SÁNG KIẾN CẢI TIÊN KỸ THUẬT
Một số biện pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non
1. Phần mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài:
Bước vào thế kỉ XXI, với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công
nghệ, Đảng, Nhà nước ta đang ra sức đưa đất nước đi lên về mọi mặt: kinh tế,
chính trị, văn hóa, giáo dục… Trong đó, giáo dục - đào tạo được xem là “quốc sách
hàng đầu”(Đại hội VII của Đảng khẳng định). Sự hưng thịnh của đất nước phụ
thuộc nhiều vào sự hưng thịnh của giáo dục - đào tạo. Giáo dục luôn được xem với
tư cách là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, là “chiếc chìa khóa mở cửa vào
tương lai”, là nồng cốt trong việc tạo nguồn lực con người. Đảng cộng sản Việt
Nam khẳng định: “Nguồn lực con người là người lao động có trí tuệ cao, có tay
nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng, phát huy bởi một
nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học - công nghệ hiện đại.
Luật giáo dục 2005 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng
định: Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo là cấp học thuộc hệ thống giáo
dục quốc dân. Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em
phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ.
Chính vì vậy, giáo dục mầm non có một vị trí quan trọng trong sự nghiệp
Giáo dục-Đào tạo con người. Nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho chúng ta phải có một
đội ngũ làm công tác giáo dục có đủ điều kiện để thực hiện mục tiêu cơ bản trên,
trong đó đội ngũ giáo viên mầm non có vai trò then chốt, là lực lượng nồng cốt
quyết định đến chất lượng chăm sóc-giáo dục trẻ trong trường mầm non. Nói cách
khác, chất lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào trình độ và năng lực thực tiễn
của giáo viên trong hoạt động nghề nghiệp của mình (tức là năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ). Điều đó có nghĩa là chất lượng đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viên là điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục. Hơn nữa, năng lực hoạt
động thực tiễn chính là mục tiêu của đào tạo và bồi dưỡng giáo viên. Điều đó cho
dạy các lớp mẫu giáo và nhà trẻ.
Nội dung đề tài được viết trên tinh thần tổng hợp những kinh nghiệm của
bản thân, chủ yếu là những giải pháp trong công tác quản lý, chỉ đạo tác động đến
đội ngũ giáo viên trong nhà trường nhằm nâng cao trình độ tay nghề cho từng giáo
viên để nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tại trường mầm
non nơi tôi đang công tác.
2. Phần nội dung
2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu:
Quá trình thực hiện đề tài tại đơn vị, tôi nhận thấy có được những thuận lợi
và gặp phải một số khó khăn sau:
2.1.1. Thuận lợi:
Đội ngũ có ý thức trách nhiệm cao trong công việc, nhiệt tình tâm huyết với
nghề. 100% giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn.
Tập thể cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường đoàn kết cùng quyết tâm
phấn đấu xây dựng, giữ vững trường tiên tiến xuất sắc và trường mầm non đạt
chuẩn Quốc gia. Đội ngũ cán bộ giáo viên tâm huyết với nghề, luôn yêu nghề, mến
trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Các đồng chí trong ban Giám hiệu nhà trường tận tụy với công việc, tâm
huyết với nghề, năng động, sáng tạo trong công tác quản lý, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ vững vàng.
Nhà trường luôn chăm lo điều kiện làm việc cũng như đời sống tinh thần cho
đội ngũ: tăng trưởng cơ sở vật chất hàng năm, bổ sung thay thế các trang thiết bị
đồ dùng dạy học; tạo điều kiện cho giáo viên theo học các lớp đào tạo trên chuẩn.
Nhà trường luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao về chuyên môn của Phòng
Giáo dục-Đào tạo, được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương, tạo điều kiện giúp
đỡ, động viên về tinh thần, vật chất... để nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
của ngành.
