Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Kim Văn Chinh
TÍCH TỤ TẬP TRUNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Footer Page 1 of 166.
Hà Nội - 2012
Header Page 2 of 166.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Kim Văn Chinh
TÍCH TỤ TẬP TRUNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
hơn về cuộc sống. Em xin gửi lời cám ơn tới Thầy, chúc Thầy luôn mạnh khỏe,
hạnh phúc và thành công, chúc thấy sẽ mãi dẻo dai để chèo lái con thuyền đưa
học trò của mình tới những chân trời tri thức mới.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn đồng nghiệp tại
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp đã hỗ trợ rất nhiều cho tôi có thể
hoàn thiện luận văn của mình.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân tới gia đình, Bố Mẹ, các anh chị em và người
thân của mình, những người luôn luôn bên cạnh tôi những lúc tôi vui vẻ hay
buồn phiền, giúp tôi có động lực vươn lên trong thời gian qua cũng như trong cả
thời cuộc đời tôi sau này.
Xin chân thành cám ơn
Kim Văn Chinh
Footer Page 3 of 166.
Header Page 4 of 166.
Mục lục
Danh mục bảng ...........................................................................................................3
Danh mục hình ............................................................................................................3
Danh mục từ viết tắt ....................................................................................................4
MỞ ĐẦU.....................................................................................................................5
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN.......................................................................................8
1.1. Các định nghĩa ..................................................................................................8
1.2. Quy mô ruộng đất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp ....................................10
1.3. Tích tụ và tập trung đất đai.............................................................................14
1.4. Tổng quan về tích tụ, tập trung trên thế giới ..................................................16
1.4.1. Nhật Bản ..................................................................................................17
3.4.3. Quy mô và hiệu quả sử dụng đất theo quy mô.........................................67
3.5. Tác động của tập tích tụ tập trung đất đai tới thu nhập của người dân nông
thôn ........................................................................................................................70
3.6. Đề xuất giải pháp thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất nông
nghiệp ở Việt Nam hiện nay..................................................................................75
3.6.1. Tạo môi trường pháp lý để khuyến khích tích tụ và tập trung ruộng đất 76
3.6.2. Tạo môi trường kinh tế ổn định, khuyến khích đầu tư vào khu vực nông
thôn ....................................................................................................................78
3.6.3. Tạo môi trường xã hội ổn định để thực hiện công bằng xã hội và giảm
thiểu tác động tiêu cực do quá trình tích tụ gây ra ...........................................79
KẾT LUẬN ...........................................................................................................81
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................83
2
Footer Page 5 of 166.
Header Page 6 of 166.
Danh mục bảng
Bảng 1.1. Thay đổi quy mô trang trại của Nhật Bản, giai đoạn 1955-1985 .............18
Bảng 3.1. Diện tích đất nông nghiệp tính đến đầu năm 2010 ...................................47
Bảng 3.2. Hiện trạng và biến động sử dụng đất giai đoạn 2000-2010 (ha) ..............48
Bảng 3.3. Tỷ trọng các loại đất trong cơ cấu đất của hộ gia đình .............................50
Bảng 3.4. Sự thay đổi của chỉ số Simson trong giai đoạn 2008-2010 ......................55
Bảng 3.5. Cơ cấu hộ nông nghiệp theo quy mô đất sản xuất (%)............................56
Bảng 3.6. Tham gia thị trường thuê đất của hộ gia đình nông thôn: Đi thuê đ ất......57
Bảng 3.7. Tham gia thị trường thuê đất của hộ gia đình nông thôn: Cho thuê đất ...58
Bảng 3.8. Tỷ lệ hộ tham gia thị trường đất đai năm 2008 ........................................60
Bảng 3.9. Thực trạng manh mún đất đai, 2010........................................................61
Phát triển nông thôn
BSPS
Chương trình hỗ trợ thương mại
CRS
Lợi tức theo quy mô không đổi
DANIDA
Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Đan Mạch
DEA
Phương pháp Bao Dữ liệu
GDP
Tổng sản phẩm nội địa
MONRE
Bộ Tài nguyên và Môi trường
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Footer Page 7 of 166.
