Vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học môn khoa học lớp 5 (2014) - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
------------------------------

TRẦN THỊ THU THỦY

VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT
TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. PHẠM QUANG TIỆP

HÀ NỘI, 2014


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều
kiện trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trƣờng.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo T.S Phạm
Quang Tiệp, ngƣời đã hƣớng dẫn, động viên, tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành
khóa luận này.
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, các em học
sinh trƣờng Tiểu học Đồng Xuân và trƣờng Tiểu học Xuân Hòa đã giúp tôi
điều tra thực trạng sử dụng phƣơng pháp này.
Do thời gian nghiên cứu và vốn kiến thức còn hạn chế chắc chắn đề tài
của tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong đƣợc sự góp ý, chỉ


HS

: Học sinh

STT

: Số thứ tự


MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài ........................................................................... 3
4. Khách thể nghiên cứu.................................................................................... 3
5. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.................................................................... 3
7. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 3
8. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 3
9. Cấu trúc của đề tài ......................................................................................... 4
PHẦN 2. NỘI DUNG ....................................................................................... 5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA
HỌC LỚP 5 ....................................................................................................... 5
1.1. Đổi mới giáo dục ở Tiểu học ..................................................................... 5
1.1.1. Đổi mới chƣơng trình giáo dục Tiểu học ................................................ 5
1.1.2. Đổi mới phƣơng pháp dạy học ở Tiểu học ............................................. 7
1.2. Phƣơng pháp bàn tay nặn bột ................................................................... 12
1.2.1. Lịch sử ra đời và ý nghĩa thuật ngữ “Bàn tay nặn bột” ........................ 12
1.2.2. Khái niệm phƣơng pháp bàn tay nặn bột .............................................. 15

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 57


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Tiểu học giữ một vai trò
quan trọng trong việc giáo dục con ngƣời. “Bậc học Tiểu học là bậc học nền
tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng đạo đức, trí tuệ,
thẩm mĩ và thể chất của trẻ em. Nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát
triển toàn diện nhân cách con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Chất lƣợng
giáo dục bậc Tiểu học không chỉ quyết định nền tảng cho sự hình thành nhân
cách cá nhân mà còn là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lƣợng giáo dục
của mỗi quốc gia. Hiện nay nền giáo dục nƣớc ta còn nhiều yếu kém, bất cập
cả về quy mô, cơ cấu và nhất là chất lƣợng và hiệu quả. Để nâng cao hiệu quả
giáo dục Tiểu học, yêu cầu đặt ra cho giáo dục Tiểu học là phải có những đổi
mới nhất định.
Vấn đề đổi mới giáo dục đƣợc Đảng và nhà nƣớc hết sức quan tâm,
hiện nay Bộ Giáo dục đã đề ra Dự án đổi mới giáo dục sau năm 2015. Theo
thứ trƣởng Bộ Giáo dục Nguyễn Vinh Hiển: “Giáo dục phổ thông Việt Nam
nói chung và chƣơng trình giáo dục phổ thông nói riêng cần đƣợc đổi mới
một cách căn bản, toàn diện ở tất cả những vấn đề lớn, cốt lõi để nâng cao
chất lƣợng giáo dục, chất lƣợng nguồn nhân lực”. Đổi mới giáo dục đƣợc hiểu
là đổi mới căn bản và toàn diện, đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp
và hình thức tổ chức dạy học. Bên cạnh việc đổi mới nội dung dạy học thì
việc đổi mới căn bản về phƣơng pháp dạy học là điều vô cùng quan trọng.
Theo nhƣ Dự án đổi mới giáo dục sau năm 2015 thì đổi mới phƣơng pháp dạy
học nhằm phát huy năng lực, phẩm chất ở học sinh; tập trung dạy cách học và
tự học, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.



