1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
PHẠM THỊ HỒNG HUỆ
CHÍNH SÁCH MARKETING NHẰM HUY ĐỘNG
VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BIDV) - CHI
NHÁNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
2
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------
PHẠM THỊ HỒNG HUỆ
CHÍNH SÁCH MARKETING NHẰM HUY ĐỘNG
VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BIDV) - CHI
NHÁNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số
5
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy, cô giáo Khoa Quản trị
Kinh doanh và Phòng Đào tạo bộ phận Sau Đại học - Trường Đại học Thương Mại
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại
trường. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS,TS. Nguyễn Tiến
Dũng đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ, nhân viên Chi
nhánh ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Hải Dương đã tận tình cung cấp tài
liệu, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè
cùng khóa đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện.
Do thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo cũng như toàn thể bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Dương, ngày
tháng
năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hồng Huệ
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
CB
CBNV
CNTT
DN
DV
ĐCTC
ĐVT
GTCG
HĐV
Bảo hiểm tiển gửi
Tổng công ty Bảo hiểm Ngân hàng thương mại cổ phần
Đầu tư và Phát triển Hải Dương
Dịch vụ gửi nhận tin nhắn của Ngân hàng thương mại cổ
phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Cán bộ
Cán bộ nhân viên
Công nghệ thông tin
Doanh nghiệp
Dịch vụ
Định chế tài chính
Đơn vị tính
Giấy tờ có giá
Huy động vốn
Nhà nước
Ngân hàng bán lẻ
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng
Ngân hàng nhà nước
Marketing
Một thành viên
Khách hàng
Khách hàng cá nhân
Kinh doanh
Phòng giao dịch
Public Relations- Quan hệ công chúng (hoạt động quảng bá
thương hiệu, dịch vụ
Quyết định
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín
Dịch vụ chuyển tiền quốc tế
46
47
48
triển Việt Nam
TCTD
Tổ chức tín dụng
Techcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam
TGĐ
Tổng giám đốc
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TDN
Tổng dư nợ
TG
Tiền gửi
TK
Tài khoản
VCB
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương
VDB
Ngân hàng phát triển Việt Nam
Viettinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
VND
Việt Nam đồng
WU
Dịch vụ chuyển tiền quốc tế Westion union
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Chi nhánh Hải Dương đã nhận thức được tầm quan trọng và đã triển khai nhiều hoạt
động marketing trong mở rộng huy động vốn. Những ứng dụng marketing huy động
vốn trong ngân hàng đã được nghiên cứu, triển khai dưới nhiều hình thức như mở
rộng hệ thống phân phối, thông tin quảng cáo, tài trợ, tiếp thị, khuyến mãi…bước
đầu đã có tác dụng tích cực đến hoạt động mở rộng huy động vốn của Chi nhánh.
Tuy nhiên, việc sử dụng chính sách marketing trong mở rộng huy động vốn của Chi
nhánh còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, nhất là Chi nhánh chưa xây dựng được
một chiến lược marketing riêng cho đoạn thị trường huy động vốn. Chính vì vậy,
Chi nhánh chưa phát huy được tác dụng tích cực của chính sách marketing trong mở
rộng nguồn vốn của ngân hàng.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nói trên, em đã chọn đề tài:
“Chính sách marketing nhằm huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) - Chi nhánh Hải Dương” làm đề
10
tài luận văn thạc sĩ, nhằm tìm ra những điểm còn hạn chế và từ đó đề xuất những
giải pháp để hoàn thiện chính sách marketing giúp cho nguồn vốn huy động được
tăng trưởng một cách ổn định và bền vững.
2. Tổng quan nghiên cứu:
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Trên thế giới đã có nhiều tác giả và công trình nghiên cứu về lý luận
marketing nói chung và marketing trong hoạt động của ngân hàng nói riêng. Các tác
giả đã đưa ra rất nhiều lý thuyết, tài liệu về các chính sách marketing, các lý thuyết
về hoạt động marketing ngân hàng, các nhân tố trong cạnh tranh giữa các ngân
hàng… Tuy nhiên, những lý thuyết này cho chúng ta hiểu một cách khái quát về
hoạt động marketing của ngân hàng, đặc biệt là đối với các nước có trình độ phát
triển cao. Những tài liệu của các tác giả nước ngoài gặp những khó khăn nhất định
khi áp dụng vào chính sách marketing ngân hàng ở Việt Nam do sự khác biệt về
nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Dương” của bộ phận nguồn vốn tuy nhiên nghiên
cứu này mới chỉ đi sâu vào việc sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả chứ chưa
làm nổi bật lên được những mục tiêu của chính sách huy động vốn cũng như đưa ra
được những đánh giá cho nguyên nhân những hạn chế của chính sách huy động vốn.
3. Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chính sách marketing huy động vốn tại ngân hàng
thương mại.
- Phân tích thực trạng hoạt động huy động vốn và chính sách marketing huy động
vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- chi nhánh Hải Dương để
thấy rõ những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách marketing huy động vốn tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hải Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các chính sách marketing tại BIDV Hải Dương nhằm mục đích
huy động vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh góp phần tăng khả năng cạnh tranh
của BIDV Hải Dương trong quá trình hội nhập quốc tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu:
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động vốn và chính sách huy động
vốn tại ngân hàng thương mại; thực trạng triển khai chính sách marketing huy động
vốn của BIDV Hải Dương thời gian qua; các giải pháp hoàn thiện chính sách
marketing huy động vốn của BIDV Hải Dương trong thời gian tới.
- Về thời gian nghiên cứu:
Đề tài thực hiện nghiên cứu, đánh giá thực trạng chính sách: trong khoảng thời
12
đồng ý” được sử dụng trong bảng câu hỏi, với thang điểm này, điểm 1 tương đương
“hoàn toàn không đồng ý”, thể hiện mức độ kém nhất, bất hợp lý nhất và điểm 5
13
tương đương “hoàn toàn đồng ý”, thể hiện mức độ tốt nhất, thuận tiện, hợp lý nhất.
5.2. Phương pháp phân tích số liệu
Việc tổng hợp số liệu tiến hành bằng phương pháp phân tổ thống kê, được sử
dụng chủ yếu để tổng hợp kết quả điều tra phỏng vấn khách hàng. Trong đó, nghiên
cứu thực trạng chính sách marketing huy động vốn tại BIDV Hải Dương là hướng
chủ đạo được thể hiện trong quá trình tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu nhằm đáp
ứng mục tiêu nghiên cứu đề ra.
Các phương pháp phân tích cụ thể như sau:
a. Phân tích thống kê
Trên cơ sở các tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng các phương pháp phân tích
thống kê như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, lượng tăng (giảm) tuyệt đối,
tốc độ tăng (giảm) tương đối để phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng qua các năm.
b. Phương pháp toán kinh tế
Việc xử lý số liệu thống kê để tính toán và so sánh được thực hiện bằng
chương trình Excel.
c. Phương pháp chuyên gia
Để xây dựng được các chuyên đề chuyên sâu và đề xuất các giải pháp chính
sách, các kiến nghị, tác giả sẽ xin ý kiến của đội ngũ các chuyên gia về các lĩnh vực:
lập kế hoạch; marketing; phát triển sản phẩm; các lãnh đạo của ngân hàng BIDV
Hải Dương để hoàn thiện chính sách marketing huy động vốn tại Chi nhánh.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu làm 3 chương:
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941): "Ngân hàng thương mại là những xí
nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng
dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho
chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".
Ở Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ các hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì
mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định
khác của pháp luật (Khoản 1, điều 5, nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ
về tổ chức và hoạt động của NHTM).
1.1.1.2. Các hoạt động của ngân hàng thương mại
Theo luật các tổ chức tín dụng của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được Quốc hội khoá X (kỳ họp thứ hai, từ ngày 21 tháng 11 đến ngày 12 tháng 12
năm 1997) thông qua thì “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, và
các dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số
15
tiền này cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Cùng với sự phát triển của NHTM, hoạt động và các dịch vụ của NHTM ngày
càng được mở rộng. Nhưng nhìn chung thì có ba hoạt động chính mà NHTM
thường làm đó là:
a) Hoạt động huy động vốn
Là hoạt động khởi đầu cho các hoạt động khác của NHTM. NHTM bản chất là
một tổ chức trung gian tài chính có đặc điểm hoạt động chủ yếu không phải bằng
nguồn vốn chủ sở hữu vì vậy để có nguồn vốn hoạt động, cung cấp vốn cho nền
kinh tế thì NHTM phải huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh
tế thông qua các hoạt động nhận tiền gửi, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đi vay từ
các tổ chức tín dụng khác hay từ NHTW.
b) Hoạt động sử dụng vốn
quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt
động nhất định.
Vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động kinh
doanh mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Vậy, vốn của NHTM là gì?
Các nhà kinh tế đưa ra định nghĩa về vốn của NHTM như sau:
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng
thương mại tạo lập ra hoặc huy động được, dùng để đầu tư, cho vay, hoặc thực
hiện các hoạt động kinh doanh khác của mình.
b. Phân loại
Vốn của NHTM được hình thành từ các nguồn: Nguồn vốn chủ sở hữu;
Nguồn vốn huy động; Nguồn vốn đi vay; Nguồn vốn khác. Ngoài bộ phận vốn điều
lệ khi thành lập và tích lũy được trong quá trình kinh doanh, bộ phận vốn chủ yếu
của ngân hàng là một phần thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản
xuất, phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng để
thực hiện các mục đích khác nhau.
Nguồn vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Vốn chủ sở hữu
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (thường chỉ khoảng 5%) nhưng có vai trò
cực kỳ quan trọng. Do tính chất thường xuyên và ổn định nên ngân hàng có thể sử
dụng nó vào mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo tài sản cố
định phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay, đầu tư, góp vốn liên doanh. Mặt
khác, vốn chủ sở hữu được coi như là tài sản đảm bảo, gây lòng tin với khách hàng.
Nó là căn cứ quyết định quy mô và khối lượng vốn huy động, tính toán các chỉ tiêu
17
đảm bảo an toàn và giới hạn mức cho vay và bảo lãnh của ngân hàng.
Vốn sở hữu của NHTM bao gồm: Vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu bổ sung và các
18
Các tổ chức kinh tế, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, thông thường thì các
tổ chức này không thường xuyên gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tiết kiệm mà
chủ yếu là dùng vào việc thanh toán. Trên cơ sở nắm bắt được chu kỳ, sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp, chu kỳ hoạt động của các tổ chức, mà ngân hàng đề
nghị, hoặc khuyến khích doanh nghiệp, các tổ chức gửi tiền tiết kiệm theo một số
quy định cụ thể mà hai bên thỏa thuận, cũng như quy định hiện hành của pháp luật.
- Huy động từ các tổ chức tín dụng:
Đối với các ngân hàng thương mại khác, chỉ áp dụng trong trường hợp ngân
hàng thương mại tạm thời thiếu hụt trong thanh toán cho khách hàng, hoặc trong
trường hợp ngân hàng thiếu hụt dự trữ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hoặc
để đáp ứng những tình huống bất khả kháng. Tỷ trọng của nguồn này thường thấp,
tính ổn định không cao và không thường xuyên. Các ngân hàng thương mại rất hạn
chế sử dụng tới nguồn này.
Nguồn vốn đi vay:
Nguồn vốn đi vay là nguồn vốn được hình thành bởi các mối quan hệ giữa các
tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng với NHTW. Nguồn vốn
này bao gồm: Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng khác và nguồn vốn vay của
NHTW. Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn
kinh doanh của NHTM, nhưng nó góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh
doanh của ngân hàng, bảo đảm khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu
suất sử dụng vốn.
Trong quá trình kinh doanh như bất kỳ một doanh nghiệp nào, NHTM cũng có
lúc phát sinh tình trạng tạm thời thừa vốn hoặc tạm thời thiếu vốn. Các NHTM khi
phát sinh tình trạng tạm thời thừa vốn, các Chi nhánh thường điều chuyển vốn thừa
về ngân hàng cấp trên. Khi điều chuyển vốn về ngân hàng cấp trên các Chi nhánh
cũng được hưởng theo lãi suất nội bộ của ngân hàng. Tương tự khi thiếu vốn thì các
Chi nhánh sẽ vay của ngân hàng cấp trên. Việc vay vốn của ngân hàng khác hệ thống
khách hàng phải lưu ký một lượng tiền nhất định để đảm bảo thanh toán với người
được hưởng trong một số hình thức thanh toán: séc bảo chi, thư tín dụng.
