BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
TÊN HỌC PHẦN
QUẢN TRỊ CÁC TỔ CHỨC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
TÊN TIỂU LUẬN
Xây dựng và phát triển khoa Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch trong bối cảnh hiện nay
Chuyên ngành
: Quản lý văn hóa
Mã số
: 62310642
Tên giảng viên
: TS. Đỗ Thị Thanh Thủy
Tên NCS
: Hoàng Thị Bình
Hà Nội, 2016
3
nhiệm vụ; Tổ chức biên soạn đề cương chi tiết các môn học liên quan bảo đảm
tính thống nhất, tránh chồng chéo giữa các môn học của chương trình đào tạo
hoặc giữa các trình độ đào tạo; Tổ chức phát triển chương trình đào tạo, xây
dựng các đề án, biên soạn tài liệu, giáo trình theo định hướng phát triển của nhà
trường; Tổ chức nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập; xây dựng
và thực hiện phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của sinh
viên, bảo đảm chuẩn đầu ra của người học theo cam kết đã được công bố, đáp
ứng nhu cầu sử dụng của thị trường lao động; Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện
các hoạt động khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế; hợp tác với các tổ chức
khoa học và công nghệ, cơ sở sản xuất, kinh doanh liên quan đến ngành nghề
đào tạo và huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo của
khoa; Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên, ngành nghề đào tạo và
cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo và nghiên cứu khoa học, tăng cường điều
kiện bảo đảm chất lượng đào tạo; Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công
tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho giảng viên, người lao
động, người học; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ cho giảng viên và người lao động khác thuộc khoa; Tổ chức đánh giá
cán bộ quản lý, giảng viên, nghiên cứu viên trong khoa...
Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại Khoa còn thiếu nhiều yếu tố
cũng như chưa thể đáp ứng được chức năng, nhiệm vụ được giao. Thực tế này
đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện và căn bản trên cơ sở thực trạng
của Khoa, những yêu cầu chủ quan và khách quan, để đáp ứng một cách có hiệu
quả nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong toàn ngành và
mở rộng liên kết đào tạo theo phương thức xã hội hóa với các đơn vị đào tạo, bồi
dưỡng trong và ngoài nước ngày càng đạt chất lượng, phù hợp với công cuộc đổi
mới của đất nước.
4
cơ cấu tổ chức của Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch. Cơ
cấu tổ chức có 9 đơn vị chức năng và các tổ chức trực thuộc, trong đó có khoa
Khoa Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch.
Tại Quyết định số 202/QĐ-CBQL ngày
tháng
năm 2014 quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Khoa Quản lý văn hóa, thể
thao và du lịch như sau:
Chức năng: giảng dạy; nghiên cứu khoa học; biên soạn chương trình,
giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng thuộc lĩnh vực quản lý Văn hóa, Gia
đình, Thể thao và Du lịch.
Nhiệm vụ:
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch giảng dạy các môn học, chuyên đề
thuộc lĩnh vực quản lýVăn hóa, Gia đình, Thể thao và Du lịch.
- Biên soạn giáo án, bài giảng các môn học, chuyên đề thuộc lĩnh vực
quản lý Văn hóa, Gia đình, Thể thao và Du lịch. Tham gia biên soạn chương
trình, giáo trình, tài liệu khi được Hiệu trưởng giao.
- Bố trí giảng viên, tổ chức ra đề thi, chấm thi các môn học, chuyên đề
theo yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng của Trường.
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học của Khoa; tham
gia nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Trường; viết bài cho bản tin Quản lý
Văn hóa, Thể thao và Du lịch và website của Trường.
- Tham gia điều tra, khảo sát, xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
ngắn hạn, dài hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và đề xuất phương
thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của ngành.
9
giảng viên của Khoa đã mạnh dạn lựa chọn chuyên đề phù hợp khả năng để
nghiên cứu, biên soạn và thông qua Hội đồng thẩm định của Nhà trường.
