NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH
Xin chào các anh chị và các bạn !
Tôi tên là Trần Phương, hướng dẫn viên của công ty du lịch Hanoi Travel.
Hôm nay tôi rất vinh dự được đồng hành cùng các anh chị trong chuyến thăm quan
khu di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Văn Miếu- Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng, phong phú hàng đầu của
thành phố Hà Nội. Nơi đây đã được xếp hạng là 1 trong 23 di tích quốc gia đặc biệt.
Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài
nước đồng thời cũng nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và nơi tổ chức hội thơ hàng
năm vào ngày rằm tháng giêng.
Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi.
Khu di tích Văn Miếu- Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam kinh thành Thăng
Long xưa, nay thuộc thành phố Hà Nội, 4 mặt bao quanh bởi các phố:
- Cổng chính nơi các anh chị đang đứng là phố Quốc Tử Giám, phía Nam.
- Phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học
- Phía Tây là phố Tôn Đức Thắng
1
- Phía Đông là phố Văn Miếu.
Quần thể kiến trúc này nằm trên diện tích 54,331m2 bao gồm khu ngoại tự và
khu nội tự. Khu ngoại tự gồm có Hồ Văn ở phía bên kia đường Quốc Tử Giám và
khu vườn Giám nằm phía bên tay phải di tích nếu nhìn về hướng Nam. Khu nội tự
với kiến trúc chủ thể là Văn Miếu-nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám-trường đại
học đầu tiên của Việt Nam.
Trải qua hơn 900 năm với bao thăng trầm lịch sử, sau nhiều lần tu sửa, mở
rộng. Di tích hiện nay vẫn còn giữ được những nét kiến trúc của thời Lê và thời
Nguyễn. Tôi xin giới thiệu với các anh chị những mốc lịch sử đáng chú ý như sau :
- Văn Miếu được xây dựng năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông để thờ
Khổng Tử và các vị tiên thánh ngoài ra còn mang chức năng của một trường học
Khổng Tử.
- Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đại bác làm đổ sập toàn bộ khu Quốc Tử
Giám. Ngày nay toàn bộ khu Thái học được xây mới lại vào năm 1999-2000 có diện
tích 1530m2 gồm các công trình kiến trúc chính là tiền đường, hậu đường, tả vu, hữu
vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất
xưa của Quốc Tử Giám.
Về mặt kiến trúc, quần thể di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám có bố cục đăng
đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn
Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy
nhiên quy mô và kiến trúc ở đây đều đơn giản hơn rất nhiều và theo phương thức
nghệ thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Nhìn vào sơ đồ chúng ta có thể thấy tổng thể kiến trúc ở đây được chia thành 5
khu vực riêng biệt, được ngăn cách bởi các tường và các cửa thông nhau : 1 cửa
3
chính và 2 cửa nhỏ 2 bên . 4 khu đầu tiên thuộc về Văn Miếu, khu cuối cùng là khu
Quốc Tử Giám xưa và là khu Thái học hiện nay.
- Khu đầu tiên được gọi là khu Nhập Đạo, bắt đầu từ Văn Miếu Môn cho đến
Đại Trung Môn. 2 bên Văn Miếu Môn có 2 cửa nhỏ là Tả môn và Hữu môn. Trước
đây Văn Miếu Môn chỉ được mở khi các bậc vua quan đến thăm Văn Miếu và tế lễ
Khổng Tử, ngày thường, dân thường và học trò ra vào bằng 2 cổng 2 bên. 2 bên khu
nhập đạo có các hồ nước và đường thần đạo. Trong khu vực Văn Miếu ngoài hồ Văn
ở phía trước còn có 5 hồ nước với ý nghĩa tụ phúc, cân bằng âm dương.
- Khu thứ 2 là khu Thành Đạt, trải dài từ Đại Trung Môn đến Khuê Văn Các.
Tên gọi Đại Trung Môn bắt nguồn từ tên 2 cuốn sách Đại Học và Trung Dung (2
trong 4 sách của Nho Giáo cùng với Luận Ngữ và Mạnh Tử). qua cổng Đại Trung
Môn sẽ đến khu Thành Đạt lấy từ tên 2 cổng nhỏ là Thành Đức và Đạt Tài với ý
nghĩa giáo dục con người phải vừa có đức vừa có tài. Trên nóc cổng Đại Trung Môn
5
Chào các anh chị và các bạn !