Tóm lại, mỗi loại vốn trong cơ cấu vốn của NHTM đều có tầm quan trọng
riêng và không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh và sự tồn tại của ngân
hàng. Nhưng nguồn vốn huy động có một vai trò quan trọng hơn cả trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng nói riêng và đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói
chung. Vì vậy các ngân hàng cần phải có các biện pháp thích hợp huy động được
nhiều nhất với chi phí bỏ ra ít nhất mà vẫn đem lại hiệu quả cao.
1.1.2.2. Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại
20
“Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại (NHTM) là
hoạt động mà trong đó các ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ
các chủ thể khác nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của
bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật”
Huy động vốn có thể được xem là một trong những nghiệp vụ xuất
hiện sớm nhất trong hoạt động của các NHTM. Trong giai đoạn sơ khai của
hoạt động ngân hàng, những nghiệp vụ này chỉ đơn thuần là hoạt động cất
giữ các tài sản có giá nhằm mục đích đảm bảo an toàn, và lúc này, người
phải trả phí là người gửi tiền chứ không phải là các ngân hàng, các khoản
tiền chỉ được xem đơn thuần là vật được kí gửi chứ hoàn toàn không đóng
vai trò là nguồn vốn đối với các NHTM, tiền lúc này không được xem là tiền
tệ theo đúng nghĩa của nó, vì không có khả năng luân chuyển, không sinh
ra được lợi nhuận. Khi nhu cầu tín dụng gia tăng, nghiệp vụ ngân hàng phát
triển, vị thế đó bị đảo ngược, ngân hàng là người phải trả phí (lãi suất – giá
cả của tín dụng), và nguồn tiền được kí gửi thay đổi vai trò của nó, trở
thành nguồn vốn khả dụng và lớn nhất của các NHTM hiện nay. Chính vì
vậy, trái ngược với quá khứ, ngân hàng là người phải đi nài nỉ khách hàng
người gửi tiền quan tâm nhiều hơn đến tính lỏng trong tài khoản của họ.
Đối với khách hàng, loại tiền gửi này là tài sản họ ký thác uỷ nhiệm cho ngân
hàng bảo quản và thực hiện các nghiệp vụ liên quan theo yêu cầu của họ. Đó là thực
hiện các khoản chi tiêu về mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ và thực hiện các khoản
chi trả khác phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng một
cách nhanh chóng, thuận tiện và an toàn. Do đó, việc dễ dàng chuyển nhượng được
xem là yếu tố rất quan trọng, vấn đề hưởng lãi đối với số vốn này chỉ là thứ yếu.
Đối với ngân hàng, đây là khoản nợ mà ngân hàng có nghĩa vụ thực hiện lệnh
thanh toán của chủ tài khoản, chi trả cho người thụ hưởng bất cứ lúc nào. Loại
tiền gửi này, lãi suất thường thấp hơn lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có lãi
khác, nhưng khi khách hàng mở và sử dụng tài khoản này, ngân hàng cung ứng các
loại dịch vụ miễn phí hoặc với mức phí thấp. Ngân hàng còn phải bỏ ra chi phí cho
bộ máy kế toán theo dõi và ghi chép các nghiệp vụ phát sinh, chi phí phát hành séc
và một số dịch vụ kèm theo. Chi phí này khá lớn nhưng được bù đắp, vì trên thực
tế, lượng tiền gửi vào và rút ra có sự chênh lệch nhất định về thời gian và số lượng,
nên loại tài khoản này luôn có số dư. Ngân hàng có thể sử dụng số dư này để đầu tư
22
cho vay đối với các doanh nghiệp, cá nhân thiếu vốn sản xuất, kinh doanh để bù đắp
chi phí và đem lại lợi nhuận. Một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh
toán với tài khoản cho vay như cho vay thấu chi - chi trên số dư có của tài khoản
thanh toán. Một số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức “biến tướng” của tài khoản
tiền gửi thanh toán để nâng lãi suất của loại tiền gửi này lên nhằm cạnh tranh với
các tổ chức tín dụng khác.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi được uỷ thác vào ngân hàng trên cơ sở có
sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Theo nguyên tắc
khách hàng ký thác chỉ được rút tiền ra khi đến hạn đã thoả thuận. Nhưng để cạnh
tranh thu hút tiền gửi, các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng được rút tiền ra
vào ngân hàng, người gửi tiền được nhận một sổ tiết kiệm coi như giấy chứng nhận
gửi tiền vào ngân hàng. Đến thời hạn, khách hàng rút tiền và nhận được một khoản
tiền lãi trên sổ tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm những loại sau:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: mang đặc tính chung của tiền gửi không kỳ
hạn, các khoản tiền tiết kiệm không kỳ hạn cho phép người gửi rút tiền bất cứ lúc
nào mà không phải báo trước. Khác với loại tiền gửi thanh toán, người gửi tiền
không được sử dụng các công cụ thanh toán để chi trả cho người khác. Số dư tài
khoản này thường không lớn nhưng ít biến động hơn so với loại tiền gửi thanh toán.