2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề xuất quy trình dạy học môn Khoa học lớp 5 theo phƣơng pháp bàn
tay nặn bột nhằm phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh,
góp phần nâng cao chất lƣợng và hiệu quả dạy học ở Tiểu học.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Việc vận dụng phƣơng pháp bàn tay nặn bột trong dạy học môn Khoa
học lớp 5.
4. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Khoa học lớp 5.
5. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn địa bàn nghiên cứu: tiến hành điều tra, khảo sát ở trƣờng Tiểu
học Xuân Hòa và trƣờng Tiểu học Đồng Xuân ở khu vực Thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng phƣơng pháp
bàn tay nặn bột trong dạy học môn Khoa học lớp 5.
- Đề xuất quy trình vận dụng phƣơng pháp bàn tay nặn bột trong dạy
học Khoa học lớp 5.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng phƣơng pháp bàn tay nặn bột trong dạy học môn Khoa
học lớp 5 theo quy trình đề xuất sẽ góp phần nâng cao việc dạy và học môn
Khoa học lớp 5.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu lý luận
- Phƣơng pháp điều tra nghiên cứu số liệu
- Phƣơng pháp quan sát
- Phƣơng pháp trò truyện

3


giữa “dạy chữ” và “dạy ngƣời” và định hƣớng nghề nghiệp”. Theo nhƣ một
số nhận định của các chuyên gia giáo dục, chƣơng trình hiện hành về cơ bản
vẫn tiếp cận theo hƣớng nội dung, chạy theo khối lƣợng kiến thức, còn nặng
về tính hàn lâm. Ngoài ra thứ trƣởng Bộ Giáo dục khẳng định: “Chƣơng trình
mới tiếp cận theo hƣớng hình thành và phát triển năng lực cho ngƣời học,
không chạy theo khối lƣợng tri thức mà chú ý đến khả năng vận dụng tổng
hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ,… vào giải quyết tình

5


huống trong cuộc sống hàng ngày”. Tiếp cận theo hƣớng năng lực có nghĩa là
đòi hỏi HS làm vận dụng đƣợc gì hơn là HS biết gì. Tránh tình trạng biết rất
nhiều nhƣng làm và vận dụng không đƣợc bao nhiêu, biết những điều cao siêu
nhƣng không làm đƣợc những việc thiết thực trong cuộc sống.
Nội dung đổi mới phải đảm bảo tính cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực
tiễn và truyền thống Việt Nam, tăng cƣờng kĩ năng thực hành, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn; chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, văn hóa
cho HS. Giảm số môn học tăng cƣờng các chuyên đề tự chọn, hoạt động xã
hội, trải nghiệm sáng tạo.
Về PPDH, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PPDH theo hƣớng hiện đại, vận
dụng các phƣơng pháp, kĩ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, hợp lí
phù hợp với nội dung, đối tƣợng dạy học, điều kiện cơ sở vật chất; phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; thực hiện phƣơng châm “giảng ít
học nhiều” khắc phục lối truyền thụ áp đặt; tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
khuyến khích và rèn luyện năng lực tự học, phát triển năng lực, kĩ năng cho
HS.
Đổi mới căn bản hình thức và phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá chất
lƣợng giáo dục, bảo đảm trung thực khách quan góp phần điều chỉnh việc dạy
và học.

ngoài của nội dung”.
Thuật ngữ phƣơng pháp dạy học bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Method có
nghĩa là con đƣờng để đạt đƣợc mục đích dạy học. Theo đó phƣơng pháp dạy
học là con đƣờng để đạt đƣợc mục đích dạy học.

7


Phƣơng pháp dạy học là hình thức, cách thức hoạt động của giáo viên
và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt đƣợc mục đích
dạy học.
Phƣơng pháp dạy học đặc trƣng bởi tính chất hai mặt gồm hoạt động
của thầy và trò. Hai hoạt động này tồn tại tiến hành trong mối quan hệ biện
chứng, trong đó hoạt động của thầy giữ vai trò chủ đạo, hoạt động của trò chủ
động (tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động).
Tóm lại, phƣơng pháp dạy học là cách thức hành động của GV và HS
trong quá trình dạy học nhằm giải quyết các nhiệm vụ dạy học.
1.1.2.2. Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phƣơng pháp giảng dạy là một trong
những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lƣợng
giáo dục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi cơ sở đào tạo. Đổi mới PPDH
không phải là sự thay thế các phƣơng pháp cũ bằng hàng loạt các phƣơng
pháp mới. Về bản chất, đổi mới PPDH là sự kết hợp hài hòa các phƣơng pháp
truyền thống với các phƣơng pháp dạy học tích cực. Khai thác triệt để ƣu
điểm của phƣơng pháp truyền thống và vận dụng linh hoạt các phƣơng pháp
mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của ngƣời học,
giúp ngƣời học đạt đƣợc những năng lực mong muốn.

