PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN LÀM CÁC BÀI THỰC HÀNH PHẦN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỚP 10 THPT TỈNH THÁI NGUYÊN THEO HƯỚNG TÍCH CỰC - Pdf 41

Header Page 1 of 120

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ THỊ TÂM

PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN LÀM CÁC BÀI
THỰC HÀNH PHẦN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỚP 10
THPT TỈNH THÁI NGUYÊN
THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ
MÔN ĐỊA LÝ
MÃ SỐ: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN THỊ HỒNG

THÁI NGUYÊN, 2008

Footer Page 1 of 120


Header Page 2 of 120

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM


Những thập niên gần đây nhiều nước trên thế giới rất coi trọng nâng cao
chất lượng và hiệu quả đào tạo ở tất cả các ngành học và cấp học. Trong bối
cảnh đó công nghệ dạy học mới ra đời và được áp dụng ngày càng rộng rãi. Đặc
trưng nổi bật của công nghệ dạy học là sự định lượng hoá mục tiêu dạy học để
việc dạy học trở thành đối tượng có thể quan sát, hệ thống hoá được, trong đó
nội dung dạy học bắt đầu được tổ chức theo xu hướng vận dụng các phương
pháp mới. Theo đó, ngành giáo dục Việt Nam đang từng bước nghiên cứu và áp
dụng công nghệ dạy học cũng như đổi mới PP dạy học, đồng thời chương trình
và sách giáo khoa (CT & SGK) cũng thay đổi phù hợp với nhu cầu học tập đáp
ứng yêu cầu trong quá trình phát triển của đất nước. Hệ thống CT & SGK trong
nhà trường phổ thông các cấp đã có thêm nhiều nội dung mới theo hướng tăng
mạnh kênh hình, giảm dần kênh chữ, tỷ trọng BTH tăng lên đáng kể.
Tuy nhiên, thực trạng giảng dạy trong nhà trường cho thấy thực hành
hiện vẫn là khâu yếu, chưa được quan tâm đầy đủ dẫn tới kết quả học tập của
học sinh chưa tương xứng với yêu cầu. Đây chính là tình hình chung của các
trường phổ thông ở thành phố cũng như vùng nông thôn và đặc biệt là ở vùng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 3 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 4 of 120

2
khó khăn. Nhìn chung CT & SGK Địa lý trước đây nặng về lý thuyết, các
BTH còn ít nên kỹ năng thực hành của học sinh còn yếu và khả năng vận
dụng kiến thức đã học vào thực tế còn hạn chế, tính năng động, sáng tạo, làm

Footer Page 4 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 5 of 120

3
4. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

- Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả bước đầu tìm hiểu một số
phương pháp dạy học tích cực để hướng dẫn làm BTH phần Địa lý tự nhiên
lớp 10 THPT đạt hiệu quả cao.
- Phạm vi ứng dụng của luận văn là một số trường THPT trong địa bàn
tỉnh Thái Nguyên.
5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Việc nghiên cứu và tìm ra các phương pháp tối ưu để giảng dạy các BTH
đã được đề cập tới cả trong và ngoài nước. Song do CT & SGK Địa lý luôn
thay đổi và đây lại là vấn đề tương đối khó, việc nghiên cứu tiến hành phức
tạp, đòi hỏi phải có một quá trình chuẩn bị công phu, vì vậy nó cũng có những
hạn chế nhất định. Các BTH trong SGK thường ít được chú trọng, tâm lý giáo
viên thường ngại dạy vì để dạy tốt BTH thường đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và
phương tiện dạy học kèm theo nên tốn rất nhiều thời gian.
Về phía học sinh để làm tốt các BTH cũng phải có sự chuẩn bị đồ dùng
học tập, sự kiên trì, có óc sáng tạo và nắm chắc kiến thức lý thuyết.
Gần đây, các BTH rất được coi trọng và chú ý. Đã có một số tài liệu đề
cập đến phương pháp để tiến hành giảng dạy các BTH Địa lý nhưng vẫn còn
rất ít ỏi và các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu còn hạn chế, chưa
đúng với tầm quan trọng của nó.

