Header Page 1 of 166.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hồng Hà
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hồng Hà
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”
TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC LỚP 10
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hoá học
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Header Page 4 of 166.
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU ...........................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .......................5
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ....................................................................5
1.1.1. Trên thế giới ........................................................................................5
1.1.2. Tại Việt Nam .......................................................................................6
1.1.3. Một số bài viết, hướng dẫn, đề tài nghiên cứu về phương pháp
“Bàn tay nặn bột” ................................................................................7
1.2. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ......................................7
1.2.1. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học ................................7
1.2.2. Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học hiện nay ...9
1.3. Lí luận cơ bản về phương pháp “Bàn tay nặn bột” ................................. 10
1.3.1. Khái quát về phương pháp “Bàn tay nặn bột” ..................................11
1.3.2. Cơ sở khoa học của phương pháp “Bàn tay nặn bột” .......................11
1.3.3. Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp “Bàn tay nặn bột” .......... 12
1.3.4. Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” ................ 13
1.3.5. Mối quan hệ giữa phương pháp “Bàn tay nặn bột” với các phương
pháp dạy học khác ............................................................................ 18
1.4. Một số kỹ thuật dạy học trong phương pháp “Bàn tay nặn bột” ............ 22
1.4.1. Kỹ thuật tổ chức lớp học .................................................................. 22
1.4.2. Kỹ thuật lựa chọn quan niệm ban đầu ............................................. 24
1.4.3. Kỹ thuật tổ chức hoạt động thảo luận .............................................. 28
2.3.4. Điều kiện thực tế .............................................................................. 54
2.4. Một số biện pháp nâng cao tính khả thi và hiệu quả của phương pháp
“Bàn tay nặn bột” ................................................................................... 54
2.4.1. Chọn bài, chọn nội dung phù hợp với đặc trưng của phương pháp
“Bàn tay nặn bột” ............................................................................. 54
2.4.2. Chuẩn bị thật tốt cho thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu ..... 55
2.4.3. Chuẩn bị chu đáo cho tiết dạy .......................................................... 55
2.4.4. Thiết kế phiếu học tập phù hợp ........................................................ 56
2.4.5. Chú ý hình thành cho học sinh kĩ năng hoạt động nhóm hiệu quả .. 57
2.4.6. Phối hợp giữa kiểm tra, giám sát và động viên, khuyến khích ........ 57
2.4.7. Sử dụng thời gian hợp lí, giới hạn thời gian cho mỗi hoạt động và
điều chỉnh kịp thời. .......................................................................... 57
Footer Page 5 of 166.
Header Page 6 of 166.
2.5. Đánh giá kết quả học tập và một số năng lực học tập của học sinh trong
phương pháp “Bàn tay nặn bột” ............................................................. 58
2.5.1. Đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ viết ....................................... 58
2.5.2. Đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ nói ........................................ 59
2.5.3. Đánh giá năng lực thực hành ........................................................... 59
2.5.4. Phương pháp đánh giá ...................................................................... 59
2.6. Một số bài lên lớp có vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” ........... 60
2.6.1. Bài “Phản ứng oxi hóa khử” ............................................................ 60
2.6.2. Bài “Clo” .......................................................................................... 66
2.6.3. Bài “Ozon và Hidro peoxit” ............................................................. 74
