Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tƣ và phát triển việt nam – chi nhánh hà nam - Pdf 41

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi, được thực hiện trên cơ sở lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tế tại
NN TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hà Nam. (BIDV – Chi
nhánh Hà Nam) dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thu Thủy. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu nêu trong luận văn hoàn toàn trung thực, chính xác đảm bảo tính khách
quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Trọng Dũng


ii

MỤC LỤC
- Mức tăng trưởng thu lãi trong kỳ.........................................................................14
( Nguồn: phòng Kế hoạch Tổng hợp BIDV Hà Nam).............................................................42
Qua số liệu được thể hiện ở bảng trên cho thấy, dư nợ tín dụng cả ngắn hạn và dài hạn đều
có sự tăng trưởng liên tục qua các năm, Dư nợ ngắn hạn tăng 49,35% trong năm 2010 và tiếp
tục tăng thành 62,79% trong năm 2013. Dư nợ trung hạn cũng tăng từ 35,90% trong năm
2012 lên 37,21% năm 2013. Chi nhánh đã tiếp cận và phần nào đáp ứng được nhu cầu vay
vốn tại địa bàn tỉnh Hà Nam. Tuy nhiên, có thể nhận thấy tỉ lệ tăng của dự nợ tín dụng ngắn
hạn luôn cao hơn nhiều so với dư nợ tín dụng trung dài hạn. Trong bối cảnh khó khăn của
nền kinh tế những năm gần đây, nhu cầu về đầu tư dự án, mở rộng sản xuất kinh doanh
giảm khá nhiều, nhiều dự án bị hoãn, chậm tiến độ cộng với việc BIDV giao giới hạn dư nợ và
giới hạn cơ cấu tín dụng nên việc tăng dư nợ tín dụng trung dài hạn tại Chi nhánh bị ảnh
hưởng............................................................................................................................... 42


đồng bộ, có thể tổng hợp lại trong hai nhóm nguyên nhân chính sau đây:.............54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................77

Sơ đồ 2.2: Quy trình nghiệp vụ tín dụng


iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt
1
BIDV

Diễn giải
: Bank for Investmen and Development of Vietnam

2

BIDV Hà Nam

: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt nam

3

Chi nhánh

– Chi nhánh Hà Nam
: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt nam


: Doanh nghiệp nhà nước
: Giao dịch khách hàng
: Kế hoạch - Tổng hợp
: Kế hoạch kinh doanh
: Ngân hàng thương mại
: Ngân hàng Nhà nước
: Quản lý khách hàng
: Quản lý rủi ro
: Sản xuất kinh doanh
: Tổ chức – Hành chính
: Thương mại cổ phần
: Trách nhiệm hữu hạn


v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Số hiệu sơ
đồ, đồ thị
Sơ đồ 2.1:

Tên sơ đồ, đồ thị

Trang

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của BIDV Hà Nam.........

39

Sơ đồ 2.2

đáng kể vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. BIDV Hà Nam đã đạt được
nhiều hiệu quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây, trong đó phải kể
đến hoạt động tín dụng. Tuy vậy, chất lượng tín dụng vẫn chưa cao, nhiều tồn tại
trong hoạt động tín dụng vẫn cần phải giải quyết. BIDV Hà Nam cũng rất quan tâm
đến công tác nâng cao chất lượng tín dụng nhằm nâng cao năng lực hoạt động kinh
doanh của đơn vị trong xu thế cạnh tranh và hội nhập hiện nay.


2

Xuất phát từ những lý do trên, với những kiến thức đã được học tập, nghiên
cứu trong chương trình đào tạo thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành tài chính ngân hàng
tại trường Đại Học Thương Mại và sau nhiều năm làm việc BIDV Hà Nam. Đề tài:
“Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Nam” được tác giả đã chọn làm Luận văn thạc sỹ
kinh tế của mình.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
- Về cơ sở lý luận của hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại: có các
công trình nghiên cứu:
Nguyễn Đăng Dờn (2004), Tín dụng ngân hàng, NXB Thống kê, TP Hồ
Chí Minh.
Nguyễn Minh Kiều (2006), “ Nghiệp vụ ngân hàng”, Nxb.Thống kê, TP Hồ
Chí Minh.
Nguyễn Minh Kiều (2009), “ Nghiệp vụ ngân hàng”, Nxb.Thống kê, TP Hồ
Chí Minh.
Nguyễn Minh Kiều (2007), “ Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng”
Nxb.Thống kê, TP Hồ Chí Minh.
Trịnh Thị Mai Hoa chủ biên (2004), Giáo trình “ Kinh tế học tiền tệ - ngân
hàng”, Nxb, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
- Về thực tiễn có các luận văn:

3. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa có chọn lọc những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng và chất
lượng tín dụng của NHTM.
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam–chi nhánh Hà Nam để thấy được những
thành công đồng thời phát hiện những nguyên nhân tồn tại, vướng mắc.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam–chi nhánh Hà Nam.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu


4

Do tín dụng là một vấn đề rộng và phức tạp, trong phạm vi Luận văn, tác giả
chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chất lượng tín dụng và nâng cao
chất lượng tín dụng của NHTM :
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn ở Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam–chi
nhánh Hà Nam trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2013, giải pháp hướng đến
2015.
5. Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu
- Chất lượng tín dụng là gì?
- Các chỉ tiêu nào phản ánh chất lượng tín dụng?
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TD?
- Thực trang chất lượng TD của BIDV – Hà Nam từ năm 2010 – 2013?
- Các yếu tố tạo nên chất lượng tín dụng của BIDV tại Hà Nam?
- Giải pháp nào để nâng cao chất lượng của BIDV – Hà Nam?
6. Phương pháp nghiên cứu

Tín dụng ngân hàng ngày nay là một hình thức phát triển cao của tín dụng,
tuy vậy nó vẫn giữ nguyên bản chất của quan hệ tín dụng.
Theo Luật các tổ chức tín dụng: Cấp tín dụng là việc Tổ chức tín dụng thỏa
thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng
một khoản tiền trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả bằng
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. [ 30, tr 2] .
Như vậy, Ta có thể hiểu: tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau
theo nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi trong một thời gian nhất định, giữa
một bên là NHTM và một bên là các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức tín dụng, NHTM khác để các doanh nghiệp kinh doanh thương mại đẩy mạnh
hoạt động kinh doanh thương mại, khuyến khích xuất khẩu các hàng hóa trong nước có
tiềm năng thế mạnh, đồng thời giúp nhập khẩu các hàng hóa mà trong nước chưa sản
xuất được hoặc thiếu.
1.1.1.2 Đặc điểm tín dụng NH:
- Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin, ngân hàng chỉ cấp tín


6

dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng tiền vay đúng mục đích, hiệu quả
và có khả năng trả nợ vay (gốc và lãi) đầy đủ, đúng hạn
- Thứ hai, tín dụng là việc chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Ngân
hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân
hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động
- Thứ ba, tín dụng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu không
có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị
lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải
trả cho ngân hàng một khoản lãi theo thỏa thuận. Có như vậy mới bù đắp được chi
phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh

mục đích nâng cao sản lượng, năng suất lao động và mở rộng sản xuất...)
- Theo kỳ hạn nợ, tín dụng được chia thành: nợ chưa đến hạn, nợ đến hạn và
nợ quá hạn
- Theo xuất xứ của tín dụng có thể phân loại thành: tín dụng trực tiếp (là hình
thức tín dụng mà theo đó ngân hàng sẽ cung cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu
sử dụng vốn đồng thời vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng) và tín dụng gián
tiếp (là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không trực tiếp cung cấp vốn cho
người có nhu cầu vay vốn mà là mua lại các khoản cho vay, các khế ước hoặc
chứng từ nợ đã phát sinh vẫn còn thời hạn của các doanh nghiệp hoặc của các ngân
hàng khác).
- Theo mức độ bảo đảm, tín dụng được chia thành: tín dụng có bảo đảm (là
hình thức cấp tín dụng có bảo đảm bằng tài sản của chính người vay, tài sản hoặc
bảo lãnh của bên thứ ba); tín dụng không có bảo đảm (là hình thức tín dụng không
có bảo đảm bằng tài sản hoặc bảo lãnh đối với khoản vay)
Ngoài ra, còn có thể phân loại tín dụng theo nhiều tiêu chí khác: theo ngành
nghề kinh tế (tín dụng công nghiệp, tín dụng nông nghiệp...), theo đồng tiền cho vay
(VND, USD,..), theo phương pháp hoàn trả (tín dụng trả góp, phi trả góp), theo đối
tượng sử dụng vốn (tín dụng bán lẻ, doanh nghiệp,...) theo hình thái tín dụng của
ngân hàng (tín dụng bằng tiền, bằng tài sản)...
1.1.3 Vai trò của tín dụng NHTM
Tín dụng mang lại lợi ích cho tất cả các chủ thể tham gia: khách hàng vay
vốn, bản thân Ngân hàng và cả nền kinh tế nói chung.