Các bậc phụ huynh có trình độ nhận thức cao, có sự phối hợp chặt chẽ với
cho phù hợp với chủ đề…). Sau đó để giáo viên cụ thể hóa kế hoạch của nhà
trường phù hợp với tình hình thực tế của lớp, lựa chọn đề tài, bài thơ, câu chuyện,
bài hát, bản nhạc…đưa vào kế hoạch cho phù hợp. Kế hoạch thực hiện chương
trình của các lớp được chúng tôi kiểm tra, phê duyệt kĩ càng.
Một điểm mới cần đề cập đến trong việc xây dựng kế hoạch chuyên môn đó
là tăng cường chú trọng phát triển thể chất cho trẻ trong trường mầm non theo công
văn số 469/SGD ĐT-GDMN ngày 25/3/2014 về việc “Hướng dẫn xây dựng kế
hoạch và thực hiện chuyên đề: “Nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động
cho trẻ trong trường mầm non, giai đoạn 2013 - 2016” và công văn số 455/KHGD&ĐT ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Phòng giáo dục đào tạo Lệ Thủy. Tôi đã
tham mưu kịp thời Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch năm học ưu tiên mua sắm các
loại đồ dùng phục vụ cho hoạt động giáo dục phát triển thể chất cho trẻ . Tham mưu
phân công bố trí giáo viên hợp lý; phát động các phong trào thể dục thể thao trong nhà
trường. Chỉ đạo rà soát kiểm tra đối chiếu các loại đồ dùng tối thiểu theo thông tư 02
của Bộ GD&ĐT để có kế hoạch điều chỉnh mua sắm các trang thiết bị phục vụ giáo
dục phát triển vận động cho các lớp kịp thời đầy đủ. Chỉ đạo các khối, nhóm lớp xây
dựng môi trường học tập trong và ngoài lớp theo chương trình từng chủ đề. Trực
tiếp chỉ đạo các tổ, khối trong nhà trường sinh hoạt chuyên môn tập trung vào lĩnh
vực phát triển thể chất. Đặc biệt chuyên đề phát triển vận động được chú trọng nhiều
hơn sau khi được tham gia đợt tập huấn do Phòng giáo dục tổ chức. Chúng tôi đã trực
tiếp chỉ đạo giáo viên bổ sung kịp thời các bài thể dục theo nội dung mới vào kế
hoạch năm, tháng và soạn bài tính từ tháng 02 trở đi. Nhìn chung giáo viên đã biết
cách soạn giáo án theo hình thức mới, tổ chức thực hiện tiết học thể dục trên lớp
theo từng độ tuổi, tổ chức các trò chơi vận động ngoài trời, trò chơi dân gian, tổ
chức cho trẻ chơi các trò chơi vận động vào các giờ hoạt động chiều bài bản.
2.2.2. Biện pháp bồi dưỡng thông qua dự giờ, thao giảng
Dự giờ và tổ chức thao giảng cho giáo viên cũng là một biện pháp bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên có hiệu quả. Cho nên, ngay từ đầu năm học Ban giám
hiệu nhà trường đã chỉ đạo cho mỗi giáo viên dự 2-3 hoạt động/ tháng, là giáo viên
đô ̣ng của trẻ làm thước đo năng lực của giáo viên. Vì vâ ̣y, người dự cần chú ý chọn
vị trí ngồi cho thích hợp để dễ dàng quan sát trẻ hoạt động. Từ đó có thể đánh giá
hoạt động nào giáo viên tổ chức chưa thành công để góp ý, đánh giá, bổ sung rút ra
bài học cho quá trình tổ chức các hoạt động cho mỗi giáo viên, đồng thời người dự
cũng rút được những điểm hay, những kinh nghiệm từ người dạy.