2.6.4. Bài “Lưu huỳnh” .............................................................................. 82
2.7. Một số đề kiểm tra đánh giá .................................................................... 90
2.7.1. Đề kiểm tra 15 phút .......................................................................... 90
:
Đại học Sư phạm
ĐC
:
Đối chứng
ĐTB
:
Điểm trung bình
GV
:
Giáo viên
HĐ
:
Hoạt động
HS
:
Trung học phổ thông
THCS
:
Trung học cơ sở
TN
:
Thực nghiệm
TNSP
:
Thực nghiệm Sư phạm
Header Page 8 of 166.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Nội dung chương trình Hóa học 10 nâng cao ..................................... 49
Bảng 2.2. Một số nội dung có thể vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn
bột” trong chương trình Hóa học lớp 10 nâng cao ............................. 52
Bảng 2.3. Phiếu đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ viết................................. 58
Bảng 2.4. Phiếu đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ nói ................................. 59
Hình 3.2. Biểu đồ kết quả bài kiểm tra 15 phút lần 1 ....................................... 108
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút lần 2 .............................. 110
Hình 3.4. Biểu đồ kết quả bài kiểm tra 15 phút lần 2 ....................................... 110
Hình 3.5. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 45 phút lần 1 .............................. 112
Hình 3.6. Biểu đồ kết quả bài kiểm tra 45 phút lần 1 ....................................... 112
Hình 3.7. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 45 phút lần 2 .............................. 114
Hình 3.8. Biểu đồ kết quả bài kiểm tra 45 phút lần 2 ....................................... 114
Hình 3.9. Đồ thị đường lũy tích biểu diễn năng lực sử dụng ngôn ngữ viết .... 116
Hình 3.10. Đồ thị đường lũy tích biểu diễn năng lực sử dụng ngôn ngữ nói ... 116
Hình 3.11. Đồ thị đường lũy tích biểu diễn năng lực thực hành ....................... 117
Footer Page 9 of 166.
Header Page 10 of 166.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề luôn nhận được sự
quan tâm sâu sắc từ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhiệm vụ cụ thể được đề
ra trong Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo đã xác định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức,
kỹ năng, phát triển năng lực.”
Dạy học không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức mà phải dạy cho
THPT.
- Khách thể: Quá trình dạy học hóa học 10 nâng cao ở trường THPT.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về đề tài nghiên cứu.
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về:
+ Đổi mới phương pháp dạy học.
+ Tình huống trong dạy học.
+ Các kỹ năng học tập cơ bản của học sinh.
+ Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” .
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng việc sử dụng phương pháp dạy học “Bàn
tay nặn bột” trong dạy học hóa học 10 nâng cao THPT.
-Nghiên cứu chương trình hóa học THPT và sách giáo khoa Hóa học 10
nâng cao THPT.
- Nghiên cứu các phương pháp và kỹ thuật dạy pháp cùng việc rèn luyện
kỹ năng cho học sinh trong PP BTNB.
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi của
phương pháp “ Bàn tay nặn bột”.
- Thiết kế một số bài lên lớp có sử dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột”.
- Tiến hành thực nghiệm để xác định tính hiệu quả và tính khả thi của các
bài lên lớp có vận dụng PP BTNB.
- Kết luận và kiến nghị.
Footer Page 11 of 166.
Header Page 12 of 166.
3
5. Phạm vi nghiên cứu
Header Page 13 of 166.
4
- Xây dựng một số bài lên lớp có vận dụng PP BTNB trong chương trình
hóa học 10 nâng cao.
- Đề tài là nguồn tư liệu bổ ích giúp giáo viên vận dụng thuận lợi PP
BTNB trong dạy học hóa học và một số môn học khác.
Footer Page 13 of 166.
Header Page 14 of 166.
5
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Ngay từ khi mới ra đời, phương pháp BTNB đã được tiếp nhận và
truyền bá rộng rãi. Nhiều quốc gia trên thế giới đã hợp tác với Viện Hàn lâm
Khoa học Pháp trong việc phát triển phương pháp này như Brazil, Bỉ,
Afghanistan, Campuchia, Chilê, Trung Quốc, Thái Lan, Colombia, Hy lạp,
Malaysia, Marốc, Serbi, Thụy Sĩ, Đức…, trong đó có Việt Nam thông qua
Hội Gặp gỡ Việt Nam. Tính đến năm 2009, có khoảng hơn 30 nước tham gia
trực tiếp vào chương trình BTNB [12].
