CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ RÈN KỸ NĂNG Ở KIỂU BÀI THỰC HÀNH
Môn: Địa lý - Lớp 7
A. ĐẶT VẤN ĐỀ: NHỮNG CƠ SỞ XÂY DỰNG KINH NGHIỆM:
1, Cơ sở lý luận:
Xuất phát từ mục tiêu của môn địa lý trong nhà trường bậc THCS, học
sinh có những kiến thức cơ bản về môi trường địa lí, về hoạt động của con
người trên Trái Đất và các châu lục, góp phần hính thành cho học sinh thế giới
quan khoa học, giáo dục những kiến thức địa lí để ứng xử, hành động phù hợp
với môi trường tự nhiên, xã hội xung quanh và với cộng đồng, với thực tế của
Việt Nam và thế giới.
Để giải quyết được mục tiêu trên vấn đề quyết định là phải đổi mới
phương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò như thế nào ? Đây là vấn
đề then chốt mà người thầy phải suy nghĩ.
Trước hết người thầy phải hiểu thấu đáo đổi mới phương pháp dạy học
gồm những phương pháp nào ? Mỗi phương pháp được ứng dụng để dạy ở
phần nào của bài dạy ? Đồng thời giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt các
phương pháp dạy học cho phù hợp, tránh dạy theo lối cũ, thuyết trình, giảng
giải học sinh phải tiếp thu kiến thức thụ động.
Đặc biệt trong một tiết thực hành việc đổi mới phương pháp dạy và học
là rất quan trọng vì nó sẽ đảm bảo yêu cầu thay đổi cấu trúc của chương trình.
Vì vậy cấu trúc chương trình địa lý 7 số tiết thực hành tăng so với chương
trình cũ, nhằm tạo điều kiện cho học sinh được tiếp cận với nhiều kênh hình
để rèn luyện kĩ năng quan sát, nhận biết, phân tích các thông tin địa lý
Với lí do trên vai trò của tiết thực hành rất quan trọng.
2, Cơ sở thực tiễn:
Trong thực tế do trình độ nhận thức của giáo viên, phần lớn đã nắm bắt
được các phương pháp dạy và trình tự thực hiện một tiết thực hành có hiệu
quả. Tuy nhiên dạy một tiết thực hành địa lý đạt được hiệu quả là một vấn đề
rất khó. Bên cạnh đó không ít giáo viên chưa hiểu biết nội dung, yêu cầu của
một bài thực hành nên khi dạy còn lúng túng về phương pháp, hoặc coi nhẹ về
kiến thức dạy thường qua loa theo lối thuyết trình, giáo viên làm việc nhiều,
+ Kiểu bài phân bố các môi trường tự nhiên của một châu lục.
+ Kiểu bài đặc điểm kinh tế của các vùng ở một châu hay một quốc gia.
Ta có thể đưa về hai dạng chính sau đây:
+ Loại bài 1: Nhận xét đặc điểm môi trường, đọc phân tích biểu đồ nhiệt
độ, lượng mưa (tiết12, 20, 31, 51, 57, 58)
+ Loại bài 2: So sánh đặc điểm kinh tế của các khu vực ở một châu hay
một quốc gia gần (tiết 32, 39, 45).
Riêng trang 4, bài 4 có thể xếp một loại.
Tiếp đến giáo viên phải xác định bài thực hành đó ở kì I hay kì II từ đó
định ra phương pháp dạy và rèn kĩ năng cho học sinh. Vì sao ta phải đặt vấn
đề này vì yêu cầu bài thực hành ở mỗi học kì có sự khác nhau.
* Yêu cầu kĩ năng ở học kì I:
Chỉ yêu cầu cho học sinh dừng lại ở mức độ:
- 2 -
+ Nhận xét và nắm được trình tự đọc các loại tháp tuổi, biểu đồ khí hậu,
bản đồ, sơ đồ các mối quan hệ và các lát cắt.
+ Nhận biết được các môi trường địa lý trên Trái Đất bằng hình ảnh địa
lý, biểu đồ khí hậu.
+ Biết cách quan sát và biết rút ra những nhận xét sơ bộ ban đầu nhưng
phải có sự hoàn thiện của giáo viên.
* Yêu cầu ở học kì II:
Yêu cầu cao hơn, cụ thể:
+ Luyện tập cho học sinh kĩ năng đọc nhanh các loại tháp tuổi, biểu đồ
khí hậu, lược đồ, bản đồ
+ Phân tích chúng để tìm ra được các kiến thức cơ bản của bài.
+ Dựa vào phân tích trên để viết được báo cáo ngắn gọn về một vấn đề
theo yêu cầu của giáo viên.
b, Xác định nội dung bài thực hành để định ra phương pháp dạy học
thích hợp:
* Đối với giáo viên:
Ví dụ ở bài tập 1:
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc lược đồ hình 4.1 theo các trình tự:
+ Đọc tên lược đồ.
+ Đọc bản đồ chú giải trong lược đồ 3 thang màu thể hiện mật độ dân số
1.000 người/km
2
; 1.000 người - 3.000 người/km
2
; trên 3.000 người/km
2
.
+ Tìm màu có một độ cao nhất, mật độ thấp nhất trong bản chú giải để
nhận biết trên bản đồ, hình thức tốt nhất là trao đổi theo nhóm.
Bài tập 3: Yêu cầu rèn luyện kĩ năng cao hơn bài tập 1.
- Về phương pháp hướng dẫn: Tương tự như bài 1 nhằm rèn kĩ năng đọc
lược đồ theo trình tự cho thành thạo ở bài tập 3, yêu cầu cao hơn là học sinh
căn cứ vào chấm đỏ (500.000 người) dày đặc đó là nơi có dân cư đông nhất.