Header Page 8 of 166.
MỞ ĐẦU
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong cải cách nông nghiệp, đặc biệt từ
khi phát động đổi mới vào năm 1986. Nghị quyết 10 của Ban chấp hành trung ương
Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI năm 1988 đã tạo ra một bước đột phá trong cải
cách đất đai. Lần đầu tiên, hộ nông dân được thừa nhận là một đơn vị kinh tế tự chủ,
có quyền bình đ ẳng với các thành phần kinh tế khác trước pháp luật. Đất đai được
giao ổn định và lâu dài. Cùng với quá trình cải cách, Luật đất đai ra đời năm 1993
đã đánh d ấu một bước thể chế hóa các giao dịch về đất. Sau các lần sửa đổi và bổ
sung năm 1998 và 2003, các hộ gia đình đã được quyền chuyển nhượng, trao đổi và
thừa kế, cho thuê và thế chấp đất. Các cải cách đất đai được thực hiện gắn liền với
hàng loạt các cải cách khác như về giá, thủy lợi, và khoa học công nghệ, tất cả đã
góp phần tạo ra động lực cho sản xuất nông nghiệp phát triển. heo số liệu thống kê
của Vụ Kế hoạch - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), tính từ
năm 2000 đến nay, tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt gần
5,36%/năm, GDP tăng 3,7%/năm. Tuy nhiên, về cơ bản nông nghiệp vẫn chưa có
sự thay đổi về chất, tăng trưởng kém bền vững và khả năng cạnh tranh thấp. Điều
đáng lo ngại là tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp đang có xu hướng giảm dần, từ
4%/năm trong giai đoạn 1995-2000 xuống còn 3,83%/năm giai đo ạn 2001-2005 và
3,3%/năm giai đoạn 2006-2010. Tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng giá trị sản xuất
nông nghiệp cũng có xu hư ớng giảm, từ 66,35% năm 2000 xuống 58,8% năm 2010
(theo giá thực tế). Sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp đang đặt
ra nhiều thách thức đối với nỗ lực của chính phủ trong xóa đói giảm nghèo và duy
trì ổn định an ninh lương thực.
Cùng với đà suy giảm của nông nghiệp trong thời gian gần đây, cuộc khủng
hoảng lương thực vào đầu năm 2008 đã gây ra nhi ều bất ổn về chính trị, kinh tế và
xã hội cho nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Các tác động của
Câu chuyện về thành công của nông nghiệp Việt Nam trong suốt hơn hai thập kỷ
qua có được là nhờ sự thay đổi trong thể chế như Nghị quyết 10 và Luật đất đai. Sự
đổi mới về thể chế đã t ạo ra động lực cho hộ gia đình trong vi ệc đầu tư tăng sản
lượng. Tuy nhiên, sự sụt giảm về tăng trưởng nông nghiệp trong thời gian gần đây lại
chỉ ra rằng vai trò của các cải cách này trong việc đẩy nhanh sản xuất hơn nữa đang
dần giảm tác dụng. Diện tích đất nông nghiệp đang sụt giảm trong những năm gần
1
Tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn, 2010. Tổng cục thống kê
6
Footer Page 9 of 166.
Header Page 10 of 166.
đây, đã làm cho qu y mô sản xuất ngày một bị thu hẹp, điều này đã hạn chế trong việc
áp dụng cơ giới hóa trong nông nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng bền vững diện tích đất
nông nghiệp và thúc đẩy tích tụ ruộng đất đang và sẽ trở thành hướng đột phá nhằm
tiến tới một nền nông nghiệp quy mô lớn và năng suất cao.
Với những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tích tụ tập trung và hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam”, làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sĩ Khoa học Môi trường với các mục tiêu:
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu thực trạng phân mảnh và xu thế của
tích tụ tập trung ruộng đất nông nghiệp Việt Nam, những tác động của quá trình tích
tụ tập trung đất đai và từ đó đề ra các phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy
tích tụ, tập trung đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất trong sản xuất
nông nghiệp.
Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, tôi tập trung vào phân các cụ thể mục
tiêu các như sau:
nhiều thách thức trong quá trình cải cách đất đai để duy trì và thúc đẩy tăng trưởng
nông nghiệp. Mặc dù Việt Nam đã đ ạt đươc nhiều thành công của cải cách kinh tế
và mở cửa nhưng nông nghiệp những năm vừa qua đang có xu hướng giảm. Sự sụt
giảm này có rất nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó yếu tố đất đai đang trở thành
một trong những vấn đề chính trong việc giải quyết bài toán tăng trưởng nông
nghiệp của Việt Nam.
Một trong những thách thức mà nông nghiệp của Việt Nam hiện nay đang phải
đối mặt đó chính là nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp thông qua đẩy nhanh
quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất trong bối cảnh có nhiều điều kiện mới được
đặt ra như tác động của hội nhập ngày một sâu rộng, sự phát triển công nghiệp, dịch
vụ và đô thị hóa làm cho diện tích đất có xu hướng giảm và thay đổi mục đích sử
dụng, trong khi tỷ lệ lao động nông nghiệp lớn và có trình đ ộ thấp. Nâng cao hiệu
quả sử dụng đất là một trong những tiền đề quan trong cho sự thành công trong cải
cách nông nghiệp của Việt Nam. Quá trình cải cách đất đai đang đặt ra nhiều vấn đề
mới đòi hỏi phải được làm sáng tỏ.
1.1. Các định nghĩa
Tích tụ và tập trung ruộng đất được định nghĩa theo nhi ều cách khác nhau. FAO
(2003) cho rằng tích tụ và tập trung ruộng đất chính là quá trình phân bổ và sắp xếp
lại các mảnh nhằm loại bỏ hạn chế của tình trạng manh mún đất đai. Manh mún
ruộng đất bao gồm tình trạng manh mún về ô thửa và sự phân tán quy mô ruộng đất
nông hộ. Để khắc phục tình trạng manh mún, có hai phương thức được thực hiện
phổ biến là dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất. Dồn điền đổi thửa là phương thức
8
Footer Page 11 of 166.
Header Page 12 of 166.
mang nặng tính kỹ thuật hơn là xã hội. Các ô thửa phải được xây dựng và quy
hoạch lại phù hợp với yêu cầu sản xuất và quản lý đất đai ở mỗi vùng. Trong khi đó,
Header Page 13 of 166.
khu vực nông thôn. Đó chính là mô hình phát triển mà các quốc gia hướng tới sản
xuất hàng hóa quy mô lớn, và manh mún đất đai chỉ là hiện tượng tạm thời trong
quá trình phát triển của nông nghiệp và đó là một quy luật tất yếu [27].
1.2. Quy mô ruộng đất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Hầu hết các lý thuyết nghiên cứu về đất nông nghiệp đều sử dụng cách tiếp cận
hàm sản xuất khi coi đất là một trong bốn đầu vào quan trọng trong quá trình tăng
trưởng của nông nghiệp. Các lý thuyết này đều chỉ ra rằng chất lượng của đất có
ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất nông nghiệp trong giai đoạn đầu của quá trình
phát triển. Tăng năng suất nông nghiệp cho phép giải phóng lao động từ khu vực
nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, tiếp đó dẫn tới lợi tức gia tăng và tăng thu
nhập đầu người và đẩy nhanh quá trình tích lũy vốn. Đối với các nước đang phát
triển, nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo thì các yếu tố liên quan đến đất đai như thời
hạn sử dụng đất, tỷ lệ lao động trên đơn vị diện tích đất, quy mô ruộng đất có ảnh
hưởng nhiều đến tốc độ phát triển. Bên cạnh đó, các yếu tố về địa lý liên quan đến
tự nhiên của đất và yếu tố thời tiết đều có thể cung cấp cơ sở cho trả lời câu hỏi tại
sao quốc gia này phát triển nhanh hơn quốc gia khác và tại sao nhiều nước vẫn nằm
trong tình trạng trì trệ kém phát triển.