Nhờ sự bảo trợ của Vụ Công nghệ - Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp, trang
web quốc tế dành cho 9 quốc gia được thành lập năm 2003 nhằm đăng tải tài
liệu cung cấp bởi các giáo viên, giảng viên theo ngôn ngữ của mỗi nước thành
Chí Minh. [12]
Tháng 01/2000, "Bàn tay nặn bột - Khoa học trong trường tiểu học" cuốn sách đầu tiên về BTNB tại Việt Nam được xuất bản.
Ngày 30/01/2000, GS.Trần Thanh Vân, GS. Georger Charpak và ông
Léon Lederman - phụ trách tổ chức BTNB Pháp đã nhóm họp tại Paris về
chương trình hành động BTNB tại Việt Nam.
Tháng 6/2000, Hội Gặp gỡ Việt Nam cùng nhóm phóng viên của kênh
truyền hình VTV1 của Việt Nam thực hiện một phóng sự về phương pháp
BTNB phát trên truyền hình Việt Nam.
Từ năm 2000 đến 2002, phương pháp BTNB đã được phổ biến cho sinh
viên Đại học Sư phạm Hà Nội, được áp dụng thử nghiệm tại trường Tiểu học
Đoàn Thị Điểm, trường Herman Gmeiner Hà Nội và trường thực hành
Nguyễn Tất Thành (thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội). Chủ đề giảng dạy là:
nước, không khí và âm thanh.
Năm 2002, nhóm nghiên cứu tăng thêm các lớp tiểu học áp dụng
phương pháp BTNB tại Hà Nội và mở thêm các lớp tại Huế và tại Thành phố
Hồ Chí Minh. Lớp tập huấn về phương pháp BTNB cho giáo viên được tổ
chức vào tháng 9/2002 tại Hà Nội.
Từ 2002 đến nay, dưới sự giúp đỡ của Hội Gặp gỡ Việt Nam các lớp
Footer Page 15 of 166.
Header Page 16 of 166.
7
tập huấn về phương pháp BTNB đã được triển khai cho các giáo viên cốt cán
và các cán bộ quản lý tại nhiều địa phương trong toàn quốc.
Tháng 12/2009, Giáo sư Trần Thanh Vân đã gặp gỡ và trao đổi về
chương trình BTNB tại Việt Nam với Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển và Vụ
8
sinh có thể tiếp nhận các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Lượng thông tin
đa chiều mà học sinh tiếp nhận đã làm thay đổi cách nhìn đối với vai trò của
dạy học, do đó cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục và học tập trong nhà
trường không thể thực hiện như trước đây. Hệ thống giáo dục đang đứng
trước áp lực rất lớn về việc cần phải đổi mới.
Vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để học sinh có thể làm chủ
kiến thức để có thể giải quyết được những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
xung quanh họ? Lựa chọn nội dung kiến thức, thông tin như thế nào để đáp
ứng được điều đó? Và khi đã lựa chọn được những nội dung cần dạy thì làm
thể nào để tổ chức tốt những nội dung đó sao cho người học tích cực, tự lực
chiếm lĩnh kiến thức?
Đây thực sự là những thách thức đối với giáo viên, họ cần phải thực hiện
công việc dạy học của mình theo cách hoàn toàn mới. GV không chỉ là người
đưa đến cho học sinh một lượng kiến thức xác định mà thay vào đó, GV cần
dạy cho học sinh cách xây dựng, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo việc tự học
suốt đời.
1.2.1.2. Những đòi hỏi từ sự phát triển kinh tế - xã hội
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế
đòi hỏi cần những người có trình độ học vấn rộng, có thể thực hiện được
nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hoá nhằm đảm bảo chất lượng công việc. Vì
thế, người lao động phải thể hiện đẳng cấp chuyên nghiệp cao và sẵn sàng
gánh vác trách nhiệm. Dám chịu trách nhiệm là một trong các mối quan tâm
hàng đầu của các tổ chức kinh doanh. Yêu cầu đối với người lao động không
chỉ đơn thuần là kiến thức mà còn là năng lực giải quyết các vấn đề. Cách giải
quyết vấn đề linh hoạt để đối phó với các tình huống mới và sự dám chịu
trách nhiệm đang đặt lên vai nền giáo dục nước nhà trách nhiệm đào tạo
nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển của kinh tế - xã hội. Giáo viên phải
không ngừng trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ để có thể đào tạo ra lớp trẻ năng
- Hướng 2: Tăng cường năng lực vận dụng trí thức đã học vào cuộc
sống, sản xuất luôn biến đổi.