Căn cứ vào vị trí đó ở Châu Á để học sinh xác định các khu vực đông dân ở
Châu Á, Nam Á, Đông Nam Á, Đông Á.
Để giúp học sinh nắm trình tự đọc lược đồ, giáo viên yêu cầu 1 đến 2 học
sinh trình bày lại quá trình thực hiện của mình.
Cuối cùng giáo viên đánh giá kết quả thực hành biểu dương những học
sinh làm tốt, nhóm tốt, cho điểm.
Như vậy ở bài thực hành này giáo viên đã kết hợp sử dụng 4 phương
pháp và đã rèn học sinh trình tự đọc một lược đồ để tìm hiểu yếu tố nhân văn
trong môi trường địa lý.
Với kết quả: 100% học sinh biết đọc lược đồ theo trình tự, trong đó trên
70% học sinh đọc thành thạo và biết nhận xét mối liên quan giữa điều kiện tự
nhiên với phân bố dân cư.
Ví dụ trên đây mới chỉ là bài thực hành đầu tiên của chương trình học kì
. Đọc tên biểu đồ khí hậu ở đâu ?
. Đọc quy ước để học sinh nắm được nội dung thể hiện trên biểu đồ.
. Nhận xét về đặc điểm nhiệt độ.
. Nhận xét sự phân bố mưa trong năm.
. Xác định kiểu khí hậu.
Cụ thể: hướng dẫn đọc, phân tích biểu đồ A, B, C.
Chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm phân tích 1 biểu đồ theo sự hướng dẫn
của giáo viên.
. Giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm.
. Giáo viên hướng dẫn các thao tác.
. Học sinh đại diện các nhóm ghi báo cáo - báo cáo trước lớp biểu đồ A
cần đạt.
- Nêu vị trí biểu đồ trên bản đồ: 55
0
54' Bắc.
- 5 -
- Sự diễn biến nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình không quá 10
0
C.
Mùa hạ có tới 9 tháng nhiệt độ trung bình < 0
0
C.
Mùa đông nhiệt độ xuống đến - 30
0
C.
-> Kết luận: Lạnh giá quanh năm.
- Lượng mưa:
Mưa ít, tháng mưa nhiều nhất không quá 50mm, 9 tháng tuyết rơi.
Mùa hạ mưa nhiều nhất là tháng 7 (30mm).
-> Kết luận: Mưa ít, có phần lớn tuyết rơi, mưa nhiều hơn vào mùa hạ.
Đối chiếu ước hiệu với lược đồ để tìm ra các đặc điểm về kinh tế
(giống bài 1, 3 của tiết 4 bài 4).
Do loại bài này ở học kì II vì vậy kĩ năng phân tích, so sánh, tự vẽ biểu
đồ học sinh phải tự làm. Vậy tổ chức hình thức học tập nhóm càng phải phát
huy.
Để minh hoạ cho loại bài 2: So sánh đặc điểm kinh tế của các khu vực ở
một châu hay một quốc gia. Minh hoạ bài 34 (tiết 39).
Yêu cầu về nội dung và rèn kĩ năng là:
- Học sinh cần:
+ Nắm vững đặc điểm khác biệt về kinh tế của 3 khu vực ở Châu Phi.
+ Nắm được sự khác biệt thu nhập bình quân đầu người 3 khu vực.
Từ đó học sinh lập được bảng so sánh đặc biệt kinh tế của 3 khu vực.
- Về phương pháp chung để hướng dẫn học sinh thực hành loại bài này:
+ Tổ chức hình thức học tập cá nhân: 100% học sinh được thực hành trên
kênh hình với kĩ năng quan sát lược đồ nhanh hơn và rút ra nhận xét. Các
quốc gia có thu nhập bình quân đầu người 1000 USD và dưới 200 USD từ đó
rút ra kết luận.
. Thu nhập bình quân đầu người giữa các khu vực Bắc Trun - Nam Phi.
. Trong từng khu vực thu nhập bình quân đầu người giữa các quốc gia
cũng không đều.
+ Tổ chức học sinh làm việc theo nhóm: Học sinh biết vận dụng những
kiến thức đã học về đặc điểm tự nhiên và kinh tế của Châu Phi, vận dụng phần
một để các nhóm lập được bảng so sánh đặc điểm kinh tế của 3 khu vực Châu
Phi.
Cuối cùng đại diện của ba nhóm trình bày kết quả thực hành kết hợp trợ
giúp của giáo viên để kết luận đặc điểm kinh tế của 3 khu vực.
Như vậy ở bài thực hành này, so với học kì I kĩ năng của học sinh được
nâng lên, học sinh tự làm việc nhiều hơn, có sự trợ giúp của học sinh để tìm ra
kết quả đúng.
Đến bài 40 (tiết 45):
- Xác định bài thực hành.
- 8 -
Giáo viên yêu
cầu học sinh
nhắc lại cách
đọc của kênh
hình (bản đồ,
sơ đồ, lược đồ,
biểu đồ ) b ià
thực h nhà
Cả lớp thực
hiện b i l m cáà à
nhân hay theo
nhóm (thảo
luận, trao đổi )
GV yêu cầ
u HS
hay nhóm trình
b y cho mà ọi HS
đóng góp ý kiến
bổ sung, sửa lại
kết quả cho đúng,
GV giúp HS tìm
ra kết quả đúng.
Đọc nhanh các
lược đồ, biểu
đồ, sơ đồ.
So sánh phân
tích các bản
đồ, biểu đồ, sơ