Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (LV thạc sĩ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI HOÀNG LAN

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC
Ở XÃ THÀNH CÔNG, HUYỆN NGUYÊN BÌNH,
TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI HOÀNG LAN

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÂY THUỐC
Ở XÃ THÀNH CÔNG, HUYỆN NGUYÊN BÌNH,
TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC
Mã số: 60 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. SỸ DANH THƯỜNG

THÁI NGUYÊN - 2016


kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa
học, cùng bạn bè, đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày

tháng 9 năm 2016

Tác giả

Bùi Hoàng Lan

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
BẢNG CHỦ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................... v
DANH MỤC CÁC HÌNH............................................................................................ vi
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề ................................................................................................................. 1
2. Thời gian và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................................ 3
1.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật và hệ thực vật .............................................. 3
1.1.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật ................................................................... 3
1.1.2. Những nghiên cứu về hệ thực vật ....................................................................... 6
1.2. Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc trên thế giới và ở Việt Nam ............ 8

4.1. Đa dạng hệ thực vật ở khu vực nghiên cứu ......................................................... 28
4.2. Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu vực nghiên cứu ............................... 28
4.2.1. Đa dạng ở mức độ ngành .................................................................................. 28
4.2.2. Đa dạng ở mức độ họ ........................................................................................ 31
4.2.3. Đa dạng ở mức độ chi ....................................................................................... 32
4.3. Đa dạng của các loài cây thuốc trong các trạng thái thảm thực vật .................... 33
4.3.1. Đa dạng các bậc taxon cây thuốc trong các trạng thái thảm thực vật............... 33
4.3.2. Đa dạng các họ trong từng trạng thái thảm thực vật......................................... 35
4.3.3. Thành phần loài cây thuốc trong trạng thái thảm cỏ ........................................ 37
4.3.4. Thành phần loài cây thuốc trong trạng thái thảm cây bụi ................................ 39
4.3.5. Thành phần loài cây thuốc trong rừng trồng thông .......................................... 41
4.3.6. Thành phần loài cây thuốc trong rừng thứ sinh ................................................ 43
4.4. Đa dạng các yếu tố địa lý thực vật của các loài cây thuốc .................................. 45
4.5. Đa dạng thành phần dạng sống của các loài cây thuốc ....................................... 48
4.6. Đa dạng về các bộ phận làm thuốc của các loài cây thuốc .................................. 49
4.7. Đa dạng về các bệnh chữa trị ............................................................................... 51
4.8. Tình hình sử dụng cây thuốc ở địa phương và một số bài thuốc thu thập được .... 53
4.9. Danh sách các loài cây thuốc quý hiếm ở khu vực nghiên cứu ........................... 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ....................................................................................... 58
I. Kết luận ................................................................................................................... 58
2. Đề nghị .................................................................................................................... 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 61
PHỤ LỤC.......................................................................................................................

iv


BẢNG CHỦ THÍCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

Viết đầy đủ

OTC

Ô tiêu chuẩn

SĐVN

Sách đỏ Việt Nam

VU

Sẽ nguy cấp

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Hiện trạng rừng và các loại đất đai ............................................................ 22
Bảng 3.2. Hiện trạng trữ lượng rừng .......................................................................... 24
Bảng 4.1. Sự phân bố các họ, chi, loài trong các ngành thực vật ............................... 28
Bảng 4.2. Thành phần các bậc taxon cây thuốc ở KVNC .......................................... 29
Bảng 4.3. Số lượng họ, chi, loài cây thuốc trong ngành Ngọc lan ............................. 30
Bảng 4.4. Các họ cây thuốc đa dạng nhất trong khu vực nghiên cứu ........................ 31
Bảng 4.5. Các chi đa dạng nhất tại khu vực nghiên cứu ............................................ 32
Bảng 4.6. Sự phân bố các bậc taxon thực vật làm thuốc trong các trạng thái thảm
thực vật ở KVNC....................................................................................... 33
Bảng 4.7. Các họ có số loài cây thuốc nhiều (từ 2 loài trở lên) trong các trạng thái
thảm thực vật ở khu vực nghiên cứu ......................................................... 35
Bảng 4.8. Sự phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở trạng thái thảm cỏ ở KVCN ...... 37
Bảng 4.9. Sự phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở thảm cây bụi tại KVNC ............. 39
Bảng 4.10. Sự phân bố các họ, chi, loài cây thuốc ở rừng trồng thông tại KVNC .... 41