Có thể khẳng định rằng, đây là phương pháp bồi dưỡng trực tiếp, kịp thời,
nâng cao tay nghề, ít tốn kém, điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy kịp
thời. Dễ dàng phổ biến được phương pháp mới. Qua tiết dạy mỗi giáo viên dự rút
ra được những ưu, khuyết điểm cần thiết để áp dụng cho các tiết dạy của bản thân,
khắc phục những khuyết điểm để loại bỏ; đây là biện pháp gần gũi, tiết kiệm mà lại
có hiệu quả. Khi lên lớp tổ chức các hoạt động giáo viên thể hiện hết những gì mà
họ đã chuẩn bị cho hoạt động từ nội dung, phương pháp, cho đến tinh thần trách
nhiệm đối với trẻ. Cho nên thông qua công tác dự giờ có thể đánh giá được năng
lực của giáo viên, đây là biện pháp bồi dưỡng giáo viên có tính khả thi. Những
hoạt động dự giờ theo kế hoạch đã định trước giáo viên chuẩn bị tốt tạo điều kiện
cho đồng nghiệp học hỏi nhiều kinh nghiệm.
Tổ chức dự giờ, thao giảng các giáo viên trẻ là để bồi dưỡng được hai mặt:
giáo viên có kinh nghiệm dự giờ giáo viên mới ra trường nhằm giúp họ nâng cao
thêm năng lực chuyên môn và ngược lại cũng học hỏi được rất nhiều từ lớp trẻ là
những điều rất tốt, những cái mới mà ở trường chưa được tiếp thu.
2.2.3. Kết hợp lồng ghép bồi dưỡng thường xuyên vào bồi dưỡng chuyên
môn hàng tháng.
Bồ i dưỡng chuyên môn và bồ i dưỡng thường xuyên theo kế hoa ̣ch đinh
̣ kì
hàng tháng là mô ̣t viê ̣c làm không thể thiế u của cán bô ̣ quản lý. Hình thức bồ i
dưỡng thường xuyên chỉ mới thực hiê ̣n đế n nay là năm thứ 2. Tuy là mô ̣t hình thức
còn mới mẽ nhưng đây là mô ̣t trong những hình thức góp phầ n không nhỏ trong
hiệu quả thì ngoài những hiểu biết căn bản về nguyên lý hoạt động của máy tính
đòi hỏi giáo viên cần phải có kỹ năng cơ bản thuần thục. Thực tế cho thấy dù có
chứng chỉ bằng cấp cao về tin học nhưng nếu ít sử dụng thì kỹ năng sẽ mai một,
ngược lại nếu chịu khó học hỏi, thực hành thì việc ứng dụng công nghệ thông tin
vào giảng dạy sẽ rất dễ dàng.
Nhận thức được điều đó, tôi đã chú ý bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công
nghệ thông tin cho giáo viên thông qua các buổi tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng
sử dụng máy tính và các phần mềm tin học. Nội dung tập trung chủ yếu vào những
kỹ năng mà giáo viên cần sử dụng trong quá trình soạn giảng hàng ngày như thể
thức trình bày văn bản, các bước soạn một bài trình chiếu pwerpoint, các phần
mềm thông dụng, cách chuyển đổi các loại phông chữ, cách sử dụng một số
phương tiện như máy chiếu, máy quay phim, chụp ảnh, cách lồng ghép nhạc trong
các bài giảng về thơ truyện hay các trò chơi, cách tổng hợp các kết quả trong quá
trình chăm sóc, giáo dục trẻ trên Excel... Ngoài ra, trong các đợt sinh hoạt chuyên
môn tôi lồng ghép trao đổi thêm về những vướng mắc khi sử dụng công nghệ
thông tin cũng như những kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin chia sẽ cho
giáo viên học tập tham khảo.
Bên cạnh đó, tôi cũng đã cố gắng tìm tòi, sưu tầm, chọn lọc tài liệu hướng
dẫn ứng dụng công nghệ thông tin photo phát cho giáo viên. Với hình thức này tôi
thấy hiệu quả rõ rệt trong việc soạn giáo án của giáo viên. Lỗi chính tả giảm đáng
kể. Thể thức văn bản trình bày khoa học hơn. Các bài giảng được thiết kế
powerpoint hình ảnh sống động, đẹp mắt, những câu chuyện, bài thơ được lồng
thêm những đoạn nhạc khi du dương khi sôi động gây được hứng thú cho trẻ góp
phần làm nên thành công của tiết dạy.