Tổng số bài giảng của các giảng viên trong Khoa đã thông qua Hội đồng tính
đến nay 16 chuyên đề. Các giảng viên đã tham gia giảng dạy tại các lớp Bồi
dưỡng kiến thức ngạch Chuyên viên, Đào tạoTrung cấp Chính trị - Hành
chính, (lớp Chuyên viên có 03 giảng viên đứng lớp với 05 chuyên đề; lớp
Trung cấp Chính trị có 01 giảng viên với 02 chuyên đề, chương trình đào tạo,
bồi dưỡng công chức văn hóa-xã hội xã/phường 04 giảng viên đứng lớp với 6
chuyên đề). Đây là kết quả ban đầu đánh dấu sự thay đổi đáng kể trong công
tác phát triển đội ngũ giảng viên của Trường.
Hoạt động nghiên cứu khoa học: Hoạt động nghiên cứu khoa học được
các giảng viên thực hiện hàng năm. Trong vòng từ năm từ 2009 -2015, Nhà
trường có 8 đề tài khoa học cấp Trường, trong đó có 03 đề tài do giảng viên
của Khoa làm chủ nhiệm và 01 đề tài giảng viên của Khoa là thành viên
nghiên cứu.
Ngoài việc tham gia nghiên cứu đề tài khoa học cấp cơ sở, các giảng viên
còn tham gia nghiên cứu đề tài cấp Bộ, biên soạn các chuyên đề trong Chương
trình bồi dưỡng chuyên môn, quản lý nhà nước phần Văn hóa dùng cho công chức
văn hóa - xã hội xã, phường, thị trấn theo đặt hàng của Bộ Nội vụ. Tham gia viết
bài cho Bản tin Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch, trang web của Trường.
- Cơ cấu tuổi, giới tính và cơ cấu chuyên môn.
Tính đến thời điểm hiện tại Khoa có 04 giảng viên, đều là nữ; Độ tuổi
từ 30-45 có 2/4 giảng viên, từ 46 đến 55 tuổi có 2/4 giảng viên.
- Về cơ cấu chuyên môn: 02 giảng viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa,
01 giảng viên chuyên ngành Ngữ văn; 01 giảng viên chuyên ngành Phương
pháp sư phạm.
10
phê duyệt. Do vậy, trong mối quan hệ này, phương thức hoạt động của Khoa là
chấp hành theo quy chế phân cấp quản lý và quy chế phối hợp trong Trường.
Nội dung hoạt động chuyên môn bao gồm: Giảng dạy và nghiên cứu
khoa học được triển khai theo quy trình cụ thể.
1.4. Đánh giá chung
Ưu điểm:
- Nhà trường đã và đang đặc biệt quan tâm và đầu tư nâng cao chất
lượng giảng dạy, phát triển đội ngũ giảng viên của Khoa.
- Đội ngũ giảng viên trong Trường nói chung và Khoa Quản lý VHTTHL
nói riêng đã chủ động hơn trong việc đăng ký, biên soạn và tham gia giảng dạy ở
hầu hết các lĩnh vực cũng như các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, từ chuyên
viên, chuyên viên chính, Trung cấp lý luận chính trị-hành chính…
- Chủ động trong công tác nghiên cứu khoa học và biên soạn chương
trình, giáo trình. Nhiều công trình nghiên cứu được đánh giá cao về chất lượng.
Một số hạn chế:
- Đội ngũ giảng viên còn mỏng, thiếu những chuyên gia dày dạn kinh
nghiệm trong nghiên cứu và giảng dạy; cơ cấu chuyên môn chưa hợp lý, thiếu
giảng viên chuyên ngành Du lịch, Thể thao, Gia đình. Thiếu giảng viên có
học hàm, học vị cao.
- Trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu, giảng dạy của đội ngũ
giảng viên không đồng đều.
- Phương thức hoạt động của Khoa chưa thật sự đi vào nề nếp, thiếu
tính khoa học.
Tất cả những tồn tại nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan
và khách quan sau:
Nguyên nhân chủ quan:
12
- Đội ngũ giảng viên còn hạn chế về kiến thức thực tiễn nên thiếu tự
giảng viên.
- Hoàn thiện chế định quyền và nghĩa vụ của giảng viên theo hướng
mở, để có thể phát huy tài năng, sức sáng tạo, khả năng cống hiến trong điều
kiện cơ chế thị trường hiện nay.