Chính vì vậy, với loại tiền gửi này, các NHTM thường phải trả lãi suất cao hơn so
với tiền gửi thanh toán. Đó là điều kiện để các NHTM có thể huy động số vốn này.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Theo lý thuyết, đây là khoản tiền gửi mà khách
hàng chỉ được rút ra khi đến hạn thanh toán. Trên thực tế để thu hút khách hàng,
ngân hàng đôi khi cũng cho phép khách hàng của mình rút tiền trước thời hạn và
hưởng lãi linh hoạt theo chính sách của từng ngân hàng trong từng thời kỳ. Nguồn
vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư có số lượng lớn thứ 2 trong số các
loại tiền gửi vào ngân hàng, nó phụ thuộc rất lớn vào thu nhập bình quân theo đầu
người, tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập của dân cư, đặc tính tâm lý của dân cư, chất
lượng phục vụ của ngân hàng, sự ổn định của đồng tiền và nền kinh tế tăng trưởng
vững chắc.
Huy động qua phát hành các công cụ nợ:
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính
thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung
cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế. Hơn nữa,
nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn định
24
vốn trong hoạt động kinh doanh. Các NHTM phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ
phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn. Trong hình thức huy động
25
Huy động qua vốn đi vay:
Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạo
vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ
và vay ngân hàng Nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo...
Trong đó các khoản vay từ ngân hàng Nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong
điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà nó không tự cân đối được nguồn vốn.
Có các hình thức vay vốn sau:
+ Vay NHTW: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi
trả của NHTM. NHTW là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế, việc NHTW
cho các NHTM vay vốn thực chất là tiếp vốn đưa vào lưu thông. Trong trường hợp
thiếu vốn khả dụng để đáp ứng nhu cầu thanh toán và nhu cầu khác. NHTM vay
NHTW dưới hình thức chủ yếu là tái cấp vốn. Trong những trường hợp cần thiết,
NHTW cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.
+ Vay các tổ chức tín dụng khác: là quá trình điều hoà nhu cầu vốn khả dụng
giữa NHTM thừa dự trữ cho NHTM thiếu hụt dự trữ tại NHNN nhằm đảm bảo
nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng đi vay
phải chấp hành đầy đủ các quy chế về dự trữ bắt buộc, an toàn vốn và có tài khoản
tiền gửi thanh toán hoạt động thường xuyên tại NHNN. Chi phí cho loại nguồn vốn
này thường cao nên các ngân hàng chỉ sử dụng khi có nhu cầu cần thiết đảm bảo an
toàn cho hoạt động của mình.
1.2. Nội dung cơ bản của chính sách marketing huy động vốn tại ngân
hàng thương mại
Trong chính sách marketing huy động vốn của ngân hàng bao giờ cũng phải
hướng đến tập khách hàng trọng điểm và khách hàng mục tiêu xác định, dựa trên cơ
sở này ngân hàng xác định các chính sách marketing hợp lý.
Các yếu tố cấu thành lên chính sách marketing huy động vốn trong ngân hàng
bao gồm 7 chính sách (7P): Sản phẩm (Product), Giá cả (Price), Xúc tiến thương
mại hay truyền thông (Promotion), Kênh phân phối (Place), Nhân lực (Personal),