Nxb GD (1975)…
Những tác phẩm trên đều đề cập đến các dạng và hình thức thực hiện
các BTH Địa lý, đó là cơ sở để chúng tôi tham khảo trong quá trình thực
hiện đề tài.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1. Phƣơng pháp điều tra thực tế, thu thập tài liệu
- Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Sách báo chuyên
ngành, tài liệu nghiên cứu khoa học có nội dung liên quan.
- Tìm hiểu thực tế dạy học Địa lý nói chung và các PP hướng dẫn làm
BTH phần Địa lý tự nhiên lớp 10 nói riêng, đặc biệt là những chương trình có
sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
6.2. Phƣơng pháp phân tích hệ thống
Phương pháp phân tích hệ thống ngày càng được áp dụng rộng rãi trong
các công trình nghiên cứu Địa lý. Phương pháp này được sử dụng để nghiên
cứu tổng hợp Địa lý tự nhiên và Địa lý KT - XH, trong đó các thành phần cấu
tạo luôn có tác động và quan hệ với nhau chặt chẽ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 6 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 7 of 120

5
Nội dung kiến thức, phương pháp truyền đạt phải được phân tích trong
một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất, sao cho nội dung và phương pháp
cùng hỗ trợ cho việc nắm vững các kỹ năng làm BTH của học sinh.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 8 of 120

6
- Vận dụng lý luận dạy học hiện đại vào quá trình hướng dẫn làm BTH.
Thay đổi cách dạy và học BTH trong điều kiện một số trường phổ thông đặc
biệt là các trường THPT vùng dân tộc và miền núi tỉnh Thái Nguyên.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn
được trình bày làm ba chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Các phương pháp hướng dẫn làm bài thực hành phần Địa lý
tự nhiên lớp 10 THPT.
Chương 3: Kết quả thực nghiệm sư phạm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 8 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 9 of 120

7

NỘI DUNG

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 10 of 120

8
Hệ thống kiến thức Địa lí là hệ thống mở được tồn tại và phát triển trong mối
quan hệ nhân quả dựa trên kiến thức đã nắm bắt được có thể tìm tòi, sáng tạo ra
kiến thức mới ở mức độ cao hơn. Đặc trưng của kiến thức Địa lí là tính không
gian rộng lớn, các quá trình diễn ra lâu dài nên rất phong phú và phức tạp, vì vậy
cần tăng cường sự hỗ trợ của các phương tiện để hình thành kiến thức mới.
1.1.2. Những yêu cầu khi giảng dạy bài thực hành Địa lý lớp 10 THPT
Bài thực hành được giảng dạy sau khi học sinh học các bài lý thuyết và
đã có một số kỹ năng ban đầu. Giờ thực hành yêu cầu học sinh rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo, các thao tác thành thạo và phát huy tính năng động sáng tạo,
nguồn trí lực dồi dào trong học tập. Kỹ năng thực hành Địa lí là yêu cầu
không thể thiếu của việc học môn Địa lí bởi các kỹ năng là thước đo kết quả
học tập của học sinh theo xu hướng dạy học tích cực.
Căn cứ vào CT & SGK Địa lí 10 hiện nay việc tổ chức và đổi mới
phương pháp dạy và học bài thực hành Địa lí phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Tổ chức cho học sinh học các bài tập thực hành Địa lí bằng phương
pháp tự học có hướng dẫn của giáo viên.
- Xây dựng các phòng thực hành bộ môn với trang thiết bị phù hợp với
mục đích, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy đáp ứng nhu cầu
học tập của học sinh.
- Bài thực hành thường gắn với các thiết bị dạy học nên tổ chức theo kiểu
cá thể hoá hoặc chia nhóm nhằm phát huy vai trò tự học của học sinh.
- Học sinh cần chuẩn bị bài thực hành trước khi tiến hành ở trên lớp.
- Cải tiến việc kiểm tra đánh giá, nâng cao vai trò và khả năng tự đánh
giá của học sinh.