- Thu hút, tạo nguồn giảng viên cần kết hợp việc tạo nguồn GV trong
Trường và việc thu hút GV có trình độ cao về trường. Chú trọng bồi dưỡng và
đào tạo nâng cao năng lực, trình độ và kỹ năng cho đội ngũ GV của Trường.
- Đổi mới phương thức quản lý giảng viên theo chỉ tiêu biên chế sang xác
định số lượng các vị trí việc làm trong Khoa. Xây dựng các vị trí việc với số
lượng cụ thể thay thế cho việc giao và phân bổ chỉ tiêu biên chế như hiện nay.
- Xây dựng chính sách đãi ngộ nhằm thu hút nhân tài về công tác tại
Trường: Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ trong tuyển dụng; môi
trường công tác và các điều kiện bảo đảm chất lượng, hiệu quả làm việc của
đội ngũ GV (nhất là đối với các chức danh giáo sư, phó giáo sư, chuyên gia,
giáo viên/giảng viên cao cấp/có học vị TS…)
- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, phát triển đội ngũ
GV đủ về số lượng, cao về chất lượng, có bề dầy kinh nghiệm quản lý và
công tác thực tiễn và có nghiệp vụ sư phạm.
- Xây dựng đội ngũ giảng viên thỉnh giảng có chất lượng nhằm tạo điều
kiện học tập, nâng cao trình độ cho giảng viên của Khoa.
2.3. Đổi mới việc xây dựng nội dung chương trình, phương pháp đào
tạo, bồi dưỡng phù hợp đối tượng người học:
- Xây dựng chương trình, giáo trình và tài liệu phục vụ giảng dạy cho
một hệ thống cán bộ, công chức của chúng ta hiện là một vấn đề rất khó,
không đơn giản, cần phải có và thời gian và đòi hỏi nỗ lực nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học để có thể đổi mới về nội dung chương trình, giáo trình và
14
tài liệu, giảng dạy theo hướng đáp ứng nhu cầu thực tiễn, vị trí công việc với
hạn, nghiên cứu ở nước ngoài để trao đổi kinh nghiệm làm phong phú thêm lý
luận, phương pháp và kỹ năng, hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao và
du lịch cho các cán bộ trẻ, có nhiều triển vọng, trong qui hoạch lâu dài. Bên cạnh
đó, việc tăng cường hợp tác trong đào tạo, bồi dưỡng sẽ tạo điều kiện cho giảng
viên được tham gia học tập tại nước ngoài, phát triển kỹ năng và tích lũy kinh
nghiệm trong giảng dạy.
3. Kiến nghị
3.1. Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả tham mưu với Chính phủ về công tác
quản lý, chỉ đạo ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông qua việc xây dựng
và ban hành hệ thống văn bản quản lý kịp thời, phù hợp tình hình thực tiễn.
- Quan tâm kiện toàn hệ thống đào tạo, bồi dưỡng toàn Ngành, đặc biệt
là Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch. Có sự lãnh đạo thống
nhất trong nội dung, phương pháp, cấp bậc đào tạo từ thấp đến cao theo các
chuyên ngành; Chú trọng bồi dưỡng kiến thức quản lý, lãnh đạo các Sở, mở
rộng hình thức đào tạo trong nước và nước ngoài.
- Quan tâm cân đối ngân sách hàng năm, tăng thêm kinh phí cho hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của
Ngành theo quy định và tiến trình phát triển sâu, rộng của toàn Ngành nói
riêng, cả nước nói chung.
- Có cơ chế, chính sách đãi ngộ phù hợp đối với giảng viên của Trường.
- Xem xét, đánh giá đội ngũ cán bộ hiện có để từ đó có kế hoạch đào
tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn mới. Tăng cường công tác quy
hoạch, đào tạo bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ, cán bộ sau đào tạo bảo
đảm tính khách quan, khoa học, đúng người, đúng việc, đúng năng lực sở
trường của cán bộ.