Chúng tôi cho rằng, chuyên môn nhà trường phải là bộ phận kết nối, là trung
tâm tạo ra một môi trường học hỏi chuyên môn tích cực cho giáo viên. việc động
viên kịp thời giáo viên tích cực tự học, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ, luôn
cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp cũng được chúng tôi quan
thông suốt việc kiểm tra, khuyến khích tinh thần tự giác, trung thực của giáo viên
để giáo viên chuẩn bị mọi phương tiện và điều kiện tích cực góp phần thực hiện tốt
đợt kiểm tra đó.
Hàng năm, chúng tôi đã tích cực tham mưu cho đồng chí Hiệu trưởng trong
việc xây dựng Kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học, vừa đảm bảo quy định của
ngành, vừa phù hợp với tình hình chất lượng đội ngũ. Đảm bảo số lượng giáo viên
được kiểm tra toàn diện 60-70%, mỗi giáo viên được kiểm tra chuyên đề 2 lần/năm
học. Nô ̣i dung chuyên đề khá phong phú đa da ̣ng như kiể m tra hoạt động theo lĩnh
vực thẩ m my,̃ nhâ ̣n thức, ngôn ngữ, thể chấ t, tiǹ h cảm quan hê ̣ xã hô ̣i... kiể m tra hồ
sơ chuyên môn, kiể m tra hồ sơ sản phẩ m của trẻ, kiể m tra xây dựng môi trường
học tập…Đánh giá khách quan và thực chất năng lực đội ngũ đươ ̣c chúng tôi quan
tâm hàng đầ u. Bởi vì như thế mới nhâ ̣n ra đươ ̣c ưu nhươ ̣c điể m của mỗi giáo viên.
Từ đó có biê ̣n pháp cu ̣ thể trong viê ̣c bồ i dưỡng nâng cao năng lưc̣ chuyên môn
cho mỗi giáo viên. Về hình thức đánh giá chúng tôi luôn thay đổ i thường xuyên.
Hàng tháng ngoài việc thực hiện kiểm tra theo kế hoạch, chúng tôi đã kiểm tra đột
xuất việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên như: Kiểm tra việc thực
hiện chương trình, chế độ sinh hoạt, hồ sơ chuyên môn, giáo án, hồ sơ trẻ (thực
hiện đánh giá trẻ 5 tuổi theo chuẩn, trẻ 3-4 tuổi, sản phẩm học tập của các cháu),
công tác chuẩn bị đồ dùng dạy học trước khi tổ chức các hoạt động…Sau kiể m tra,
chúng tôi đều tổ chức trao đổi, góp ý trực tiếp giúp giáo viên tự nhận xét kết quả
công việc, nhận thấy được những ưu điểm cần phát huy, những tồn tại-hạn chế cần
khắc phục. Cuối tháng chúng tôi có đánh giá nhận xét chung về công tác kiểm tra
giúp giáo viên chia se ̃ những kinh nghiê ̣m, cách làm hay của đồng nghiệp, cũng
như rút kinh nghiệm những tồn tại hạn chế cho bản thân.
Ví dụ về đánh giá nội dung kiểm tra “Xây dựng môi trường học tập trong và
ngoài lớp”.
nghề của giáo viên. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm sau khi tiếp thu hướng dẫn
nhiệm vụ năm học của Bộ, Sở và Phòng Giáo dục-Đào tạo. Bản thân tôi đã trực
tiếp cùng với đồ ng chí Phó hiê ̣u trưởng tham mưu cho đồng chí Hiệu trưởng trong
việc tổ chức các hội thi. Năm ho ̣c 2014-2015 với nhiề u hô ̣i thi như Hô ̣i thi “Cô và
cháu hát dân ca hò khoan Lê ̣ Thủy” cấ p trường, cấ p huyê ̣n; Hô ̣i thi “Xây dư ̣ng môi
trường xanh sa ̣ch đep̣ và hiê ̣u quả” cấ p trường và cấ p huyê ̣n; Hô ̣i thi “Giáo viên
da ̣y giỏi” cấ p trường và cấ p huyên.
