ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––––
LÊ THỊ THU
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG TƢỚI ẨM
ĐẾN TĂNG TRƢỞNG VÀ CẤU TRÚC NĂNG SUẤT
CỦA HAI LOÀI CỎ VOI VÀ CỎ GHINÊ TẠI XÃ PHÚC
ỨNG HUYỆN SƠN DƢƠNG - TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Hoàng Chung
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu
Thái Nguyên, ngày 11 tháng 5 năm 2015
Tác giả
Lê Thị Thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
/
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
Danh mục các từ viết tắt ..................................................................................... iv
Danh mục các bảng.............................................................................................. v
Danh mục các hình ............................................................................................. vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 4
1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam .......... 4
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới ............................ 5
1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam....................... 10
1.2. Đặc tính sinh thái và sinh vật học của cỏ hoà thảo..................................... 16
1.2.1. Đặc tính sinh thái học .............................................................................. 16
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................... 40
4.1. Tính chất lý, hóa học của đất trồng ............................................................ 40
4.2. Năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất .................................... 41
4.2.1. Thí nghiệm trồng cỏ và tưới nước ........................................................... 42
4.2.2. Năng suất và biến động mùa của cỏ Ghine và cỏ Voi ............................. 44
4.2.3. Cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của cỏ voi và cỏ ghinê ................. 48
4.3. Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất và cấu trúc năng suất phần
trên mặt đất của cỏ voi và cỏ ghi nê .................................................................. 56
4.4. Đề xuất biện pháp tác động ........................................................................ 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................. 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
/
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. ĐC
: Đối chứng
2. NS
: Năng suất
/
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Thành phần hoá học của một số cây thức ăn xanh trong họ hoà thảo.......... 5
Bảng 1.2. Sản lượng VCK và chất lượng những loài cỏ trên vùng thấp vào 45
ngày cắt ............................................................................................................ 9
Bảng 1.3. Sản lượng VCK của cỏ Ghine tỉa cắt 30 ngày ............................................10
Bảng 1.4. Năng suất cỏ Voi theo mùa ..........................................................................23
Bảng 1.5. Năng suất cỏ Voi theo tuần tuổi ...................................................................23
Bảng 1.6. Giá trị dinh dưỡng của cỏ Voi ......................................................................24
Bảng 1.7. Năng suất cỏ Ghi nê theo mùa .....................................................................27
Bảng 1.8. Thành phần hoá học của vật chất khô .........................................................27
Bảng 1.9. Thành phần dinh dưỡng của cỏ Ghi nê .......................................................28
Bảng 1.10. Thành phần hoá học cỏ Ghinê và tỷ lệ tiêu hóa .......................................28
Bảng 2.1 Số liệu khí hậu của trạm khí hậu Sơn Dương ............................................31
Bảng 4.1. Kết quả phân tích mẫu đất ............................................................................40
Bảng 4.2. Lượng nước tưới trong 100g đất tát ngập nước (độ ẩm 100%) và đất
ô thí nghiệm...................................................................................................41
Bảng 4.3. Lượng nước tưới ô TN qua các lứa cỏ voi và cỏ ghinê .............................43
Bảng 4.4. Năng suất tươi và khô của cỏ Ghinê qua các lứa cắt .................................44
Bảng 4.5. Năng suất tươi và năng suất khô của cỏ voi qua các lứa cắt .....................46
Bảng 4.6. Tỷ lệ trọng lượng thân, lá cỏ ghinê qua các lứa cắt ...................................49
Bảng 4.7. Trọng lượng thân, lá cỏ voi qua các lứa cắt ..............................................51
Bảng 4.8. Diện tích bề mặt lá của cỏ ghinê thí nghiệm...............................................52
Bảng 4.9. Diện tích bề mặt lá của cỏ voi thí nghiệm ..................................................53
người ngày càng cần nhiều thịt sữa. Trong chăn nuôi gia súc như trâu, bò,
ngựa,… thì cỏ là thức ăn chính, trong khi đó diện tích cỏ tự nhiên ngày càng bị
thu hẹp, lượng cỏ giàu đạm như cây họ Đậu, cỏ hỗn hợp … có rất ít. Với nền
nông nghiệp ngày càng phát triển, quy mô chăn nuôi ngày càng lớn, số lượng
đàn gia súc tăng lên nên hình thức chăn thả tự nhiên như trước không thể đáp
ứng được. Do đó con người đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ bằng cách
tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện từ đặc điểm sinh thái, sinh vật học đến
phương thức cải tạo và sử dụng hợp lý để tạo ra sản phẩm, năng lượng tối đa
trên đơn vị diện tích đồng cỏ tự nhiên cũng như cỏ trồng.
Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của cỏ, các
yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất và nghiên cứu cỏ tạo
ra các giống cỏ mới cho năng suất và chất lượng cao đã được chú trọng nhiều
hơn khi quy mô chăn nuôi được mở rộng và phát triển theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa vì cỏ là thức ăn chăn nuôi gia súc. Trong những năm gần đây
với các thành tựu phát triển khoa học kỹ thuật, hợp tác chăn nuôi với tổ chức
Quốc tế, nước ta đã nhập nhiều giống cây thức ăn họ hòa thảo và họ đậu có
nguồn gốc nhiệt đới từ Philippin, Indonexia, Thái Lan… Một số giống cỏ nhập
nội đã được đánh giá ban đầu là có năng suất cao và thích hợp với điều kiện tự
nhiên của nước ta. Trong số đó phải kể đến các giống cỏ Voi, cỏ Ghi nê.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc với ngành chăn nuôi khá phát
triển có nhiều trang trại chăn nuôi bò có quy mô lớn , cung cấp lượng lớn thịt
và sữa đảm bảo chất lượng cho tiêu dùng. Có được các kết quả đó các trang trại
đã chú trọng đến chuồng trại bảo đảm vệ sinh, phòng tránh dịch bệnh thường
xuyên cho gia súc . Ở Tuyên Quang có nhiều trang trại chăn nuôi bò lấy sữa,
trong đó có trang trại của công ty TNHH Sữa Cho Tương Lai. Trang trại rất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
/
1
trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao thì cần có biện pháp chăm sóc hợp lý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
/
2
Trong đó có yếu tố độ ẩm là yếu tố môi trường có ảnh hưởng quan trọng đến
tăng trưởng và cấu trúc năng suất của cỏ.
Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu
tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ Voi và
cỏ Ghinê tại xã Phúc Ứng-huyện Sơn Dương- tỉnh Tuyên Quang”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
/
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam
Khái niệm cây thức ăn xanh là loại thức ăn mà người và gia súc đều sử
trong họ hoà thảo
Protein
Mỡ thô Xơ thô
thô
Thân lá
ngô non
Cỏ
Ghinê
Cỏ
Ruzi
Cỏ Voi
DSKĐ
Khoáng
Tổng số
Canxi
Photpho
13,1
10,8
3,1
26,2
9,3
0,3
15,8
12,7
2,5
31,9
12,5
0,5
0,3
(Nguồn: Viện Chăn nuôi, 1995)[34]
Như vậy, thức ăn xanh vô cùng quan trọng đối với gia súc và là nguồn
thức ăn được chú trọng trong chăn nuôi gia súc ở những nước phát triển và
đang phát triển. Việc phát triển đồng cỏ không chỉ cung cấp thức ăn tươi mà
còn cung cấp thức ăn dự trữ cho gia súc vào mùa khô.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
1.1.1.1. Các khái niệm về đồng cỏ
Cỏ là nguồn thức ăn gia súc có chất lượng, rẻ tiền và phù hợp với điều
kiện nhiều nước.
Để phát triển trong chăn nuôi gia súc, con người đã từ lâu biết khai thác
đồng cỏ, nhưng lúc đầu còn hoàn toàn dựa vào tự nhiên. Nhưng do nhu cầu
phát triển chăn nuôi ngày một lớn, hình thức chăn thả trên các thảm cỏ tự nhiên
như trước không thể đáp ứng được. Do đó đòi hỏi loài người phải đầu tư trí tuệ
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới
Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề
thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Brazin, … Chăn
nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất vùng đồi núi ở vùng
Đông Nam Á, nên cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này.
Tác giả T.Kanno và M.C.M. Macedo( 2001) [49] đã tiến hành thí nghiệm
gieo hạt của các cỏ Brachiaria decumbens, B.brizantha, B.dictyoneura, B.
humidicola, Andropogon gayanus, Setaria anceps và Paspalum atratum vào
đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đầm lầy. Các tác giả thấy rằng
không có loài nào có thể sống sót tại mùa mưa ở khu vực đất lầy. Còn khi gieo
hạt vào giữa mùa mưa thì chỉ còn một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào
cuối mùa mưa, tuy nhiên cũng không thể sống sót cho đến hết mùa mưa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
/
6
Những kết quả chỉ rõ rằng giai đoạn cây con phù hợp nhất ở khu vực đầm lầy là
bắt đầu của mùa khô, khi đất trở nên cứng có thể sử dụng được máy kéo.