độ khác nhau.
Ngày nay, việc tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để làm
thuốc là một xu thế được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm. Việt Nam là một trong
những quốc gia thuộc vùng nhiệt đới - nơi chứa đựng giá trị đa dạng sinh học cao chưa
được khám phá. Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc ở nước ta cũng có vốn tri thức
bản địa sử dụng các loài thực vật làm thuốc. Đây là lĩnh vực được các nhà khoa học
coi là một tiềm năng trong việc tìm kiếm nghiên cứu tạo ra những loại thuốc mới, có
hiệu lực điều trị cao trong tương lai.
Xã Thành Công là một xã nằm ở phía nam huyện Nguyên Bình có vị trí địa lý:
phía bắc giáp xã Phan Thanh và Quang Thành, phía đông giáp xã Hưng Đạo, phía nam
giáp xã Cốc Đán (huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn) và xã Phúc Lộc, Bành Trạch (huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), phía tây giáp xã Phan Thanh. Xã Thành Công còn là một trong
5 xã thuộc vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, có tổng diện tích
là 8166.5 ha. Trong đó đất lâm nghiệp là 7427.9 ha (rừng tự nhiên 4747.4 ha, rừng
trồng 200.2 ha). Dân số là 2592 người, bao gồm 5 dân tộc anh em sinh sống là Dao,
Nùng, Kinh, Tày và H’Mông, mật độ dân cư là 31 người/km2. Do nằm ở vùng lõi của
Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén và là nơi tập trung nhiều khoáng sản, vì
vậy hệ thực vật rừng nơi đây chịu tác động từ con người rất lớn. Việc nghiên cứu, điều
tra số loài thực vật hiện có, thống kê số lượng các loài thực vật có giá trị đặc biệt là các
loài làm thuốc nhằm đề ra các biện pháp bảo tồn và giữ gìn bền vững hệ thực vật nơi
đây là rất cần thiết.
Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ở
xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”.
1


2. Thời gian và phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 4 năm 2015 đến tháng
4 năm 2016.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tính đa dạng cây thuốc

thảm thực vật, hoặc là không làm nổi bật mối quan hệ qua lại giữa các nhân tố sinh thái
với nhau.
UNESCO (1973)[60] đã đưa ra khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên
những tiêu chuẩn chung nhất để có thể so sánh được các kết quả nghiên cứu ở các vùng
khác nhau và có thể được thể hiện trên bản đồ có tỷ lệ 1:1.000.000 hay bé hơn. Tiêu
chuẩn cơ bản của hệ thống phân loại này là cấu trúc ngoại mạo với sự bổ sung của các
3


thông tin về sinh thái, địa lý. Đây là bảng phân loại tuy còn mang tính chất nhân tạo
nhưng lại cần thiết theo yêu cầu thực tế hiện nay. Cấu trúc của hệ thống được sắp xếp
từ bậc cao đến bậc thấp như sau:
I. Lớp quần hệ;
I.A. Phân lớp quần hệ;
I.A.1. Nhóm quần hệ;
I.A.1.1. Quần hệ;
I.A.1.1.1. Phân quần hệ.
Ở Việt Nam, bảng phân loại thảm thực vật đầu tiên là của A.Chevalier (1918),
ông đã phân loại rừng Bắc bộ với 10 kiểu khác nhau [56]
Từ năm 1960, Loschau đưa ra một hệ thống phân loại rừng theo trạng thái ở
Quảng Ninh. Cục Điều tra và Quy hoạch rừng đã áp dụng cách phân loại này để đề
xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp. Theo hệ thống này thảm thực vật Việt Nam được
chia thành 4 loại hình lớn như sau:
- Loại hình I: đất đai hoang trọc, trảng cỏ và cây bụi, chưa có rừng hoặc không
có rừng.
- Loại hình II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc
tỉa thưa.
- Loại hình III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo
kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi.
- Loại hình IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị

10. Rừng kín hỗn hợp cây lá rộng lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp
11. Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm ôn đới núi cao
12. Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp
13. Kiểu quần hệ khô vùng cao
14. Kiểu quần hệ lạnh vùng cao
Hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng mang thứ bậc rõ ràng, là một đóng góp
lớn cho ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên hệ thống này cũng có nhược điểm là rất khó áp
dụng cho những vùng lãnh thổ có diện tích không lớn.
Phan Kế Lộc (1985) [29] dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973)[60],
cũng đã xây dựng khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ,
15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997)
cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông [38].
Vũ Tự Lập (1995) [27] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân
bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm. Dựa vào mối quan hệ giữa hình thái
thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa
rụng lá, kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh, kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa
rụng lá, kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá, kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá
kim, kiểu sa van nhiệt đới khô, kiểu truông nhiệt đới khô, kiểu rùng nhiệt đới trên đất
đá vôi, kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn, kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn, kiểu rừng
rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao, kiểu
rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín, kiểu rừng rậm á nhiệt đới mưa mùa, kiểu rừng lùn
đỉnh cao.
5


Lê Ngọc Công (2004) [14] cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO
(1973)[60] , đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ:
rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ. Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được
hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương
rẫy…), bao gồm: trảng cỏ, trảng cây bụi và rừng thưa.

Năm 1998, Phan Kế Lộc điều tra phát hiện 20 loài cây có tanin thuộc họ Trinh
nữ (Mimosaceae) và giới thiệu có 4 loài khác ở Việt Nam có tannin [28].
Phan Nguyên Hồng (1991) [23] lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác
(dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển
hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn.
Lê Mộng Chân (1994) [4] điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn Quốc gia Ba Vì
đã phát hiện được 483 loài thuộc 32 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó gặp
7 loài được mô tả lần đầu tiên.
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995) [12] nghiên cứu thành phần loài, dạng
sống của savan bụi vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc
47 họ khác nhau.
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [24] khi nghiên cứu một số đặc điểm
sinh thái, sinh vật học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã ghi nhận 60
họ thực vật khác nhau với 131 loài.
Đỗ Tất Lợi (1995) [30] khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài
thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta.
Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (1996) [17] nghiên cứu của sự biến động thành
phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh
hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị
diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giảm hóa để tái ổn định.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) [38] đã thống kê thành phần loài của Vườn Quốc
gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 loài cây có ích thuộc 478
chi, 213 họ của 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín. Các loài này được xếp thành
8 nhóm có giá trị khác nhau. Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu
dầu và chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) [38] khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu
hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực
vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ.
7

Lịch sử nghiên cứu về cây thuốc đã xuất hiện cách đây hàng nghìn năm. Nước
ta cũng như nhiều nước trên thế giới (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ…) đã
8


chú ý sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa bệnh, đặc biệt phát triển rộng rãi ở các
nước phương Đông.
Tài liệu cổ về cây thuốc hiện còn lại không nhiều, tuy nhiên có thể coi năm 2838
trước Công nguyên (TCN) là năm hình thành bộ môn nghiên cứu cây thuốc và dược
liệu. Cuốn “Kinh Thần Nông” (Shén nong Bencaoing, vào thế kỷ I sau Công nguyên
(SCN)) đã ghi chép 364 vị thuốc. Đây là cuốn sách tạo nền tảng cho sự phát triển liên
tục của nền y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay [6].
Năm 1595, Lý Thời Trân (Trung Quốc) đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về
cây thuốc và dược liệu để soạn thành quyển: “Bản thảo cương mục”. Đây là cuốn sách
vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực này. Tác giả đã mô tả và giới thiệu 1.094 cây
thuốc và vị thuốc từ cây cỏ [42].
Năm 384 - 322 (TCN), Aristote người Hy Lạp đã ghi chép và lưu trữ sớm nhất
về kiến thức cây cỏ ở nước này. Sau đó, năm 340 (TCN) Theophraste với tác phẩm
“Lịch sử thực vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng. Tuy công
trình của ông mới chỉ dừng lại ở mức mô tả, thống kê, song nó mở đầu cho một giai
đoạn tìm tòi, nghiên cứu sâu về lĩnh vực này [11].
Thầy thuốc người Hy Lạp Dioscorides năm 60 - 20 (TCN) giới thiệu 600 loài
cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh. Đồng thời, ông cũng là người đặt nền móng cho nền y
dược học [11].
Năm 79 - 24 (TCN) nhà tự nhiên học người La Mã Plinus soạn thảo sách “Vạn
vật học” gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây có ích [11].
Năm 1952, tác giả người Pháp A. Pétélot có công trình “Les phantes de
médicinales du Cambodye, du Lao et du Việt Nam” gồm 4 tập nghiên cứu về cây thuốc
và sản phẩm làm thuốc từ thục vật ở Đông Dương.
Như vậy, những công trình nghiên cứu về dược liệu đã có từ lâu đời, hình thành

