần, chức
năng ruột được phục hồi, trẻ còn mệt, cân nặng chưa trở về bình thường, ăn
kém trong một thời gian. Sau khi mắc tiêu chảy do NoV, ở trẻ có hình thành


Độ mất nước
Điều trị

1

Thang điểm
2

3

2-4
1-4

5-7
5-7

≥8
≥8

1-3
2
38,1-38,2
Khó chịu/ít
chơi
1-2

4-6
3-5
38,3-38,7
Mệt mỏi/lơ

Bù nước

Nhập viện

Li bì

≥5

Nhập viện

Trong đó với thang điểm Vesikari mức độ bệnh nhẹ là dưới 7 điểm,
trung bình là 7-10 điểm, nặng là trên 10 điểm. Đối với thang điểm Clark mức


20

độ bệnh nhẹ dưới là 9 điểm, trung bình là 9-16 điểm, nặng là trên 16 điểm.
Các nghiên cứu cho thấy những phương pháp đánh giá này được ứng dụng tốt
trong các nghiên cứu đánh giá thử nghiệm vắc xin phòng tác nhân gây tiêu
chảy, nhưng tỏ ra ít hiệu quả đối với giám sát trẻ nhập viện và không cho
phép phân biệt mức độ biểu hiện bệnh giữa các trường hợp đồng nhiễm và
đơn nhiễm cũng như sự khác biệt giữa các genotype của cùng một vi rút. Các
phương pháp khác như hồi quy logistic hoặc hồi quy logistic đa biến đã được
sử dụng để so sánh trong một số nghiên cứu, mặc dù vậy việc ứng dụng vẫn
chưa thống nhất.
Thang điểm Vesikari và Clark thể hiện sự không đồng nhất khi đánh
giá mức độ nặng của bệnh tiêu chảy [76]. Trong khi toàn bộ các trường hợp
tiêu chảy nặng theo thang điểm Clark được đánh giá mức độ nặng theo thang
điểm Vesikari, thì ngược lại chỉ có 35% trường hợp mức độ nặng theo thang
điểm Vesikari được đánh giá tương đương theo Clark. Có 65% trường hợp

Kẽm có tác dụng phòng trẻ mắc bệnh trong thời gian 2–3 tháng sau điều trị,
giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy [18].
1.5.2. Chế độ dinh dưỡng
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong tiêu chảy, đặc biệt trong điều
trị tiêu chảy do NoV. Đối với trẻ còn bú mẹ, nhất là trẻ suy dinh dưỡng cần
tiếp tục cho bú mẹ. Đối với trẻ ăn sữa nhân tạo cần tăng lượng ăn vào trong
những ngày đầu có thể chia nhỏ nhưng tăng số bữa bú. Sau 1–2 ngày tiêu
chảy cần quay lại ăn bình thường. Đối với trẻ lớn cần có chế độ ăn thích hợp
đủ các chất dinh dưỡng, cần cho thêm một lượng dịch hoa quả [1], [19].
1.5.3. Phòng bệnh
Chế độ cho trẻ bú mẹ ngay sau khi đẻ, bú hoàn toàn 6 tháng đầu và kéo
dài tới 2 tuổi, có chế độ ăm sam đảm bảo dinh dưỡng có tác dụng phòng tiêu
chảy cao.


22

Ngoài ra, việc thực hiện tốt công tác vệ sinh như ăn chín, uống nước đã
đun sôi, rửa tay trước khi chế biến thức ăn, cho trẻ ăn và sau khi vệ sinh cho
trẻ cũng như thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý phân của trẻ hợp vệ
sinh là cần thiết. Hiện chưa có vắc-xin phòng đặc hiệu NoV [169], do vậy
biện pháp phòng hiện nay là ngăn chặn sự lan truyền NoV từ người này qua
người khác hoặc từ dụng cụ, đồ dùng nhiễm NoV sang người lành [26].
1.6. Cấu trúc và di truyền của NoV
1.6.1 Cấu trúc và đặc điểm di truyền của NoV
NoV thuộc họ Caliciviridae. NoV được phát hiện lần đầu tiên bằng
kính hiển vi điện tử vào năm 1972 trong phân của người bệnh [105].

Hình 1.1: NoV dưới kính hiển vi điện tử [85]
NoV là vi rút không màng (envelope), hình cầu 20 mặt, đường kính hạt

biểu hiện VP1) [196] .

Hình 1.3: Hỉnh ảnh NoV bằng kỹ thuật cryo-EM [86]
Dựa trên trình tự gen mã hóa protein capsid VP1, NoV được chia thành
5 genogroup (I, II, III, IV, V). Các genogroup (Nhóm gen) chia thành các
genotypes (Kiểu gen) trong đó đã phát hiện được 14 genotypes (GI.1–GI.14)
thuộc nhóm GI và 17 genotypes (GII.1–GII.17) thuộc nhóm GII [208]. Sự
khác nhau về trình tự axit amin trong cùng 1 genotype là 0%–14,1%, giữa các
genotype là 14,3% - 43,8% và giữa các genogroup là 44,9% - 61,4% [75],
[170].
Một nghiên cứu của Nhật Bản vào năm 2004-2005 cho thấy GII chiếm
98,6% trong đó GII4 chiếm tới 77,4% [135]. Tại Brazil trẻ tiêu chảy cấp
nhiễm NoV genogroup GI chiếm 6,1%, genogroup GII chiếm 78,7%, còn lại
là bộ nhiễm của 2 genogroup này [50]. Một nghiên cứu ở Ý trẻ dưới 3 tuổi tỷ
lệ GII chiếm ưu thế [56]. Tại Việt Nam, khi nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm NoV ở
trẻ tiêu chảy cấp tại bệnh viện Nhi Đồng 1 thành phố Hồ Chí Minh 2005-



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status