 Cơ sở lí luận đổi mới phương pháp dạy học
Cơ sở lí luận của đổi mới PPDH chủ yếu dựa vào những thành tựu

nhau nhờ sự cộng tác. Đây là yếu tố cơ bản duy trì, phát triển sự thống nhất
toàn vẹn của quá trình dạy học là yếu tố dẫn đến chất lƣợng cao của dạy tốt và
học tốt.

 Cơ sở thực tiễn của đổi mới phương pháp dạy học
Đất nƣớc ta đang trên đà phát triển hội nhập kinh tế quốc tế, bối cảnh
quốc tế và trong nƣớc có nhiều thay đổi (sự phát triển nhảy vọt của khoa học
công nghệ, xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ) đem đến cho đất nƣớc ta nhiều cơ

9


hội nhƣng bên cạnh đó là thách thức rất lớn. Vì vậy bên cạnh việc học tập kế
thừa những thành tựu của tinh hoa nhân loại, chúng ta cần phải đi trƣớc đón
đầu, cần phải đổi mới tƣ duy và phƣơng pháp làm việc.
Một đất nƣớc vững mạnh thì nguồn nhân lực quan trọng nhất chính là
con ngƣời, do đó đổi mới giáo dục là nhu cầu tất yếu. Sự phát triển của khoa
học công nghệ đã mở ra khả năng và điều kiện thuận lợi để áp dụng công
nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học. Phƣơng tiện kĩ thuật dạy học hiện
đại hơn thì PPDH cần đổi mới để đem lại hiệu quả cho quá trình dạy học. Đổi
mới giáo dục diễn ra ở mọi cấp học, bậc học, bậc Tiểu học là bậc học nền tảng
nên sự thay đổi càng cần thiết và quan trọng. Chính vì thế những năm gần đây
giáo dục Tiểu học đã có những thay đổi mạnh mẽ.
Về mục tiêu: Trong chƣơng trình tiểu học cũ mục tiêu cần đạt chủ yếu
là nội dung chung chung của bài, danh mục các nội dung dạy học. Nên trong
đổi mới chƣơng trình dạy học mục tiêu đã đƣợc cụ thể hóa bao gồm nhiều
kiến thức, kĩ năng, thái độ. Mục tiêu không chỉ đơn thuần là những kiến thức
trong sách vở mà các em cần phải biết cách vận dụng những kiến thức đó vào
thực tế cuộc sống. Không chú trọng quá nhiều đến kiến thức mà chú trọng
hình thành năng lực cho ngƣời học.

Đổi mới PPDH theo hƣớng phát triển khả năng của ngƣời học vừa phù
hợp với đối tƣợng và phù hợp với điều kiện thực tiễn. Cần hình thành cho
ngƣời học phƣơng pháp tự học, tăng cƣờng sự tìm kiếm tri thức hay ứng dụng
tri thức vào cuộc sống.
Đổi mới PPDH theo hƣớng tăng cƣờng kĩ năng thực hành cho HS. Để
HS có khả năng vận dụng những kiến thức đã học vào các tình huống cụ thể
trong cuộc sống.

11


Đổi mới PPDH theo hƣớng sử dụng phƣơng tiện dạy học hiện đại vào
dạy học. Sử dụng phƣơng tiện đa dạng hợp lý trong quá trình dạy học giúp
cho PPDH trở nên sinh động hơn và tạo ra hứng thú học tập cho học sinh.
Đổi mới PPDH theo hƣớng đổi mới phƣơng pháp điều tra và đánh giá
kết quả của ngƣời học.
Đổi mới PPDH theo hƣớng đổi mới cách thiết kế bài dạy, lập kế hoạch
bài dạy và xây dựng mục tiêu bài học.
Đổi mới PPDH theo hƣớng tiếp cận năng lực, hình thành kĩ năng cho
HS.
Chúng ta thấy tất cả những định hƣớng đổi mới về PPDH nhƣ trên đều
nhằm mục đích phát triển HS theo hƣớng chủ động, tích cực, hình thành cho
HS những năng lực và kĩ năng cần thiết. Để làm đƣợc điều này HS phải là
ngƣời chủ động trong việc tìm kiếm tri thức, GV chỉ có vai trò định hƣớng, tổ
chức hoạt động nhận thức của HS. HS phải tự mình làm việc, trao đổi thảo
luận, bàn bạc, nghiên cứu, điều tra, quan sát, thực nghiệm,… chính trong quá
trình này tri thức đƣợc hình thành mới bền vững và sâu sắc nhất. Do đó đổi
mới PPDH quan trọng nhất là đổi mới theo hƣớng tổ chức cho HS đƣợc thực
hành, làm việc, đƣợc trải nghiệm thực tiễn trên cơ sở đó HS tự đúc rút tri thức
cho bản thân.