16
- Quan tâm đầu tư cơ sở, vật chất, trang thiết bị tương xứng, đủ tầm cho
thao và du lịch luôn đặt ra nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là không ngừng nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Sự ra đời của Khoa quản lý văn hóa, thể
thao và du lịch là một yếu tố góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ này.
Tuy nhiên, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đồng thời
đóng góp tích cực và hiệu quả vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Trường,
Khoa cần từng bước “chuẩn hóa” hoạt động của mình nhằm hướng tới là một
“khoa tiêu chuẩn” đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về mô hình hoạt động
của một Học viện.
Để đạt được mục tiêu này, Trường Cán cán bộ quản lý văn hóa, thể
thao và du lịch cần xây dựng và phê duyệt lộ trình cụ thể để kiện toàn về cơ
cấu tổ chức, cơ cấu bộ máy nhân sự, cơ sở vật chất. Đồng thời, Khoa quản lý
văn hóa, thể thao và du lịch cần phải tiến tới triển khai các hoạt động của
mình theo những quy chuẩn được quy định trong các văn bản pháp quy của
Chính phủ, vận dụng những văn bản này một cách uyển chuyển phù hợp với
tình hình thực tiễn của môi trường Đào tạo đại học tại Việt Nam nói chung và
của Nhà trường nói riêng.
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng các hoạt động đã và đang được
Khoa triển khai như biên soạn chuyên đề, thẩm định bài giảng, giảng dạy,
18
nghiên cứu khoa học, khảo sát và tham quan thực tế, Khoa cần tập trung mở
rộng thêm những hoạt động “bổ trợ” cho công tác giảng dạy của giảng viên
như dự giờ, thao giảng, sát hạch giảng viên theo những quy định mang tính
chuyên nghiệp hơn. Công tác nghiên cứu khoa học cũng cần được bổ sung
thêm nhiều hoạt động bên cạnh việc viết bài và tham gia đề tài nghiên cứu
khoa học.
Với sự nghiên cứu kỹ lưỡng về cơ lý thuyết, cơ sở pháp lý và cơ sở
thực tiễn, cùng với sự phân tích khoa học về mô hình Khoa của một số trường
có chức năng nhiệm vụ tương đồng hoặc có những nội dung chuyên đề giảng
của Chính phủ Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn
2011-2020.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
khóa XI.
7. Nguyễn Thị Hoàng Hà (2004), đề tài cấp Trường “Đổi mới phương
pháp giảng dạy và chương trình đào tạo cán bộ, công chức ngành Văn hóaThông tin”.
8. Ths. Lưu Thị Bích Hồng, đề tài cấp Trường: “Nâng cao hiệu quả công
tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ của Trường Bồi dưỡng cán bộ văn hóa, thể
thao và du lịch”.
20
9. Nguyễn Quang Huỳnh (2003), Cơ sở kinh tế-xã hội và một số vấn
đề giáo dục đại học & chuyên nghiệp của Việt Nam đầu thế kỷ 21, Nxb. Đại
học Quốc gia Hà Nội.
10. Ths. Hoàng Thị Lâm (2012), đề tài cấp Trường: “Xây dựng chương
trình khung bồi dưỡng cán bộ quản lý cấp sở ngành văn hóa, thể thao và du lịch
theo Nghị định 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức”.
11. Ths. Ma Kiều Ly (2010), đề tài cấp Trường: “Thực trạng và giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường bồi dưỡng cán bộ quản lý
văn hóa, thể thao và du lịch”.
12. PGS. TS. Lê Đức Ngọc (2004), Giáo dục đại học -Quan điểm và
giải pháp, Nxb. Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
13. Quốc hội nước CHXHCNVN (2008), Luật Cán bộ, công chức.
14. Quốc hội nước CHXHCNVN (2010), Luật Viên chức.
15. Quốc hội nước CHXHCNVN (2012, Luật Giáo dục đại học.
16. TS. Lê Ngọc Thắng (2013), đề tài cấp Trường “Nghiên cứu đề xuất xây
dựng đề án thành lập Học viện Quản lý văn hóa, thể thao và du lịch”.
17. Thủ tướng Chính phủ (1996), Quyết định 874/TTg ngày
20/11/1996 về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức nhà nước.