Nếu sản lượng nông nghiệp tăng hơn hai lần khi các đầu vào tăng gấp đôi, ta
có hiệu suất tăng dần theo quy mô. Điều này xảy ra do quy mô lớn, hộ nông dân hay
các trang trại cho phép chuyên môn hóa các công đoạn của quá trình sản xuất và
ứng dụng máy móc, công nghệ. Nếu sản lượng có thể tăng gấp đôi khi các đầu vào
tăng gấp đôi, ta có hiệu suất không đổi theo quy mô. Với hiệu suất không đổi theo
quy mô, quy mô sản xuất không ảnh hưởng đến năng suất của các yếu tố đầu vào.
Năng suất trung bình và năng su ất biên của các đầu vào là không thay đổi. Một vấn
đề nữa là hiệu suất giảm dần theo quy mô.
Cùng với áp lực dân số ngày một gia tăng, sự phát triển của công nghiệp và
dịch vụ cũng như đô th ị hóa đã làm qu ỹ đất ngày một giảm. Sự sụt giảm diện tích
mô ruộng lại quá nhỏ và manh mún. Điều này có thể thấy rõ ở khu vực Châu Á, với
mật độ dân số cao, diện tích đất được chia nhỏ, khi quy mô gia đình tăng lên, đ ất đai
tiếp tục được phân chia và dẫn tới một cơ cấu đất không hiệu quả. Ngược lại với
Châu Á, các nước ở khu vực Châu Mỹ La tinh đất đai lại quá tập trung. Các trang
trại lớn được sở hữu bởi một nhóm nhỏ các gia đình giàu có. Ở Braxin, 90% diện
tích đất được sở hữu bởi 15% dân số. Trong trường hợp này, đất đai cũng được sử
dụng kém hiệu quả và lãng phí.
11
Footer Page 14 of 166.
Header Page 15 of 166.
Hiện nay, mối quan hệ giữa tập trung ruộng đất và năng suất đang còn nhi ều
trang cãi. Tập trung ruộng đất thành các trang trại lớn sẽ tạo ra hiệu suất nhờ quy
mô và thúc đẩy tăng năng suất nông nghiệp. Quy mô lớn sẽ tạo điều kiện để áp
dụng cơ giới hóa vào trong nông nghiệp và tăng hiệu quả [44, 47]. Các nghiên cứu
này chỉ ra rằng khi tiền lương ở khu vực phi nông nghiệp tăng lên, lao động sẽ
chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, quá trình này cũng
tác động làm tăng tiền lương ở khu vực nông nghiệp và tạo ra động lực cũng như cơ
hội để các trang trại còn lại mở rộng diện tích đất canh tác. Hayami (1988) khi
nghiên cứu về nông nghiệp qua ba thập kỷ đã cho thấy lợi tức tăng dần trong nông
nghiệp sẽ xảy ra khi phát triển kinh tế đạt đến một giai đoạn mà tỷ lệ tiền lương
thực tế tăng mạnh. Nghiên cứu cho thấy các tác động của hiệu suất nhờ quy mô là
có ý nghĩa ngay cả khi ảnh hưởng của thị trường lao động liên ngành lớn hơn so với
ảnh hưởng của tập trung ruộng đất. Kết quả này cho thấy các nước đang phát triển
không cần phải phải lo ngại về cơ chế gây ra phân phối đất đai một cách thiếu công
bằng nếu như thị trường không bị bóp méo một cách quá mức.