Tên tôi là Đàm Xuân Nguyên – Thuyết minh viên tại điểm khu di tích Văn
Miếu Quốc Tử Giám.
Bây giờ tôi xin hướng dẫn anh chị và các bạn tham quan khu di tích Hồ Văn và
khu Vườn Giám.
Phía nam, trước mặt Văn Miếu là Hồ Minh Đường hay Văn hồ, dân gian
thường gọi là Hồ Giám. Chính quyền thành phố Hà Nội đã cố gắng giải toả, nhưng
hiện nay diện tích cũng chỉ còn được 12297 m 2, giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò
dựng Phán Thuỷ đường (là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành
xưa). Theo ý đồ kiến trúc, đây vốn là cái "tiểu minh đường" của Văn Miếu, là một bộ
phận khăng khít của toàn bộ công trình kiến trúc chung. Năm 1863, trong dịp sửa nhà
bia Văn Miếu, Văn Hồ đã được một lần tu sửa. Sự việc này còn ghi lại rõ ràng trên
tấm bia đá dựng ở gò giữa hồ: Trước miếu có hồ lớn, trong hồ có gò Kim Châu, vào
khoảng niên hiệu Cảnh Trị (1668-1671), Tham tụng họ Phạm (Phạm Công Trứ) làm
6
10 bài thơ vịnh Phán thuỷ để ghi lại cảnh đẹp ... Mùa thu năm Quý Hợi niên hiệu Tự
Đức (1863) Lê Hữu Thanh: người xã Thượng Tầm, huyện Thanh Quan, tỉnh Nam
Định, đỗ Cử nhân năm 1850, Hoàng giáp năm 1851 cùng Cao đài Đặng Lương Phủ
(Đặng Tá) dựng đình bia Tiến sĩ và sửa sang khu hồ ... Mùa thu năm Ất Sửu (1865),
Đặng sứ quân lại xuất tiền nhà xây một đình trên gò Kim Châu. Đình làm xong gọi là
Văn hồ đình. ...
Ngày 12/2/1998, trong khi nạo vét cải tạo hồ Văn đã tìm thấy tấm bia Hoàn
Văn hồ bi, soạn năm Bảo Đại thứ 17 (1942), do cử nhân khoa Quý Mão Hoàng Huân
Trung soạn. Điều đặc biệt là mặt sau của bia khắc bản dịch chữ Hán ra chữ Quốc
Tiếp theo sau đây tôi sẽ hướng dẫn các anh chị và các bạn về Tứ Trụ hạ môn
và bia Hạ Mã
Đối diện với Hồ Văn là cổng Tam quan .Khu này được bắt đầu bằng Tứ Trụ và
hai bia Hạ Mã ở hai bên. Trước kia tứ Trụ soi bong xuống mặt Hồ Văn nhưng nay đã
bị ngăn cách bởi phố Quốc Tử Giám.
Tứ Trụ được xây bằng gạch hai trụ giữa xây cao hơn có hình hai con Nghê
chầu vào.theo quan niệm tâm linh xưa, con Nghê là con vật linh không hại ai,nó có
khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện, Bởi vậy, nó được tạc hình trên đỉnh tứ trụ
nghi môn với mục đích trông giữ, coi sóc, giám sát tư cách của những người ra vào
Văn Miếu, bảo vệ cho sự tôn nghiêm với đền đài của văn chương.
8
Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng xoè cánh, đuôi chắp vào nhau.
Phượng là con vật linh biểu hiện cho tầng trên với ý nghĩa: Đầu đội chân lí, mắt là
mặt trời, lưng cõng bầu trời, long là cây cỏ, cánh là gió ,đuôi là tinh tú, chân là đất.
Vì thế nó tượng trưng cho cả vũ trụ mang tư cách vận chuyển bầu trời.
Hai tấm bia Hạ Mã được đặt trong hai nhà bia nhỏ xây gạch, xưa kia dù công
hầu hay khanh tướng, dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống
đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ Mã nay sang tấm bia Hạ Mã kia lại mới lên ngựa lên xe đi
tiếp.