cấp cho quân y [11].
Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đã thừa kế dược
học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo”, nội dung gồm 496 vị thuốc Nam
của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm hơn 300 vị thuốc nữa. Tư liệu vĩ đại nhất
của ông là bộ sách “Hải thượng y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển viết về lý luận cơ bản,
phương pháp chuẩn đoán, trị bệnh [20].
Ngoài bộ sách trên, còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm” của Nguyễn Nho
và Ngô Văn Tình gồm 8 tập, xuất bản năm 1763. Tập “Nam bang thảo mộc” của Trần
Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản năm 1858 [16].
Triều Tây Sơn (1788 - 1808) Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam dược” với 620
vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền [11].
10


Triều Nguyễn (1802 - 1845) có quyển “Nam dược tập nghiệm quốc âm” của
Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian [11].
Sau cách mạng tháng 8 - 1945, y dược học cổ truyền đạt được những thành tựu
to lớn. Dưới sự lãnh đạo của Bộ Y tế cùng y học hiện đại, sức khỏe của người dân được
quan tâm và chăm lo chu đáo hơn [11].
Sau khi nước nhà thống nhất (năm 1975), việc nghiên cứu cây thuốc ở nước ta
được quan tâm nhiều. Có nhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu, tìm tòi và phát hiện thêm
nhiều loài cây thuốc mới [11].
Trần Đình Lý (1995) đã xuất bản “1900 loài cây có ích” cho biết trong số các
loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam, có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài
có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị, 40 loài
tre nứa, 40 loài song mây [31].
Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức với tác phẩm “Cây thuốc Việt
Nam” (1995) đã mô tả hơn 830 loài cây thuốc và giới thiệu cách trồng, hái, chế biến,
trị bệnh ban đầu [21].
Đỗ Tất Lợi (1970 - 2005) khi nghiên cứu các loài cây thuốc và vị thuốc Việt

Cần và Trần Sỹ Viên (2007) đã thống kê trên 500 vị thuốc Nam - Bắc thường dùng với
hàng chục nghìn bài thuốc trong cuốn “Cây thuốc, vị thuốc, bài thuốc Việt Nam” [3].
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về y học cổ truyền bản địa của các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam còn ít đề cập đến, có thể nói công trình đầu tiên của Võ Thị Thường
(1986) đã nghiên cứu các loài cây ăn được của đồng bào Mường. Trong đó tác giả đã
giới thiệu 89 loài thuộc 38 họ, đồng thời đưa ra một số nhận xét về mối quan hệ giữa
việc sử dụng cây thuốc của đồng bào Mường với điều kiện sống và nơi ở của họ. Công
trình nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Hạnh, Ngô Trực Nhã (2001) về
vấn đề Thực vật học dân tộc: Cây thuốc của đồng bào Thái ở Con Cuông - Nghệ An.
Trong đó các tác giả đã đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc, vấn đề sử
dụng cây thuốc và đặc biệt là đánh giá tính hiệu quả của cây thuốc mà đồng bào dân
tộc Thái sử dụng. Năm 2003, Trần Văn Ơn trong luận án Tiến sĩ dược học “Góp phần
nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc gia Ba Vì”, ông đã điều tra được 503 loài
cây thuốc được người Dao sử dụng thuộc 321 chi, 118 họ của 5 ngành thực vật [32].
Trên thế giới cũng như Việt Nam đều đánh giá cao sự phong phú, ý nghĩa thực
tiễn, giá trị khoa học cũng như giá trị thực tiễn của nguồn tài nguyên cây thuốc. Cây
thuốc dân tộc và đặc biệt tri thức y học dân tộc cổ truyền Việt Nam đã góp phần không
nhỏ trong việc duy trì, tồn tại và phát triển của dân tộc ta từ xa xưa đến nay. Việc ứng
12