Theo báo cáo phát triển thế giới của Ngân hàng thế giới (2008), năng suất trên
một diện tích đất phân bổ theo mùa có thể cao hơn đối với các nông trại lớn có xu
sung nghiên cứu khi cho rằng mối quan hệ nghịch đảo này là do sự kết hợp giữa yếu
tố chất lượng đất, sự không hoàn hảo của thị trường và sai số đo lường về biến quy
mô đất. Tương tự như vậy, Ellis (1993) lại cho rằng tập trung ruộng đất sẽ dẫn đến
năng suất đất giảm. Nguyên nhân chủ yếu là do người nông dân nhỏ phải chịu chi
phí cơ hội lao động thấp hơn và giá đất cao hơn. Do vậy họ sử dụng đất một cách
tối ưu và tạo ra năng suất cao. Ngược lại, các trang trại lớn do đất sử dụng lớn nên
năng suất đất có xu hướng thấp. Bên cạnh đó, các trang trại lớn đòi hỏi tiếp cận với
nguồn tín dụng và nguồn cung cấp đầu vào lớn hơn, cộng với việc quản lý và giám
sát khó khăn hơn. Vì vậy, những thị trường không hoàn hảo thường đem lại cho các
trang trại lớn sự thay thế vốn tư bản cho lao động. Đối với các nước đang phát triển,
đất đai và vốn thường khan hiếm trong khi lao động lại dồi dào, do đó một mô hình
phân phối nguồn lực như vậy thường dẫn đến không hiệu quả về mặt xã hội.
Như vậy, một trong những thách thức lớn nhất trong việc giải bài toán tăng
trưởng nông nghiệp của các nước mà tình trạng manh mún đất đang diễn ra đó
chính là đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất. Vấn đề này đang vấp
phải một nền nông nghiệp mà sản xuất bởi "đám đông" chứ không phải là sản xuất
hàng loạt. Nếu nông nghiệp muốn theo kịp sự tăng trưởng của các ngành khác, nó
13
Footer Page 16 of 166.
Header Page 17 of 166.
sẽ phải tác động tới phần còn lại của nền kinh tế. Điều này có nghĩa là, n ếu muốn có
quy mô ruộng đất lớn hơn, cần phải đẩy lao động thoát khỏi khu vực nông nghiệp.
Xét về mặt chính trị thì đây là bài toán khó và chưa có l ời giải.
1.3. Tích tụ và tập trung đất đai
Với tư cách là một tư liệu sản xuất, đất đai thường có sự vận động về mặt sở hữu
và qua nhiều chế độ sở hữu khác nhau. Sự khác nhau cơ bản của các chế độ sở hữu
đất đai là các quan hệ sở hữu về đất đai. Từ những đặc thù mang tính khách quan,
Tập trung ruộng đất là một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình
phát triển nông nghiệp của các quốc gia, đặc biệt là các nước ở khu vực Châu Á, nơi
mà sản xuất nông nghiệp tồn tại dưới hình thức quy mô nhỏ là phổ biến. Với chủ
trương phân chia ruộng đất để đảm bảo công bằng và giải quyết vấn đề dân số ở khu
vực nông thôn tăng nhanh đã khiến cho ruộng đất canh tác ngày càng manh mún.
Bentley (1987) và Blarel (1992) chỉ ra rằng tình trạng manh mún đất đai sẽ làm phát
sinh nhiều chi phí và gây ra tình trạng mất đất, lãng phí đất do có nhiều bờ vùng và
bờ thửa gây ra. Chính vì vậy, tích tụ và tập trung ruộng đất được xem là một trong
những công cụ hiệu quả cho phát triển nông nghiệp và nông thôn. Theo FAO
(2003), tích tụ và tập trung đất đai sẽ hỗ trợ hình thành một nền sản xuất nông
nghiệp cạnh tranh trên cơ sở phát huy được lợi thế về quy mô và khắc phục hạn chế
do tình trạng manh mún gây ra. Kết quả này có được trên cơ sở khả năng tăng
cường cơ giới hóa trong nông nghiệp, mở rộng diện tích đồng thời giảm thiểu tình
trạng lãng phí đất, qua đó nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh của các sản
phẩm nông nghiệp.
Trên phạm vi toàn xã hội, thì tích tụ và tập trung ruộng đất sẽ góp phần làm
giảm chi phí xã hội. Nó sẽ dễ dàng hơn trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở khu
vực nông thôn như đường và hệ thống thủy lợi. Bên cạnh đó, tích tụ và tập trung
ruộng đất sẽ thúc đẩy hình thành các vùng sản xuất chuyên canh mang tính thương
mại, đồng thời các chính sách nông nghiệp của vùng cũng đư ợc thực hiện một cách
dễ dàng hơn. Việc hình thành các vùng chuyên canh sản xuất tập trung sẽ giúp bảo
vệ diện tích đất nông nghiệp được tốt hơn trước sự bùng nổ của công nghiệp và đô
thị hóa. Sự mở rộng của tích tụ đất đai sẽ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở khu vực nông thôn theo hướng phân công lại lao động trong nông nghiệp.