- Hướng 3: Chuyển dần trọng tâm của phương pháp dạy học từ tính chất
thông báo, tái hiện đại trà chung cho cả lớp sang tính chất phân hóa – cá thể
hóa cao độ, tiến lên theo nhịp độ cá nhân.
Footer Page 18 of 166.
Header Page 19 of 166.
10
- Hướng 4: Liên kết nhiều phương pháp dạy học riêng lẻ thành tổ hợp
phương pháp dạy học phức hợp.
- Hướng 5: Liên kết phương pháp dạy học với các phương tiện kỹ thuật
dạy học hiện đại (phương tiện nghe nhìn, máy vi tính…) tạo ra các tổ hợp
phương pháp dạy học có dùng kỹ thuật.
- Hướng 6: Chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp dạy
học đặc thù của môn học.
- Hướng 7: Đa dạng hóa các phương pháp dạy học phù hợp với các cấp
học, bậc học, các loại hình trường và các môn học.
• Chú ý 1:
Hướng 1, 2, 3 để hoàn thiện chất lượng các phương pháp dạy học hiện
có. Hướng 4, 5, 6, 7 để sáng tạo ra những phương pháp dạy học mới.
• Chú ý 2:
Việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học cũng theo 7 hướng đổi mới
của phương pháp dạy học nói chung như đã nêu ở trên, nhưng trước mắt tập
trung vào 2 hướng sau:
- Phương pháp dạy học hóa học phải đặt người học vào đúng vị trí chủ
giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực nghiệm nghiên cứu để
kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh,
phân tích, tổng hợp kiến thức.
Mục tiêu của phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám
phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức
khoa học, phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng
diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.
1.3.2. Cơ sở khoa học của phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Cơ sở khoa học của phương pháp BTNB là dạy học khoa học dựa trên tìm
tòi nghiên cứu. Đây là một phương pháp dạy và học khoa học xuất phát từ sự
hiểu biết về cách thức học tập của học sinh, bản chất của nghiên cứu khoa học
và sự xác định các kiến thức khoa học cũng như kĩ năng mà học sinh cần nắm
vững. Điều quan trọng của phương pháp dạy học này là phải đảm bảo rằng
học sinh thực sự hiểu những gì được học mà không phải đơn giản chỉ là học
để nhắc lại nội dung kiến thức và thông tin thu được. Dạy học khoa học dựa
trên tìm tòi nghiên cứu không quan tâm đến lượng thông tin được ghi nhớ
trong một thời gian ngắn mà ngược lại là những ý tưởng hay khái niệm dẫn
Footer Page 20 of 166.
Header Page 21 of 166.
12
đến sự hiểu biết ngày càng sâu hơn cùng với sự lớn lên của học sinh. Học sinh
sẽ cảm thấy hài lòng khi đã học và hiểu được một điều gì đó và động cơ học
tập từ đó cũng được nảy sinh.
Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của học sinh không phải là một đường thẳng
đơn giản mà là một quá trình phức tạp. Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua
và những phương pháp giáo dục được bảo đảm suốt trong thời gian học tập.
Thứ năm: Mỗi học sinh có quyển vở thực hành riêng do chính các em ghi
chép theo ngôn từ và cách thức của riêng mình.
Thứ sáu: Mục đích chính của phương pháp này là học sinh tiếp nhận được
các khái niệm khoa học và kĩ thuật thực hành. Song song đó là củng cố ngôn
ngữ viết và nói của các em.