̣ chấ t lươ ̣ng mũi nho ̣n nên ngay từ đầ u
̣ Xác đinh
năm ho ̣c tôi đã bám vào kế hoạch và các công văn hướng dẫn của Sở và Phòng
Giáo dục - Đào tạo về việc tổ chức và tham gia cá c hô ̣i thi của các cấ p, tham mưu
kip̣ thời với Hiê ̣u trưởng để triển khai và thực hiện nghiêm túc các nội dung theo
yêu cầu. Nội dung Hội thi đã được đưa vào nhiệm vụ năm học của nhà trường,
chính vì vậy tất cả giáo viên ngoài việc thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc giáo dục
trẻ, các cô đã tận dụng mọi thời gian trong ngày để luyện tập cho các cháu có năng
khiếu hát múa, rèn cho các cháu có tiń h tự tinh ma ̣nh da ̣n chuẩ n bi ̣tham gia hô ̣i thi
Cô và bé hát dân ca hò khoan Lê ̣ Thủy. Dành các thời gian rảnh rỗi trang trí la ̣i môi
trường ho ̣c tâ ̣p cho phù hơ ̣p, hiǹ h ảnh đe ̣p mắ t luôn tươi mới theo từng chủ đề , tâ ̣n
du ̣ng những phế liê ̣u như lố p xe, hay các nguyên vâ ̣t liê ̣u sẵn có ở điạ phương để
ta ̣o nên những đồ dùng, du ̣ng cu ̣, các châ ̣u hoa tư ̣ ta ̣o góp phầ n ta ̣o nên môi trường
thân thiê ̣n hiê ̣u quả nhằ m phu ̣c vu ̣ hô ̣i thi xây dưṇ g môi trường xanh sa ̣ch đe ̣p và
hiê ̣u quả các cấ p. Bên ca ̣nh đó, tôi còn chủ đô ̣ng chỉ đạo giáo viên huy động sự
tham gia của các bậc phụ huynh trong việc luyện tập kỹ năng há t múa cho trẻ, tìm
kiếm sưu tầm các nguyên vật liệu để phục vụ hội thi, đó ng góp ngày công lao
đô ̣ng. Ban giám hiệu nhà trường thu thập ý tưởng, có sự hướng dẫn, tư vấn thúc
đẩy cho giáo viên và các cháu trong việc rèn ki ̃ năng hát múa.
Huy động sức mạnh của cán bộ, giáo viên nhân viên nhà trường trong việc
bổ sung ý tưởng, tìm kiếm sưu tầm các nguyên vật liệu để phục vụ tốt hội thi.
chuyên môn cho đội ngũ. Thông qua hình thức lớp điểm, giáo viên trong trường
được học tập, từ cách trang trí sắp sếp đồ dùng đồ chơi các góc, nề nếp các cháu,
làm đồ dùng đồ chơi tự tạo... Ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng lớp điểm về
các lĩnh vực khác nhau như lớp điểm về xây dựng môi trường học tập, lớp điểm về
chuyên đề phát triển vận động, lớp điểm về các tiết dạy mẫu. Tôi chủ động tham
mưu Hiệu trưởng phân công giáo viên đứng lớp phù hợp. Chọn những giáo viên
phải là những người có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực chuyên môn
giỏi, có uy tín với mọi người. Những lớp điểm là nơi đi đầu trong việc thực hiện
nội dung mới để rút kinh nghiệm trước khi chỉ đạo đại trà. Thông qua các lớp điểm
giáo viên được tham quan, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, tai nghe, mắt
thấy, học tập để áp dụng vào lớp của mình. Từ đó giáo viên trường tôi đã tạo được
môi trường học tập, góc phát triển vận động sinh động, phù hợp với đặc điểm của
trẻ ở độ tuổi của lớp mình, các cô đã có ý thức hơn, tự học tập, tự nghiên cứu để
bằng lớp đồng nghiệp mình. Qua quá trình chỉ đạo, tôi thấy nhiều giáo viên khi
mới vào trường chuyên môn hạn chế, chưa biết cách sắp xếp, trang trí lớp, dự giờ
tiết dạy giáo viên còn lúng túng... Nhưng qua các hình thức bồi dưỡng trên tôi thấy
đã có sự thay đổi rõ rệt.