* Nhóm các phương pháp dạy học thực tiễn :
- Quan sát ngoài thực địa.
- Ôn tập, luyện tập.
Do đặc thù của khoa học Địa lí mà các đối tượng nghiên cứu vừa phân
bố rộng rãi trong không gian, vừa cụ thể lại vừa trừu tượng, vừa cá biệt và có
tính tổng thể nên phương pháp đặc trưng của bộ môn là sử dụng các phương
tiện nghe nhìn giúp học sinh hình thành khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo chủ động
tìm tòi kiến thức phát triển óc tư duy sáng tạo, khả năng suy luận các vấn đề
liên quan đến kiến thức lý thuyết với thực tiễn của Địa lí học. [4]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 11 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 12 of 120

10
1.1.4. Xu hƣớng đổi mới các phƣơng pháp dạy học
Trong giáo dục học nhân tố quyết định thành bại là cách thực hiện.
Phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng của quá trình dạy học, là cách
thức hoạt động của người giáo viên để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ
năng, là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện trong quá trình dạy học
hướng tới mục đích của giáo dục. Vấn đề dạy học hiện nay là phải tổ chức
hoạt động cho người học tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất: đó là
người học tích cực chủ động lĩnh hội tri thức đồng thời có được kỹ năng cần
thiết để hình thành nhân cách trong ứng xử với xã hội và môi trường.
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự tăng trưởng

sống và liên quan đến nhiều môn khoa học nên có thể tìm kiếm thông tin từ
nhiều nguồn, nhiều dạng tư liệu khác nhau. Sử dụng máy tính với các phần
mềm trong dạy học địa lý là bước đột phá trong quá trình dạy học, thay đổi
phương pháp dạy học truyền thống của giáo viên và phương pháp học tập của
học sinh. Các phần mềm vi tính giúp học sinh có cách nhìn trực quan, gây
hứng thú trong học tập. Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại là tiền đề để
phương pháp dạy học tích cực đạt hiệu quả: như sử dụng sơ đồ, khai thác biểu
đồ, tự luận, trắc nghiệm, khai thác kiến thức từ hình ảnh, video...
Việc tăng cường chú trọng bài tập thực hành trong giảng dạy Địa lí là lựa
chọn tối ưu với tình hình thực tế hiện nay. Khối lượng tri thức của khoa học
Địa lí ngày càng tăng nhanh mà khả năng tiếp thu có hạn, thời gian dành cho
học tập ở nhà trường phổ thông lại ngắn (1 - 2 tiết/tuần) nên học sinh không
có khả năng nắm hết những kiến thức cơ bản, hiện đại nhất phù hợp với yêu
cầu thực tế xã hội và đất nước.
Để chọn lọc được kiến thức cơ bản cần căn cứ vào CT & SGK, cần thiết
phải kết hợp với các tài liệu và giáo trình khoa học có liên quan, đảm bảo tính
thống nhất của từng lớp, từng cấp. Muốn thực hiện tốt điều này người giáo
viên cần nắm vững toàn bộ nội dung chương trình, khối lượng kiến thức trong
mỗi tiết học phù hợp với đối tượng và gắn liền với bài tập thực hành kỹ năng
Địa lí. Đọc bản đồ, biểu đồ, khai thác số liệu thống kê... được gắn liền vào
phần bài học, câu hỏi bài tập với tư cách là một phần của nội dung bài giảng
nhằm phát triển tư duy trong dạy học Địa lí, tư duy mang lại kết quả mới về
chất trong quá trình nhận thức của học sinh trên cơ sở phân tích, tổng hợp, so
sánh, hệ thống hoá các hiện tượng địa lí cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 13 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


tiêu chuẩn về giáo dục hiệu quả hiện nay, đó là đổi mới nhiều mặt của quá
trình dạy học.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 14 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 15 of 120