Thứ bảy: Phụ huynh học sinh và tất cả mọi người xung quanh cần được
khuyến khích hỗ trợ những điều mà học sinh, lớp học cần để thực nghiệm.
Thứ tám: Các đối tác khoa học (trường ĐH, CĐ, trường nghề, viện nghiên
cứu…) ở địa phương cần giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình.
Thứ chín: Ngành giáo dục, trường sư phạm giúp giáo viên các kinh
nghiệm và phương pháp giảng dạy.
Thứ mười: Giáo viên cần chủ động tự học, tự tìm hiểu tài liệu, kiến thức
liên quan; trao đổi với đồng nghiệp, các nhà khoa học… để nâng cao kiến
thức. Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt
động của lớp mình phụ trách.
1.3.4. Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”
PP BTNB đề xuất một tiến trình sư phạm ưu tiên xây dựng những tri thức
(hiểu biết, kiến thức) bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận. Học sinh tự
mình thực hiện các thí nghiệm, các suy nghĩ và thảo luận để hiểu được các
kiến thức cho chính mình. Giáo viên hướng dẫn học sinh chứ không làm thay.
Giáo viên giúp đỡ học sinh làm sáng tỏ và thảo luận quan điểm của mình,
điều hành hướng dẫn học sinh tập luyện để tiến bộ dần.
Các bước của tiến trình dạy học đưa ra dưới đây dành cho giáo viên như
là một định hướng hành động chứ không phải là một tiến trình cứng nhắc.
Điều thực sự cần thiết ở đây là phải vận dụng tiến trình này theo một phương
pháp tích cực, sáng tạo và linh hoạt giữa các bước, tùy theo chủ đề nghiên cứu
sao cho quá trình khám phá của học sinh được thông suốt về mặt tư duy.
liên quan đến kiến thức mới của bài học. Khi yêu cầu học sinh trình bày quan
niệm ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của
học sinh như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách
viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ. Từ những quan niệm ban đầu của học sinh,
giáo viên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi. Chú ý xoáy sâu vào những quan
Footer Page 23 of 166.
Header Page 24 of 166.
15
niệm liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học (hay mô đun kiến thức).
Giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số quan niệm ban đầu khác biệt
trong lớp để giúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quan
đến nội dung bài học. Đây là một bước khá khó khăn vì giáo viên cần phải
chọn lựa các quan niệm ban đầu tiêu biểu trong số hàng chục quan niệm của
học sinh một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt
điều khiển sự thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất các câu hỏi
từ những sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học. Việc chọn lựa các quan niệm ban
đầu không tốt sẽ dẫn đến việc so sánh và đề xuất câu hỏi của học sinh gặp khó
khăn.
Bước 3: Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm
Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị
các em đề xuất các giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để để kiểm chứng các giả thuyết nhằm tìm câu trả lời cho các câu
hỏi đó. Các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây là các phương
án để tìm ra câu trả lời như quan sát, thực hành thí nghiệm, nghiên cứu tài
liệu…
Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra mà học sinh có thể đề xuất các
sinh quan sát vật thật trước, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa
học hay mô hình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật
thật.
Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thí
nghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến
hành. Sau đó giáo viên mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng
với hoạt động. Nếu để sẵn các vật dụng thí nghiệm trên bàn học sinh sẽ
nghịch các đồ vật mà không chú ý đến các đồ vật khác trong lớp; hoặc học
sinh tự ý thực hiện thí nghiệm trước khi lệnh thực hiện của giáo viên được
ban ra; hoặc học sinh sẽ dựa vào đó để đoán các thí nghiệm cần phải làm
(trường hợp này mặc dù học sinh có thể đề xuất thí nghiệm đúng nhưng ý đồ
dạy học của giáo viên không đạt).
Các thí nghiệm được tiến hành lần lượt tương ứng với từng môđun kiến
thức. Mỗi thí nghiệm được thực hiện xong, giáo viên nên dừng lại để học sinh
rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng). Giáo
viên lưu ý học sinh ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí
Footer Page 25 of 166.