Ngoài ra, FAO (2003) và Bentley (1987) còn cho rằng, tích tụ và tập trung ruộng
đất còn góp phần cải thiện chất lượng đất và giảm tình trạng sói mòn và suy thoái
đất đai.
15
Footer Page 18 of 166.
1970
1980
1985
Số
trang
trại
(triệu)
6,0
6,1
5,3
4,7
4,4
Phân phối theo quy mô của các
trang trại (%)
3
ha
1 ha
ha
ha
ha
38,5
32,7
22,9
3,4
2,5
38,3
trại (ha)
0,99
1,00
1,09
1,17
1,22
[Bộ Nông nghiệp Nhật Bản, Điều tra nông, lâm nghiệp]
Khi nền kinh tế Nhật Bản phát triển, đặc biệt là công nghiệp, tỷ trọng tiêu thụ
lúa gạo giảm, dù vẫn là lương thực chính, dẫn đến thu nhập từ sản xuất lúa thấp hơn
nhiều lần so với sản xuất hoa màu, hay là các ngành phi nông nghiệp. Điều này tạo
ra xu hướng nông dân từ bỏ sản xuất lúa gạo dẫn đến nguy cơ Nhật Bản mất khả
năng tự cung cấp lúa gạo. Chính vì thế, cần phải tăng năng xuất, tức là tăng thu
nhập cho nông dân, bằng cách xoá bỏ tình trạng manh mún đất, mở rộng kích thước
thửa ruộng để có thể đưa máy móc thiết bị lớn vào sản xuất lúa gạo thay thế sức
người.
Từ năm 1961, biện pháp khuyến khích tích tụ đất đai đầu tiên được Nhật Bản áp
dụng là trợ cấp cho nông dân mua đất. Mức hạn điền 3 ha đã được bãi bỏ vào năm
18
Footer Page 21 of 166.
Header Page 22 of 166.
1962. Tuy nhiên biện pháp này không mấy thành công trong việc khuyến khích
nông dân mua đất. Lý do xuất phát từ cả bên cung và bên cầu. Hình thức làm nông
bán thời gian trở nên phổ biến khi rất nhiều lao động nam chính hàng ngày đi vào
thành phố làm việc trong khi người già và phụ nữ trong gia đình tiếp tục làm nông
nghiệp nên không có nhu cầu bán đất. Nhiều hộ gia đình ngừng hẳn nghề nông và
trước đây. Vào tháng 6 năm 1949, Luật Cải tiến đất đai được ban hành, trong
khoảng từ năm 1950 đến 1952, 1.880.000 ha đất trên tổng số 3.957.000 ha đất nông
nghiệp của đảo Honshu, là đảo lớn nhất của Nhật Bản, đã đư ợc hợp nhất thành
công. Và hình thức này được củng cố thêm vào năm 1992 trong “Đường hướng cơ
bản trong chính sách mới về lương thực, nông nghiệp và các vùng nông thôn” của
Bộ nông lâm thuỷ sản Nhật Bản. Mục tiêu của chương trình này là t ạo ra các thửa
ruộng hợp nhất rộng 1, 2 hoặc 3 ha. Từ năm 1993, hàng năm trung bình 50.000 ha
được hợp nhất ở Honshu. Mặc dù điều luật ban hành năm 1949 yêu cầu sự tán thành
của 50% chủ đất trong làng và chính sách mới năm 1992 nâng lên 2/3, nhưng
thường thì tất cả các hộ đều đồng tình từ trước khi tiến hành hợp nhất. Khó khăn
chính với các cán bộ thực hiện vẫn là làm thế nào để đảm bảo quyền lợi và thoả
mãn được các yêu cầu của nông dân.