Tứ trụ có đôi câu đối chữ Hán:
Đông, tây, nam, bắc do tư đạo
Công, khanh, phu sĩ, xuất thử đồ
Tạm dịch là:
Đông, tây, nam, bắc cùng đạo này (đạo Nho)
Công, khanh, phu sĩ xuất thân từ đường này
Tôi xin hết phần hướng dẫn của mình, mời các anh chị và các bạn tham quan và lằng
còn chỉ còn hai bệ bia bằng đá, hai mặt bệ là hình hổ phù rất đẹp. Hổ Phù là một quỷ
vương kẻ thù của mặt trăng và mặt trời,hay tìm nuốt mặt trăng và mặt trời tạo ra hiện
tượng nguyệt thực và nhật thực:nguyệt thực toàn phần được người Việt Nam xem
như là đói và chiến tranh, Nguyệt thực một phần sẽ no đủ cho nên người ta hay
chạmHổ Phù về mặt trăng sa,sau nay thay bằng chữ nho hay hoa cúc để cầu sự no đủ.
Phía trước cổng tam quan là đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong là đôi
rồng mang phong cách đời Nguyễn .Hai mặt tam quan đều được đắp nổi hai câu đối
chữ Hán.Bên trái trước cổng tam quan đắp nổi cảnh “Long ngư hội tụ” Cá- Rồng ẩn
hiện trong mây ví như cảnh thanh vân đắc lộ của các nho sinh thành đạt,bên phải là
cảnh “mãnh Hổ hạ Sơn” núi rừng mây nước nổi bật lên dáng dấp của một con hổ
hung dũng xuống núi ví như các bậc thức giả khí thế bước vào đời.
Tiếp theo là “ Tả môn” và “Hữu môn” ở hai bên nhỏ hơn và thấp hơn cũng xây
bốn mái hiên và bốn mái nóc nhìn tựa như kiến trúc hai tầng .Cổng tam quan chỉ
được mở khi các bậc vua quan tới thăm văn miếu và tế lễ Khổng Tử .Còn học trò và
thứ dân thì phải đi bằng hai cửa ngách. Vâng, bây giờ chúng ta sẽ thử một lần được
làm vua,tiếp tục đi qua cổng giữa để vào thăm văn miếu.
Tôi xin kết thúc phần hướng dẫn của mình tại đây, mời anh chị và các bạn
tham quan điểm di tích tiếp theo qua lời hướng dẫn của HDV tại điểm.
11
Chào các anh chị và các bạn !
Tên tôi là Bùi Thanh Sơn – Thuyết minh viên tại điểm Đại Trung Môn của
khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Sau đây tối xin hướng dẫn anh chị và các bạn tham quan điểm di tích tiếp theo
đó là Đại Trung Môn.
Theo con đường lát gạch này dẫn tới khu thứ hai được bắt đầu bằng cửa “Đại
Trung Môn”, 2 bên là hai cổng nhỏ có tên là “Thành đức” và “Đạt tài” mang ý nghĩa
Nguyễn đương thời cho xây dựng vào năm 1805. Với lối kiến trúc độc đáo, là một
lầu vuông gỗ 2 tầng, 8 mái, mái lợp ngói ống với lối kiến trúc đường diềm, bao gồm
4 mái thượng và 4 mái hạ, cao gần chín thước, trên nóc mái có hình tượng Lưỡng
Long trầu Nguyệt ( Mặt trăng ở giữa hai bên là Rồng) nó có ý nghĩa rất sâu xa đối với
văn hóa tâm linh, nơi hội tụ những ánh sáng tinh tú nhất của đất trời như ta thấy theo
hướng tay tôi chỉ. Theo kinh dịch những con số lẻ (1,3,5,7,9) thuộc về dương biểu
hiện sự sinh sôi nẩy nở và phát triển, nhưng Khuê Văn Các lại có 8 mái là bát quái,
có thêm một nóc ở trên là 9, số cửu trù, số cực dương.
14
Bốn cạnh sàn có diềm gỗ chạm trổ tinh vi. Bốn góc sàn lan can con tiện cũng
bằng gỗ. Bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa sổ tròn có những thanh
gỗ chống tỏa ra bốn phía. Cửa và những thanh gỗ chống tượng trưng cho Sao Khuê
và những tia sáng của sao. Theo quan điểm của thiên văn học truyền thống, Sao Khuê
là tên một sao trong chòm 28 sao, là đầu Bạch Hổ Phương Tây, có 16 ngôi , xắp xếp
khúc khửu giống hình chữ Văn trong chữ Hán vì thế theo quan niệm của triết học
Phương Tây, Sao Khuê được coi là sao coi sóc việc học hành, thi cử.