13
Việc dạy học được thực hiện theo hướng tích cực sẽ đem lại hiệu quả cao
bản chất của nó đã thay đổi theo hướng là lấy học sinh làm trung tâm, dạy học
gắn với người học và nhu cầu của xã hội.
Người giáo viên không đóng vai trò truyền đạt kiến thức mà là người
thiết kế và giúp học sinh thực hiện học tập một cách tích cực, phù hợp với
điều kiện cụ thể.
Từ việc chỉ chuyển giao thông tin trước đây, giáo viên phải biết tạo ra
các điều kiện học tập và hỗ trợ quá trình học tập của học sinh. Học sinh được
thách thức tham gia một cách tích cực và sáng tạo trong việc lĩnh hội tri thức
(tự suy nghĩ và tìm tòi bên cạnh việc nghe giảng, làm bài tập...).
Để thực hiện dạy học tích cực có hiệu quả phải sử dụng linh hoạt các
phương pháp dạy và các hoạt động học tập khác nhau, có sự kết hợp giữa các
phương pháp truyền thống và các phương pháp dạy học mới cũng như các
phương tiện dạy học hiện đại phù hợp với từng nội dung và điều kiện dạy học.
Bản chất cơ bản của phương pháp dạy học tích cực là dạy học thông qua
việc tổ chức các hoạt động cho người học. Người học - chủ thể và hoạt động
học - được cuốn hút vào những hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ

sống xã hội tốt hơn.
Một điều rất quan trọng trong dạy học tích cực là dạy học có sự phản hồi
để được điều chỉnh từ cả phía thầy và trò. Vì vậy việc kiểm tra đánh giá học
sinh không mang tính độc quyền của người giáo viên như trước đây, mà học
sinh cũng được tự đánh giá. Mặt khác việc kiểm tra đánh giá không chỉ là tái
hiện kiến thức, lặp lại kỹ năng mà còn khuyến khích óc sáng tạo, rèn luyện
khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh. Do đó phải có những
phương pháp và kỹ thuật đánh giá được đưa vào nhà trường giúp cho việc
đánh giá trở nên thuận lợi, kịp thời góp phần để điều chỉnh việc dạy và học.
Như vậy dạy học tích cực thực sự sẽ đem lại chất lượng và hiệu quả mới
cho việc dạy học. Muốn vậy giáo viên không đơn thuần là người truyền đạt
kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức hướng dẫn các hoạt động - độc
lập hoặc theo nhóm để học sinh tự lực chiếm lĩnh các kiến thức mới, hình
thành các kỹ năng, thái độ mới theo yêu cầu của sự phát triển hiện này. Vì thế
vai trò của người giáo viên ngày càng trở nên quan trọng. Yêu cầu đối với
giáo viên thực sự cao hơn, phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ
sư phạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ chức,
hướng dẫn hoạt động học tập độc lập của học sinh có hiệu quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 16 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 17 of 120

15
Để có thể đạt được những yêu cầu nói trên trong việc dạy học tích cực
người giáo viên phải có khâu chuẩn bị chu đáo và công phu trước giờ lên lớp. Từ



Header Page 18 of 120

16
và biểu đồ, PP đàm thoại, PP hoạt động theo nhóm, PP sử dụng CNTT...là
những PP mang lại hiệu quả cao.
Tuy nhiên mỗi BTH có mục đích và yêu cầu khác nhau do đó khi hướng
dẫn HS làm BTH, GV cần linh hoạt vận dụng các PP nêu trên, có thể kết hợp
nhiều PP trong BTH để bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tránh sự nhàm chán, gây
hứng thú học tập cho người học.
* Phương pháp giải thích- minh hoạ:
PP giảng giải là PP giáo viên dùng lời để giải thích các sự kiện, hiện
tượng Địa lý…PP giảng giải thường kết hợp với các phương tiện trực quan
(tranh ảnh, số liệu, bản đồ…) để minh hoạ cho lời giải thích, trong trường hợp
này thường gọi là PP giải thích - minh hoạ. Trong khi giải thích, GV có thể
dùng biện pháp quy nạp, trước tiên đưa ra các số liệu, sự kiện, hiện tượng Địa
lý cụ thể rồi sau đó mới tìm ra nguyên nhân.
Gần đây, xu hướng tăng cường phát huy trí lực của HS, PP giảng giải
thường kết hợp với PP đàm thoại để trở thành một biện pháp yêu cầu HS tìm và
phát biểu về mối quan hệ nhân quả. Việc giải thích trước đây thường do GV chủ
động thực hiện, nay được chuyển thành những câu hỏi để cho HS trả lời.
* Phương pháp đàm thoại:
Là PP mà GV là người chủ động khéo léo đặt câu hỏi hoặc hệ thống câu
hỏi để HS trả lời. Trong PP đàm thoại sự tham gia của HS có ở nhiều mức độ.
Điều đó phụ thuộc vào yêu cầu của GV về mục đích của cuộc đàm thoại. PP
này có thể dùng để cung cấp tri thức mới cho HS. Cũng có thể PP này dùng
để phát huy trí lực, gợi mở cho HS làm sáng tỏ những vấn đề mới, giúp cho
HS tự khám phá những tri thức bằng sự tái hiện những tài liệu đã học từ
những kinh nghiệm đã được tích luỹ trong cuộc sống.