Tuy “hợp nhất ruộng đất” có thể xoá bỏ hiện tượng manh mún đất đai, tăng kích
thước thửa ruộng, tạo điều kiện cho việc mua bán cho thuê đất và các hình thức hợp
tác sản xuất dễ dàng hơn nhưng lại không có khả năng tăng quy mô sản xuất hộ. Nó
cũng không thể đảm bảo các hộ thuần nông sẽ sử dụng đất hiệu quả, hay là đối với
các hộ nông bán thời gian hoặc bỏ không đất mà không có ý định bán hoặc cho thuê
đất thì cũng chưa ch ắc muốn bán hoặc cho thuê sau khi đã hợp nhất ruộng đất của
họ.
Biện pháp thứ tư nhằm khuyến khích sản xuất quy mô lớn là hình thức uỷ thác
sản xuất, tức là các hộ quy mô nhỏ hơn 0,5 ha sẽ uỷ thác các hộ quy mô lớn làm
một phần hay toàn bộ quy trình sản xuất lúa của mình bằng máy móc, lao động và
quản lý của các hộ quy mô lớn này.
Thành lập xí nghiệp thành thị-nông thôn hợp tác sản xuất cũng là m ột hình thức
tăng quy mô sản xuất. Trong đó các xí nghiệp sẽ điều hành sản xuất tập trung, bao
gồm cả các việc được uỷ thác. Hình thức này có ưu điểm là có thể đưa đất đáng ra
bị bỏ không vào sản xuất, đạt tính kinh tế của quy mô trong sử dụng máy móc, lao
động, và quản lý.
20
nông dân không có ruộng đất và làm thuê cho địa chủ. Đây là một hệ thống bất bình
đằng và khiến cho số đông phải sống trong nghèo đói. Chính vì thế, hệ thống này đã
được thay đổi vào năm 1950 trong “Chương trình cải cách ruộng đất” nhằm tạo ra
sự phân chia tài sản công bằng, và giúp cho sự độc lập và tự chủ của các chủ đất
21
Footer Page 24 of 166.
Header Page 25 of 166.
nhỏ. Với khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, nhà nước Hàn Quốc mua lại ruộng đất
của những người không làm nông nghiệp, địa chủ chỉ được giữ lại nhiều nhất là 3
ha đất, còn lại phải bán cho nhà nước. Sau đó nhà nước phân chia ruộng đất cho
nông dân và các chủ đất nhỏ vẫn muốn tiếp tục làm nông nghiệp. Những người
được phân đất phải trả lại chi phí mua đất cho nhà nước trong vòng 5 năm, như vậy
nông dân hoàn toàn làm chủ đất đai. Tuy nhiên, chính mức hạn điền 3 ha đất cho
mỗi hộ nông dân – tâm điểm bình luận của nhiều hội nhà nông và các nhà chính
sách về sau này – đã t ạo ra nền nông nghiệp quy mô nhỏ hiện nay ở Hàn Quốc (tại
thời điểm năm 2005 diện tích trung bình là 1,43 ha so với 0.94 ha năm 1975). Bên
cạnh đó, quá trình công nghi ệp hoá và đô thị hoá, bắt đầu từ những năm 1960, đã
thu hút một lượng lớn lao động ở nông thôn ra thành thị tham gia các ngành phi
nông nghiệp và để lại lực lượng lao động chủ yếu là người già và phụ nữ ở nông
thôn làm nông nghiệp.
Hình 1.1. Quy mô hộ nông nghiệp ở Hàn Quốc [18]
Đến năm 1993, nhà nước Hàn Quốc thử nghiệm nâng mức hạn điền từ 3 ha lên
10 ha trong các “Vùng phát triển nông nghiệp”, và trong đó nông dân có thể sở hữu
đến 20 ha đất nếu được chính quyền địa phương cho phép. Ở ngoài các vùng phát
triển này thì mức hạn điền được nâng lên 5 ha vào năm 1999, và đến năm 2002 thì
tất cả các mức hạn điền đều được bãi bỏ. Cho đến trước năm 1990 chỉ nông dân mới