- Ở Thái Lan, với 70% dân liên quan đến sản xuất nông nghiệp, sản
phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa chưa đủ cung cấp theo nhu cầu
tiêu dùng. Theo FAO, Chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của
người nông dân bằng giải pháp: giảm trồng lúa, sắn, đẩy mạnh phát triển chăn
nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại. Nông dân nuôi bò trong dự án được cấp hạt
giống cỏ để trồng (Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi, 1998) [27].
Hiện nay trên thế giới ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề
năng suất, chất lượng cỏ.
Tại Purertorico, Vieente - Chandler Silva và Figarella (1959) [50] thông
báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846 kg VCK/ha với
mức bón 440 kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ.
Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết
quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria
mutica) và Ghinê (Panicum maximum) (Barnard, 1969) [38].
Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum dilatatum là
15.000 kg VCK (Davies J.G, 1970) [41].
Tại Fiji với điều kiện khắc nghiệt hơn năng suất trung bình là 5.313 kg
VCK/ha với mức prôtein thô là 9,9% trong thời gian trên 3 năm (Roberts,
1970) [45].
Tại Forages,( Bennett H. W. (1973)[39], tất cả các giống cỏ thuộc
nhóm Brachiaria và nhóm Digitaria đều phát triển tốt. Riêng nhóm Setaria chỉ
có
giống S.
Splenda phát
triển
và
thu
được
không bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều
kiện bón lân và đạm thích hợp.
Theo Anon, 2000 [36] tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống
cỏ Digitaria decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum
plicatulum khoảng từ 15 - 20, 18 - 25, 9 - 15 và 6 - 10 tấn/ha. Sản lượng này
được thể hiện cụ thể ở bảng 1.2.
Bảng 1.2. Sản lƣợng VCK và chất lƣợng những loài cỏ
trên vùng thấp vào 45 ngày cắt
Tên khoa học
Tên Việt Nam
Năng suất (tấn/ha)
Prôtêin
Brachiaria mutica
Cỏ lông Para
9 – 15
6 – 10
Digitaria decumbens
Pangola
15 – 20
9
ngày ở mùa mưa đầu tiên. Còn ở mùa mưa thứ hai Paspalum atratum sản xuất
30 tạ/ha VCK lớn hơn 10 tạ/ha so với B. Mutica.
Tại Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái
Lan) cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x
50cm và được bón phân hỗn hợp (15 - 15 - 15) trước khi trồng ở mức 300
kg/ha tương đương 18 tấn phân bón/ha. Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn/ha
ở lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1 tấn/ha cắt sau 30 ngày
(Animal Nutrition Division, 2001) [35]. Sản lượng này được thể hiện ở bảng 1.3.
Bảng 1.3. Sản lƣợng VCK của cỏ Ghine tỉa cắt 30 ngày
Thời gian cắt
Năng suất VCK (tấn/ha)
11/08/2000
8,9
11/09/2000
7,1
11/10/2000
6,9
1.1.2.1. Tình hình phát triển
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi Việt Nam đã phát triển đáng
kể. Kể từ năm 1990 đến nay ngành chăn nuôi có hướng phát triển tương đối ổn
định với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt đến 5,27% năm. Tốc độ tăng trưởng
bình quân hàng năm tăng rõ rệt, tư 3,5% năm trong các giai đoạn 1990-1995
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
/
10
lên đến 6,7% năm trong giai đoạn 1996-2000 và trong các năm còn lại đă tăng
lên tới 9,1% năm (Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi,1998)[27].
Bên cạnh tình hình chăn nuôi lấy thịt, chăn nuôi bò sữa cũng phát triển
mạnh trong những năm gần đây và không chỉ cung cấp sữa tươi cho tiêu thụ mà
còn cung cấp cho các nhà máy chế biến sữa. Số lượng bò sữa tăng từ 11.000
con năm 1990 lên gần 80.000 con năm 2004, trong đó, bò cái sinh sản có
khoảng 50.000 con, bò sữa xấp xỉ 40.000 con (Thông tin khoa học kỹ thuật
chăn nuôi,1998)[27].