Mé trên sát mái phía cửa ngoài vào có treo biển sơn son thiếp vàng ba chữ
“Khuê Văn Các” mỗi mặt tường gỗ đều chạm một đôi câu đối chữ Hán thiếp vàng cả
bốn đôi câu đối này đều rất có ý nghĩa, nội dung câu đối như sau:
1/Khuê tinh thiên lãng nhân văn xiển / Bích thủy xuân thâm đạo mạch trường.
2/Hy triều phấn sức long văn trị / Kiệt các trân tàng tập đại quan.
3/ Thành lâm Bắc Đẩu hồi nguyên khí / Nguyệt tế thu đàm chiếu cố tâm.
4/ Thánh hiền nhất thống đồ thư phủ / Văn hiến thiên thu lễ nghĩa bang.
Tạm dich nghĩa như sau:
1/ Sao Khuê trời sáng, văn minh rộng / Sông Bích xuân sâu, mạch đạo đài.
2/ Triều ta tô điểm nhiều văn trị / Gác đẹp văn hay đón khách xem.
3/ Bắc Đẩu soi thành nhiều khí tốt / Đầm thu bóng nguyệt sáng lòng xưa.
hợp tác của quý khách chúc quý khách một ngày vui vẻ hẹn gặp lại quý khách vào
một ngày gần nhất.
16
Chào các anh chị và các bạn !
Tên tôi là Hoàng Hữu Nhàn – Thuyết minh viên tại điểm Đại Trung Môn của
khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám.
Tiếp theo tôi sẽ hướng dẫn anh chị và các bạn về Giếng Thiên Quang.
Cạnh Khuê Văn Các là Giếng Thiên Quang đầy nước trong xanh in hình Khuê
Văn Các. Gác Khuê Văn xứng đáng với lời bình là một viên ngọc trong khu di
tích Văn miếu-Quốc Tử Giám. Hai bên Khuê Văn Các là hai cửa Bí Văn (văn đẹp
đẽ, trau truốt, sang sủa) và súc văn (văn hàm ý, súc tích có sức truyền cảm thuyết
phục con người).
Sau đây xin mời các bạn đến với giếng Thiên Quang hay còn gọi là Văn Trì
tức Ao Vua. Thiên Quang có nghĩa là giếng trời trong sáng .Đặt tên này cho giếng
ý muốn nói con người thu nhận được tinh tuý của vũ trụ ,soi sáng trí thức ,nâng cao
phẩm chất ,tô đẹp nền nhân văn. Giếng có hình dáng rất đặc biệt: hình vuông, quanh
17
bờ có hành lang bao quanh .Kiến trúc này được xây dựng theo quan niệm của người
xưa: Giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác văn khuê tượng trưng cho
trời. Như vậy, tinh hoa của cả đất và trời được tập trung ở trung tâm văn hoá giáo dục
lớn nhất cả nước tại kinh đô Thăng Long.
18
Đế bia :ở đây là rùa,rùa được coi là 1 trong tứ linh,rùa sống lâu nên được chọn
làm biểu trưng cho sự trường tồn vĩnh cửu.Đặt bia đá trên lưng rùa là ngụ ý biểu
dương người hiền tài muốn tên tuổi của họ được lưu danh muôn thủa,qua đó khuyến
khích người dân noi gương học tập.
82 tấm bia tiến sĩ là 82 phong cách điêu khắc khác nhau,tuy nhiên có thể chia
làm 3 loại cho 3 giai đoạn.
Loại I: Các bia dựng năm 1484 đến năm 1536.Rùa loại này được thể hiện bằng
những khối tròn,trơn nhẵn,đường nét tinh tế,trán bia hình bán nguyệt,bẹt,trên trán bia
có trạm khắc hình trang trí hoa văn.Hoa văn trang trí trên trán bia theo chủ đề mây
vờn nguyệt hoặc mặt trời,diềm bia trang trí chủ yếu là hình mây,hoa dây.
Loại II: Các bia dựng năm Thịnh Đức thứ nhất(1653),rùa loại này chỉ phác họa
bằng những khối vuông,góc cạnh,đường nét đơn giản dứt khoát,cổ rụt,đầu chếch hoặc
bằng ngang,miệng rộng co hình vòng cung,không có răng nanh,chân tạc sơ sài.Trán
bia hình bán nguyệt vòng cao.Hoa trang trí trên trán bia đã thay đổi nhiều với chủ đề
“Song long vọng nguyệt”.Rồng được chạm với dáng mập,thân nổi lên cuồn cuộn với
những hình khối tròn,chắc nịch và đường chạm sâu.Diềm bia được chạm trổ sâu với
những biểu tượng hoa văn đa dạng hơn.