2.2.8 Giữ vững và phát huy vai trò của sinh hoạt tổ chuyên môn.
Song hành xuyên suốt cùng với giáo viên trong bồi dưỡng chuyên môn cũng
như tất cả các hoạt động khác của tổ chuyên môn là một cách thiết thực nhất, gần
gũi và có điều kiện nhất trong việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Ban
giám hiệu không thể sinh hoạt chuyên môn xuyên suốt với tổ được. Do vậy, xây
dựng tổ chuyên môn vững mạnh là một trong những biện pháp không thể thiếu
trong công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng chuyên môn cho giáo viên.
Vì thế, vào đầu năm học khi chọn tổ trưởng chuyên môn, tôi luôn chú ý tham
mưu Hiệu trưởng chọn giáo viên có năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm, nhiệt
tình, luôn hòa nhã cởi mở với các thành viên trong nhà trường và có khả năng tập
hợp giáo viên để tổ chức sinh hoạt tổ.
cùng tổ để có thêm những ý kiến hay bổ sung vào kế hoạch, có như vậy công tác
mới trôi chảy, thực hiện dân chủ hóa trong hội họp, công tác. Nếu giáo viên nào
không làm được thì tự mình trừ điểm thi đua khi tham gia xếp loại.
Sau khi các thành viên trong tổ góp ý, tổ trưởng tóm tắt lại, lấy ý kiến thống
nhất bổ sung vào biên bản tổ và đó là nghị quyết của tổ, mọi thành viên trong tổ
phải có nhiệm vụ thực hiện. Tránh tình trạng họp tổ, tổ trưởng đưa ra ý kiến buộc
mọi thành viên phải thực hiện, quát nạt các giáo viên vi phạm, khen chê ai hợp với
mình, không tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Như vậy, tổ chuyên môn là cầu nối giữa BGH nhà trường và giáo viên trong
tổ về thông tin 2 chiều nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục.
Người Phó hiệu trưởng có thông tin để đánh giá chính xác giáo viên, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của họ từ đó tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng phân
công giáo viên hợp lý, đạt hiệu quả tốt; chuyển tải cho giáo viên trong tổ các chỉ
đạo chuyên môn của nhà trường và cơ quan quản lý cấp trên.
Nhờ chỉ đạo tốt công tác bồi dưỡng thông qua sinh hoạt chuyên môn toàn
trường và sinh hoạt tổ chuyên môn nên đã xuất hiện nhiều ý tưởng hay, nhiều kinh
nghiệm trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ được nhân rộng. Năng lực của giáo
viên được nâng lên rõ rệt.
2.3. Kết quả đạt được:
Qua việc thực hiện các biện pháp và cách làm trên tôi thấy công tác bồi
dưỡng chuyên môn đã đi vào hoạt động nền nếp và có hiệu quả tốt.
Giáo viên có ý thức được trách nhiệm nghề nghiệp, yêu nghề mến trẻ, luôn
thể hiện được tinh thần tự nghiên cứu, tự học tập để nâng cao được trình độ tay
nghề của mình, linh hoạt sáng tạo hơn khi xây dựng kế hoạch cũng như tổ chức các
hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ. Họ đã mạnh dạn, tự tin tham gia thảo luận trong
các buổi họp, buổi sinh hoạt chuyên môn....