Do sự tăng trưởng mạnh nên đòi hỏi cần phải có nguồn thức ăn phong
phú để cung cấp đủ cho số lượng đàn gia súc ngày càng tăng lên.
Năm 1960, ngành nông nghiệp Việt Nam đã chủ trương phát triển cánh
đồng cỏ cho gia súc. Năm 1960 , ở miền Bắc chỉ có 96 ha trồng cỏ thì tới năm
1961, 1962 diện tích cỏ đã tăng lên 323 ha và 687 ha. Đến năm 1963, theo số
liệu 6 tỉnh đồng bằng diện tích trồng cỏ và ngô đay làm thức ăn cho gia súc
tăng 3.585 mẫu Bắc bộ (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979)[11].
Năm 1997, thông qua hoạt động hợp tác quốc tế đã nhập 10 giống Stylo
từ Trung Quốc và Philippin.
Năm 1998, chương trình “phát triển bò thịt một cách hiệu quả ở Việt
Nam ACIR Projeet as 9/97/18” nhập 55 loại cây thức ăn gồm 15 loại cây họ
đậu và 40 loại cây họ hoà thảo.
Một số giống cây có nhập nội đã được đánh giá ban đầu và thu được kết
quả tốt, ứng dụng sản xuất ở một số vùng.
Nhưng do không có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất cho nên một số
giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc hoặc chưa có điều kiện thử nghiệm ở các
vùng khác nhau để có cơ sở chắc chắn mở rộng thử nghiệm ra sản xuất.
1.1.2.2. Kết quả các công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi.
Trong những năm trước đây, một số nhà khoa học mới tập trung vào
nghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ đậu nhập nội ở một số
vùng như:
Lục Văn Ngôn, 1970 [21] đã nghiên cứu so sánh năng suất và khả năng
sống qua đông của một số giống cỏ trồng nhập nội trên đất đồi Thái Nguyên
trong đó có giống cỏ Tây Nghệ An (Panicum maximum), Mộc Châu (Paspalum
urvillei), cỏ Xu đăng (Sorglum xudannens), Goatemala (Trypsacum laxum), cỏ
voi, Pangola, cỏ lông Para, qua thí nghiệm cho thấy các loài cỏ voi, Tây Nghệ
An có năng suất cao và có khả năng phát triển trong mùa đông. Tác giả cũng
cho thấy năng suất tỉ lệ thuận lượng phân bón nitơ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
/
12
/
13
đại diện của 2 nhóm còn lại. Đây là cỏ có triển vọng nhất trong 14 cỏ đem vào
thử nghiệm. NSCX của cỏ này là 171,08 tấn/ha/năm cao hơn so với năng suất
157,0 tấn/ha/năm của cỏBrachiaria brizantha và năng suất 96,4 tấn/ha/năm
của Brachiariadecumben (Nguyễn Ngọc Hà và Lê Hòa Bình, 2004)[12].
Phan Thị Phần và CTV (1999) [21]; Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh
(2001) [26] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu vực miền Nam và miền Bắc
cho kết quả:
- Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình Dương
với 20 tấn phân chuồng, 80 kg P2O5, 80 kg K2O và 500 kg vôi/ha/năm. Lượng
phân đạm bón từ 60 - 90 kg/ha/năm, năng suất chất xanh cỏ Panicum maximum
TD 58 đạt 64,59 - 83,33 tấn/ha/năm. Tỷ lệ lá cao 51,48 - 60,44%, năng suất hạt
287 - 323 kg/ha/năm. Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/lứa.
- Khu vực miền Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi
trong điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có tốc độ
sinh trưởng khá tốt (1,96 - 2,01 cm/ngày). Năng suất chất xanh đạt 90 - 100 tấn/
ha/ năm. Cỏ Ghinê có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450 kg/ha, tỷ lệ sử
dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và ngựa 85%.Tỷ lệ tiêu
hóa của dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 cao, khả năng sử dụng của gia
súc đều tốt từ 86 - 100%.
Tại trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Thái Nguyên,
tác giả Nguyễn Văn Quang (2002) [23] khi nghiên cứu so sánh về tốc độ sinh
trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội cho
nhau. Thấp nhất là cây P. glaucum hybrit là 75,1 tấn/ha, keo đậu 60,4 tấn/ha và
cao nhất là các giống cỏ sweer jumbo, superdan, cỏ voi: 365,3 tấn/ha; 349,3
tấn/ha; 362,5 tấn/ha.