chuỗi tình huống có vấn đề, đồng thời chính GV là người điều khiển hoạt
động của HS nhằm tự lực giải quyết vấn đề.
* Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ:
Bản đồ là PP đặc trưng trong nghiên cứu Địa lý, là PP đem lại hiệu quả
trong quá trình giảng dạy và học môn Địa lý. Khi hình thành các khái niệm
chung về Địa lý tự nhiên, Địa lý kinh tế cũng như khi xem xét các khái niệm
đơn nhất, ta thấy mỗi khái niệm Địa lý đều có quan hệ với bản đồ, bằng cách
này hay cách khác: “bất kỳ một đối tượng Địa lý nào cũng được thể hiện
trong không gian và thời gian như một đối tượng có đường nét xác định trên
bề mặt Trái đất. Nó chỉ được hiểu rõ và giải thích đúng khi tính đến vị trí của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 19 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 20 of 120

18
nó trên bản đồ, chỉ nhờ vào bản đồ mà các đối tượng đó có được tính chất địa
lý của nó. Cũng vì điều này mà các tác giả viết về phương pháp giảng dạy Địa
lý trong cũng như ngoài nước đều giành quan tâm chú ý đến bản đồ giáo khoa
ở nhiều mức khác nhau. Có thể nói, bản đồ về nguyên tắc rất cần thiết cho
việc nghiên cứu, dạy, học Địa lý. Các kiến thức Địa lý, qua trừu tượng hoá
đều được thể hiện trên bản đồ. Ngôn ngữ bản đồ là phương tiện cơ bản để mô
tả các đối tượng Địa lý”.
Về mặt kiến thức, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những
mối quan hệ của đối tượng Địa lí trên bề mặt Trái đất một cách cụ thể mà

được giới thiệu rộng rãi trên các báo chí, các tài liệu thông tin đại chúng.
Thông thường, trong quá trình dạy học Địa lí, GV giới thiệu các số liệu
để cùng HS giải thích, làm sáng tỏ nội dung bài học hoặc cho HS phân tích để
khai thác tri thức Địa lí mới. Trong quá trình sử dụng các số liệu GV cần bồi
dưỡng cho HS năng lực so sánh, đối chiếu, phân tích số liệu, hoặc trong
trường hợp, để tìm ra được những kiến thức mới cần xử lí các số liệu với các
tính toán cụ thể. Làm như vậy mới hướng dẫn HS khai thác được hết ý nghĩa
về sự phong phú của các con số cũng như các dạng biểu đồ, đồ thị trong dạy
học Địa lí nói chung, dạy học BTH nói riêng.
* Phương pháp dạy học theo nhóm:
Là phương pháp đưa HS vào môi trường học tập (nghiên cứu, thảo luận)
theo các nhóm. Một trong những lý do chính để sử dụng PP này là nhằm
khuyến khích HS trao đổi và biết cách làm việc hợp tác với người khác.
Tổ chức HS học tập theo nhóm không chỉ phát huy tính tích cực, tự giác,
khả năng chủ động sáng tạo trong hoạt động nhận thức của HS, tạo điều kiện
để mọi người cùng tham gia, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, chuẩn bị
cho lao động phân công hợp tác trong cộng đồng mà qua cách học này nhiều
kĩ năng xã hội cũng được hình thành và phát triển như: kĩ năng giao tiếp, kĩ
năng giải quyết vấn đề, kĩ năng nói, diễn đạt...
PP dạy học theo nhóm đã được chứng minh là một PP dạy học có hiệu
quả và đang được sử dụng rộng rãi, với PP này người học có thể nhận rõ trình
độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần phải học hỏi thêm
những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là
trực tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Vì vậy PP này còn gọi là “Phương pháp
huy động mọi người cùng tham gia”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 21 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn

độ tương xứng. Mối quan hệ đó đẩy giáo dục phát triển lên một tầm cao mới một nền giáo dục hiện đại - giáo dục gắn với CNTT...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 22 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 23 of 120

21
Do đó hiện nay trong việc dạy học nói chung, thiết kế bài giảng nói riêng
ngoài các phương pháp dạy học truyền thống thì CNTT đóng vai trò quan
trọng với những tính năng ưu việt.
Chúng ta biết rằng để tiến hành thành công bài học trên lớp thì giáo viên
phải có một bản thiết kế bài giảng (giáo án) thật tốt. Ở đó bao gồm toàn bộ ý
tưởng thể hiện nội dung, phương pháp, cách tổ chức dạy học cũng như các
tình huống hoạt động học tập mà chuẩn bị cho người học.
Để làm tốt việc thiết kế bài giảng có sử dụng CNTT, giáo viên phải có
đầy đủ những tư liệu cần thiết phục vụ cho bài học. Tất cả đều được vi tính
hoá để có thể sử dụng hiệu quả. Chính vì vậy CNTT không chỉ là phương tiện
dạy học hữu ích (máy vi tính, máy chiếu, màn hình Overheat...) mà chính là
một thư viện thu nhỏ, một tổng bộ bao gồm những yếu tố cần thiết phục vụ
cho dạy học.
Với khả năng lưu trữ thông tin với khối lượng lớn cho phép giáo viên có
thể tự thành lập cho mình ngân hàng thông tin để sử dụng khi thiết kế bài
giảng. Ví dụ: các loại bản đồ tranh ảnh, các số liệu thống kê, các video... trong
quá trình dạy học của mình giáo viên có thể tích luỹ, các phương tiện công
nghệ thông tin là nơi lưu giữ được nhiều nhất, tốt nhất, đó là kho tư liệu quý
giá phục vụ tốt cho việc thiết kế bài giảng điện tử.

sinh động, đa dạng. Nội dung bài học có thể chủ yếu ở nhiều dạng vừa chi
tiết, khái quát vừa đầy đủ lại hiện đại với nhiều hệ thống kênh hình, kênh chữ
cũng như âm thanh, phim ảnh... Do đó có thể nói công nghệ thông tin góp
phần to lớn là hoàn thiện, hiện đại hoá việc thiết kế bài giảng của giáo viên,
góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
Mặt khác các phương tiện, thiết bị kỹ thuật của CNTT cho phép người
giáo viên tiết kiệm được rất nhiều thời gian trên lớp, học sinh có nhiều thời
gian để học tập, nghiên cứu hơn. Quá trình trao đổi diễn ra nhiều hơn qua đó
làm tăng khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh.
Như vậy từ những vai trò to lớn ấy của CNTT đối với việc dạy học nói
chung và thiết kế bài giảng nói riêng chúng ta thấy rằng cần thiết phải đưa
CNTT vào trong quá trình dạy học để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu
quả dạy học.
1.3. THỰC TIỄN DẠY HỌC CÁC BÀI THỰC HÀNH Ở MỘT SỐ TRƢỜNG THPT
TỈNH THÁI NGUYÊN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 24 of 120

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 25 of 120

23
1.3.1. Khái quát về tình tình KTXH tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh với diện tích tự nhiên 3546.6 km2 có nhiều dân tộc
anh em cùng sinh sống với dân số 1137.7 nghìn người (2007), là cửa ngõ giao
lưu kinh tế - xã hội của vùng Trung du và miền núi phía Bắc với các tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status