Chất lượng giảng dạy và chăm sóc giáo dục trẻ được nâng lên rõ rệt sau các
lần kiểm tra của nhà trường, Phòng giáo dục và sau các đợt đánh giá, khảo sát của
người quản lý phải là người theo dõi chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch đó.
- Bên cạnh việc tham gia các lớp tập huấn, nghiên cứu chương trình giáo dục
mới; người quản lý cần đặc biệt quan tâm đến công tác bồi dưỡng tại chỗ, quản lý
các tổ thực hiện nghiêm túc có chiều sâu các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn.
- Chỉ đạo nhất quán, tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện
quy chế chuyên môn: Thực hiện đúng lịch sinh hoạt, soạn bài và tổ chức các hoạt
động cho trẻ đảm bảo, đặc biệt người quản lý phải thường xuyên dự giờ giáo viên
để kịp thời góp ý rút kinh nghiệm.
- Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ cần thực hiện công khai, dân chủ,
không thành kiến trong việc đánh giá xếp loại giáo viên. Khen chê đúng người,
đúng việc để kịp thời động viên giúp đỡ họ nỗ lực phấn đấu đạt kết quả cao hơn.
Để đạt được mục tiêu giáo dục nói chung, giáo dục mầm non nói riêng; đáp
ứng yêu cầu thực hiện đổi mới chương trình việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên là rất quan trọng phải được quan tâm hàng đầu bởi chất lượng đội ngũ quyết
định sự tồn tại và uy tín của một nhà trường. Với nhận thức như vậy, bản thân
người quản lý đã luôn chỉ đạo sát sao, quyết liệt, thường xuyên để khắc phục yếu
kém những năm trước, xây dựng đội ngũ giáo viên đạt tới "chuẩn" với nghĩa đích
thực của nó.
3. Kết luận:
3.1. Ý nghĩa của đề tài:
Giáo du ̣c hiê ̣n nay là mô ̣t trong những vấ n đề đanng đươ ̣c Đảng và Nhà
nước ta chú tro ̣ng và quan tâm để phát triể n. Bởi vì đây là nguồ n nhân lực phu ̣c vu ̣
cho sự phát triể n kinh tế - xã hô ̣i của đấ t nước. Nghi ̣ quyế t đa ̣i hô ̣i Đảng lầ n thứ
VIII đã nêu rõ “Giáo du ̣c đào ta ̣o là quố c sách hàng đầ u, là đô ̣ng lực phát triể n kinh
tế - xã hô ̣i. Đầ u tư cho giáo du ̣c là đầ u tư cho sư ̣ phát triể n. Nghành ho ̣c mầ m non
là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n trong hê ̣ thố ng giáo du ̣c quố c dân, giúp trẻ hình thành và phát triể n
nhân cách toàn diê ̣n.
hơn nữa nhiệm vụ của mình.
Xin chân thành cảm ơn./.
MỤC LỤC
1.
Phần
mở
dầu: ............................................................................................................................
......Trang 1
1.1.
Lý
do
chọn
đề
tài:.......................................................................................................................Trang
1
1.2.
Điểm
mới
nội
dung
cần
nghiên
cứu: ...................................................................... Trang 2
2.1.1.
Thuận
lợi:................................................................................................................................
..... Trang 2
2.1.2.
Khó
khăn:............................................................................................................................
......... Trang 3
2.2.
Các
biện
pháp
hiện :.................................................................................................... Trang 3
mũi
giá............................................................... Trang 7
2.2.6.
Đầu
tư
chỉ
đạo
chất
nhọn ................................................................... Trang 9
2.2.7. Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên qua lớp điểm. ........................
Trang 11
2.2.8 Giữ vững và phát huy vai trò của sinh hoạt tổ chuyên
môn. .......... Trang 11
2.3.
Kết
quả
đạt
xuất:.................................................................................................................
Trang 15
đề