- Các giống cỏ hiện nay đã được chuyển giao cho một số địa điểm tại
Sơn La như: Một Châu; Mai Sơn; Thuận Châu; Thị xã. Tuy nhiên việc nghiên
cứu để tăng năng suất chất lượng cỏ đặc biệt trong mùa khô để đáp ứng nhu cầu
thức ăn cho gia súc vẫn chưa được đề cập nhiều.
Hoàng Chung, Giàng Thị Hương (2006) [10] tại Mai Sơn - Sơn La đã
tiến hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (cỏ voi, cỏ ghinê), tăng 1 - 2
lứa/năm, năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ (100 tấn - 120
tấn/ha).
Tháng 7/2004, viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam thuộc bộ
Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thực hiện dự án “Trồng thử nghiệm tập
đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò” tại xã Cam Sơn, An Thạch (Mỏ Cày), Hữu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
/
15
Định (Châu Thành) và An Đức (Ba Tri) đã đưa ra kết luận: Cỏ voi chiếm ưu
thế hơn cả, nếu trồng chuyên canh trên nền đất trống, năng suất đạt 29,04
tấn/ha/lứa; trồng xen vườn dừa là 15,18 tấn/ha, trồng xen vườn ăn trái là 25 - 27
tấn/ha. Đứng thứ hai là cỏ sả lá lớn, trồng thâm canh là 23,11 tấn/ha, trồng xen
vườn dừa là 11,77 tấn/ha, trồng xen vườn cây ăn trái là 20,4 - 21,4 tấn/ha. Tiếp
theo là cỏ Ruzi, cỏ sả lá nhỏ và cỏ lông tây... (Báo Lao động, 2005) [4]
1.2. Đặc tính sinh thái và sinh vật học của cỏ hoà thảo
Mỗi bông mang từ 1 - 10 hoa nhỏ. Ở gốc bông nhỏ thường có mày (lá
bắc) bông xếp đối nhau: còn ở gốc mỗi hoa có 2 mày hoa, mày hoa dưới ôm lấy
mày hoa trên, nhỏ và mềm hơn, mày hoa dưới chỉ có 1 gân ở chính giữa, còn
mày hoa trên có 2 gân bên. Ở nhiều loài, mày hoa dưới kéo dài ra thành chỉ
ngón. Phía trong 2 mày hoa còn 2 mày cực nhỏ rất bé và mềm. Như vậy, thông
thường mỗi hoa có 4 mày, nhưng trong thực tế số lượng này có khi không đầy
đủ. Nhị thường là 3 (đôi khi 6), chỉ nhị dài bao phấn đính lưng, hai bao phấn
khi chín thường xòe ra thành hình chữ X. Bầu trên có 1 ô, 1 noãn, 2 vòi nhụy
ngắn và 2 đầu nhụy dài mang chùm lông quét, thường màu nâu hoặc tím.
1.2.2. Đặc tính sinh lý
1.2.2.1. Nhu cầu về nước
Nước đóng góp vào sự hô hấp, quang hợp của cây, giữ vai trò quan trọng
cho sự phát triển của thực vật cũng như các vi sinh vật đất. Cỏ hoà thảo yêu cầu
nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn hơn họ đậu. Hệ số toả hơi nước của
cỏ này vào khoảng 400 - 500 gram, trong khi của cỏ họ đậu 214 - 216 gram.
Theo Nguyễn Văn Thiện, 2005[24], với đồng cỏ có độ ẩm đất khoảng
70%, một tháng 10m2 cỏ bay hơi khoảng 1m3 nước, trong 5 tháng sẽ có 50 tạ cỏ
khô/1ha. Trên cơ sở đó ta có thể xác định công thức tưới nước trong mùa khô .
Như vậy, chế độ nước của các sinh địa quần lạc cỏ trong một vùng khí hậu xác
định phụ thuộc địa thế của đồng cỏ và thành phần cơ giới của đất như đất bằng,
đất trũng, đất dốc, đất thấp hay bãi bồi,...
Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:
- Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30 %
- Giai đoạn phát triển cành : 75 %
- Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần.
1.2.2.2. Nhu cầu về dinh dưỡng
Theo Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, (1981)[17] Cỏ hoà thảo đòi
hỏi đất tốt, giàu mùn, đạm, lân và kaly. Nhu cầu về dinh dưỡng cũng chia theo
từng giai đoạn.