Tháng 9 - 1998, soạn thảo 10 nguyên tắc cơ bản của PPBTNB.
Tháng 12 - 2000 tại Bắc Kinh Trung Quốc, Hội thảo lần thứ nhất về
dạy học các môn khoa học tự nhiên đƣợc tổ chức với sự tham gia của hơn 20
nƣớc. Tháng 8 -2001, chƣơng trình “Learning by doing” do bộ Trung Quốc,
Hội Khoa học và công nghệ Trung Quốc chính thức khởi xƣớng với sự giúp
đỡ của Viện Hàn lâm khoa học Pháp và ICSU đã vận dụng PPBTNB vào các
trƣờng Tiểu học. Bƣớc đầu chỉ một số thành phố lớn nay đã đƣợc thực
nghiệm rộng rãi trên nhiều tỉnh.

13


Tháng 12 - 2002, Hội thảo quốc tế lần thứ 2 về dạy học các môn Khoa
học ở Tiểu học diễn ra ở Braxin, Mexico và một số nƣớc Châu Phi.
Tháng 9 - 2003, tại Kuala Lumpua (Malayxia), lần đầu tiên Hội thảo
dạy học các môn Khoa học - PPBTNB đƣợc tổ chức với sự tham gia của 10
nƣớc Asian cùng Trung quốc và Pháp.
Tại Việt Nam
Ngay từ những năm 1996, 1997 sau những chuyến công tác và thực tập
tại Pháp, một số GV khoa Vật lý trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội đã có
những thông tin về PPBTNB. Tuy nhiên chƣa đầy đủ.
Tác phẩm “La Man à la pâte” đƣợc GS. Đinh Ngọc Lân dịch ra tiếng
Việt với cái tên “Bàn tay nặn bột” trở thành tên gọi của một phƣơng pháp dạy
các môn khoa học tự nhiên.
Tháng 6 - 2000 qua kênh truyền hình VTV3, nhà vật lý Trần Thanh
Vân đã giới thiệu những đổi mới dạy học các môn Khoa học hiện nay ở Pháp
và tinh thần của nội dung PPBTNB. Sau đó dƣới sự giúp đỡ của tổ chức “Gặp
gỡ Việt Nam” và Đại sứ quán Pháp, một số GV khoa Vật lý trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội và đại diện của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam có mặt tại
Hội thảo quốc tế lần thứ nhất về phƣơng pháp này tại Bắc Kinh Trung Quốc

Mục tiêu của PPBTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu
và say mê khoa học của HS đồng thời hình thành cho các em những kĩ năng
của nhà khoa học thực thụ (biết tìm tòi, nghiên cứu).
1.2.2. Khái niệm phương pháp bàn tay nặn bột
Theo Gioerges Charpak: BTNB là phƣơng pháp dạy học mà trong đó
trẻ em hành động, thí nghiệm, nghiên cứu, tìm kiếm, và có những câu hỏi đi
kèm, hƣớng tới xây dựng nên những kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự
nhiên và kĩ thuật.
Tác giả Chu Hồng Vân (Phƣơng pháp bàn tay nặn bột dành cho học
sinh tiểu học, GD - ĐT) thì mô tả phƣơng pháp “ Bàn tay nặn bột” là cách