20
Loại III: Gồm các bia được dựng từ năm 1717 đến năm 1780. Ngoài chủ đề
“Lưỡng long chầu nguyệt” được chạm trên bia đá, ở 1 số bia có hình phượng thế
đang bay vờn quanh mặt nguyệt.Biểu tượng trang trí trên diềm bia càng về sau càng
đa dạng và phong phú hơn, điều đó thể hiện sự phóng khoáng, phong phú trong sinh
hoạt của tầng lớp Nho sĩ, sự phát triển sinh động của cuộc sống đương thời.
Và ngày ấy để đỗ được tiến sĩ các sĩ tử phải mất từ 10 đến 15 năm đèn sách và
phải trải qua 3 kì thi đó là thi Hương,thi Hội và thi Đình.
Thi Hương thường 3 năm tổ chức 1 lần tại 1 trấn(nay thuộc 1 tỉnh như hiện
nay) ai đỗ được kỳ thi này mới được tiếp tục tham gia kì thi hội.
Thi Hội thường được tổ chức tại kinh đô và địa điểm thi là tại 1 bãi đất trống
Tôi xin hết phần trình bày của mình. Chúc quý khách có buổi tham quan vui
vẻ.
22
Chào anh chị và các bạn!
Xin tự giới thiệu tôi là Phạm Thành Trung. Là người sẽ hướng dẫn các anh
chị tham quan và hiểu biết về điểm di tích tiếp theo đó là khu Đại Hành thuộc khu
Văn miếu Quốc Tử Giám.
Vâng! các bạn vừa được tham quan khu nhà bia một niềm tự hào của nền văn
hoá việt,và sau đây xin mời các bạn tiếp tục đến với khu vực thứ tư của văn miếu đó
là Đại Hành Môn.
Đại Hành Môn là khu vực chính thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết bao gồm
Đại Thành môn, nhà Đại Bái và hai dãy Đông Vu, Tây Vu. Trước khi vào Đại hành
môn chúng ta sẽ đi qua cửa Đại hành.
Cửa Đại Thành gồm 3 giam 2 cột hiên trước và sau giống như cửa Đại Trung
một hang giữa đỡ xà nóc, ba gian đều được lắp của gỗ sơn đỏ trên có hoạ tiết
rồng,mây. Gian giữa đề ba chữ: Đại Thành Môn. Cửa Đại Thành là cửa của sự thành
đạt lớn lao mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính mang một cái tên đấy ý
nghĩa về học vấn, đạo đức. Hai bên cổng đại thành có 2 cửa phụ: Kim Thanh ở phía
23
đông và Ngọc Chấn ở phía tây, đây là 2 lối vào sân đại bái và điện đại thành, bởi ở
đây trước kia chỉ tế Khổng Tử thì cổng đại thành mới mở.
Chính giữa, trên giáp nóc có treo bức hoành khắc 3 chữ ( Đại Hành Môn) theo
chiều ngang, đọc từ phải sang trái. Bên phải hai hàng chữ nhỏ dọc khắc Lý Thánh
nhất của Đức Khổng Tử, đúng đầu trong khoa đức hạnh của của Khổng. Được người
đời xưng tụng là Phục Thánh Nhan Tử.
Cạnh là Thuật Thánh Tử Tư (cháu nội của Khổng Tử), Tử tư không theo học
trực tiếp với ông nội mà theo hoc Tăng Tử- một học trò cùa Khổng Tử. Tử Tư tạo
nên một phái lớn trong Nho Giáo là phái Tử Tư.
Đối diện là tượng thờ Tông Thánh Tăng Tử và Á Thánh Mạnh Tử. Là học trò
duy nhất hiểu được đạo Nhất quán của Khổng Tử và viết nên sách Luận Ngữ.Tăng
Tử cũng được đời sau tôn lên làm gương hiếu thứ 3 trong nhị thập tứ hiếu. Mạnh Tử
là học trò của Tử Tư. Ông là người soạn sách mạnh tử và lập ra thuyết tánh thiện
(nhân chi sơ tánh bổn thiện). Người ta tôn Mạnh từ là Á Thánh đúng hàng thứ nhì
dưới Khổng Tử.
Hai gian đầu hồi là 10 bia đá bài vị Thập Triết, là nhũng người tiêu biểu cho 4
khoa: Đức hạnh, ngôn ngữ, chính trị, văn học.
25