dụng những kinh nghiệm dân gian và nghiên cứu Thực vật học dân tộc ở Việt Nam nói
chung và các dân tộc thiểu số nói riêng là rất cần thiết để góp phần phát triển nền kinh
tế của đồng bào dân tộc. Vì vậy, để phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp cũng như
góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn những kinh nghiệm
phong phú và quý báu của đồng bào dân tộc thì vấn đề điều tra, thu thập cây thuốc và
kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng là hoạt động quan trọng nhất trong công tác bảo
tồn.
1.3. Những nghiên cứu về các loài thực vật làm thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác nhau,

tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Thực vật rừng,
động vật rừng nhóm II cũng được chia thành: nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng
thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10 loài và ngành Mộc lan với 27 loài, nhóm IIB gồm
các loài động vật rừng.
Ngoài tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” thống kê số loài thực vật có nguy
cơ tuyệt chủng của cả nước, thì các công trình nghiên cứu về các loài có nguy cơ tuyệt
chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít. Một số công trình đáng chú ý là:
Nguyễn Thị Yến (2008) [54] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng
nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 15 loài ở
mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn
của Sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN
Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ (2009) khi nghiên cứu hiện trạng
hệ thực vật ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã thống kê và lập
danh mục số loài thực vật quý hiếm ở khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phương Hoàng
gồm có 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 22 loài có tên trong nghị định số
32/2006/NĐ-CP
Vũ Thị Lượng (2013) khi nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học một số loài cây
thuốc bản địa tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, cho thấy có 10 loại cây mà người
dân bản địa cho là quý hiếm. So sánh đánh giá của người dân với đánh giá của Sách đỏ

14


Việt Nam (2007) cho thấy trong số 10 loại cây người dân cho là quý hiếm thì có tới 4
cây nằm trong Sách đỏ Việt Nam.
1.4. Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật và các loài thực vật
làm thuốc ở Cao Bằng và khu vực nghiên cứu
Những nghiên cứu về thảm thực vật, đa dạng thực vật và các loài thực vật làm
thuốc ở tỉnh Cao Bằng còn ít, chỉ có một số công trình nghiên cứu đó là:

Lĩnh, Hạ Lang, Quảng Uyên: Giảo cổ lam, Kim ngân, Đỗ trọng nam, Kim anh, Cẩu
tích, vv. Tác giả cũng đưa ra một số đề xuất để bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc
quý tại địa phương [25].
Trần Thị Thu Thủy, La Quang Độ, Nguyễn Quang Hùng (2014) khi nghiên cứu
khu hệ thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén đã xác định được thành
phần loài thực vật quý hiếm và nguy cấp tại KBTTN gồm 33 loài thuộc 27 chi, 20 họ
thuộc 3 ngành thực vật khác nhau. Trong đó có 8 loài ở cấp độ thế giới (IUCN, 2011),
16 loài (7 loài thuộc nhóm IA và 9 loài thuộc nhóm IIA) được ghi trong Nghị định
32/2006/NĐ-CP. Dạng sống của thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu có 3 dạng
sống chính là cây chồi trên mặt đất, cây chồi sát mặt đất và nhóm chồi ẩn. Tỷ lệ nhóm
các dạng sống có khác nhau, nhóm có tỷ lệ cao nhất là nhóm chồi trên mặt đất (Ph)
chiếm 78,79%, dạng sống ít nhất nhóm chồi ẩn (Cr) 3,03% [40].
Ngày 30/12/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng đã phê duyệt quy hoạch bảo
tồn đa dạng sinh học tỉnh Cao Bằng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Trong
đó, chuyển hạng khu Bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén thành Vườn Quốc gia
Phia Oắc - Phia Đén nhằm bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng; nguồn gen động
thực vật rừng quý, hiếm (gồm 47 loài thực vật và 66 loài động vật); cảnh quan thiên
nhiên, diện tích tự nhiên 11.960 ha, thuộc huyện Nguyên Bình, trên địa phận của các
xã Ca Thành, Mai Long, Phan Thanh, Quang Thành, Thành Công và một phần nhỏ của
thị trấn Tĩnh Túc và xã Vũ Nông [51].

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status