15


thức GV tổ chức cho HS tự nghiên cứu để tìm ra cách lý giải thuyết phục cho
những kiến thức trong chƣơng trình học thông qua đề xuất, thảo luận và thực
hiện các phƣơng án thí nghiệm.
Theo nghiên cứu của Vũ Quốc Trung, PPBTNB là một PPDH mà trong
đó HS tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một số dụng cụ và những
giác quan để nghiên cứu, tìm tòi, khám phá ra tri thức mới. Tất cả suy nghĩ và
kết quả đƣợc HS mô tả lại bằng chữ viết, lời nói và hình vẽ.
Trên cơ sở phân tích khái niệm, tôi rút ra nhận định: PPBTNB là cách
thức tổ chức dạy học trong đó GV đƣa ra các tình huống hay vấn đề; HS tự
nghiên cứu, tự giải quyết tình huống vấn đề bằng những hành động, thí
nghiệm, thực nghiệm, quan sát để tìm ra tri thức khoa học.
1.2.3. Bản chất của phương pháp bàn tay nặn bột
Thực chất PPBTNB là cách thức GV tổ chức cho HS lĩnh hội kiến thức
mới bằng cách HS tự thao tác, tự nghiên cứu, tự thực hành, trên các dụng cụ,
đồ dùng thí nghiệm. PPBTNB đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc lập, sáng
tạo của HS, hình thành cho các em phƣơng pháp học tập đúng đắn. HS học

học tập một cách độc lập hơn ít phụ thuộc vào GV.
1.2.4. Đặc trưng của phương pháp bàn tay nặn bột
Trẻ em là một nhà khoa học. PPBTNB giúp trẻ đƣợc tự nghiên cứu, tự
tìm tòi khám phá ra tri thức khoa học. HS tiếp cận vấn đề qua tình huống (câu
hỏi của bài học); nêu các giả thuyết các nhận định ban đầu của mình, đề xuất
và tiến hành thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu so sánh với giả thuyết ban đầu;
đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với nhóm khác; nếu không phù hợp
HS phải quay lại điểm xuất phát; tiến hành lại thí nghiệm. Trong quá trình này
HS luôn luôn phải động não, trao đổi với các HS trong nhóm, trong lớp hoạt
động tích cực để tìm ra kiến thức. Con đƣờng tìm ra kiến thức của HS cũng
gần giống với quá trình tìm ra kiến thức của các nhà khoa học.

17


HS tự mình thực hiện các thí nghiệm, học tập nhờ hành động cuốn hút
mình trong hành động. Qua thực hành khoa học bằng hành động, trao đổi, tìm
tòi, thực nghiệm HS tự đúc rút ra tri thức.
Tạo cho các em cơ hội đƣợc bộc lộ “biểu tƣợng ban đầu” về sự vật,
hiện tƣợng nghiên cứu. “Biểu tƣợng ban đầu” xuất phát từ vốn sống vốn hiểu
biết của các em. Qua thí nghiệm để so sánh đối chiếu và rút ra kết luận.
PPBTNB đặt HS vào trung tâm của quá trình nhận thức. Mọi hoạt động
nhận thức đều xoay quanh HS lấy HS làm trung tâm.
Giúp các em hình thành một số năng lực tự học, tự tìm hiểu, tự khám
phá, nghiên cứu thế giới xung quanh.
Tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, niềm say mê khoa học của
HS. Kĩ năng nghiên cứu khoa học là một kĩ năng rất quan trọng đối với mỗi
ngƣời vì vậy qua PPBTNB mà rèn luyện cho các em các kĩ năng này.
HS sử dụng tất cả các giác quan vào trong quá trình nghiên cứu, làm thí
nghiệm. Khi HS tiến hành thí nghiệm nghiên cứu thì tất cả các giác quan của

- Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình
và cộng đồng.
- Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học
vào đời sống.
- Yêu con ngƣời, thiên nhiên, đất nƣớc, yêu cái đẹp. Có ý thức và hành
động bảo vệ môi trƣờng xung quanh.
* Nội dung chƣơng trình môn Khoa học lớp 5
Gồm 4 chủ đề: Con ngƣời và sức khỏe, Vật chất và năng lƣợng, Thực
vật và động vật, Môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên. Mỗi tuần có 2 tiết nhƣ
vậy một năm học là 70 tiết
Con người và sức khỏe: 19 bài mới và 2 bài ôn tập

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status