8

1.1.3.1 Đối với nền kinh tế
Tín dụng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng nếu
có hiệu quả sẽ có tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế- chính trị- xã hội. Cụ thể:
- Vai trò của ngân hàng được công nhận là trung gian tín dụng, là cầu nối

tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nội dung giai đoạn đầu của tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa là tập
trung vốn đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch nền kinh tế, phát triển sản
xuất trong nước. Trong điều kiện thị trường vốn của nước ta chưa phát triển thì hiện
tại và thời gian tới, tín dụng của Ngân hàng thương mại vẫn đóng vai trò quyết định
cho giai đoạn đầu thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
- Tín dụng trung dài hạn góp phần tạo nguồn thu vững chắc cho ngân sách:
Phát triển cho vay tín dụng trung dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp từ
ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản, giảm bớt thâm hụt ngân sách. Tín dụng
trung dài hạn đầu tư cho phát triển kinh tế theo chiều sâu, góp phần tạo ra nhiều sản
phẩm hàng hoá để tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu. Như vậy tín dụng trung
và dài hạn gián tiếp tăng cường nguồn thu cho ngân sách từ thuế giá trị gia tăng,
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu… Xuất khẩu tăng, nguồn ngoại tệ cũng dồi
dào hơn, đảm bảo duy trì cho nhu cầu nhập khẩu và cân bằng cán cân thanh toán
quốc tế.
- Tín dụng ngân hàng còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nước
ngoài thông qua các ngân hàng đại lý để phục vụ khách hàng quốc tế trong hoạt
động thanh toán thẻ, cho vay các cá nhân và tổ chức nước ngoài… là cầu nối cho
việc giao lưu kinh tế và phương tiện để thắt chặt mối quan hệ kinh tế giữa các nước
trên thế giới.
1.1.3.2. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một lĩnh vực quan
trọng, quan hệ tín dụng là quan hệ xương sống, quyết định mọi hoạt động kinh tế
trong nền kinh tế quốc dân và nó còn là nguồn sinh lợi chủ yếu, quyết định sự tồn
tại, phát triển của ngân hàng. Ở nước ta hiện nay và cả trong thời gian dài sắp tới, tín
dụng vẫn tiếp tục là một nghiệp vụ mang lại lợi ích chủ yếu cho ngân hàng.
- Tín dụng làm tăng khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại với
nhau: Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường vận động trong điều kiện



tuân thủ đúng thì thời gian doanh nghiệp nhận được khoản tín dụng này là ngắn hơn


11

nhiều so với tự tích lũy hay phát hành chứng khoán. (ii) Thứ hai, không phải công
ty nào cũng được quyền bán trái phiếu, cổ phiếu của mình trên thị trường chứng
khoán, nhất là công ty mới thành lập hay quá nhỏ, chưa có tiếng tăm. (iii) thứ ba,
việc vay vốn ở ngân hàng thương mại làm cho doanh nghiệp có khả năng kiểm soát
độc lập hoạt động kinh doanh mà không phải phân chia quyền kiểm soát với các cổ
đông nếu huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu).
- Tín dụng cung ứng vốn giúp phát triển tiềm năng, nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn của các doanh nghiệp: chỉ khi doanh nghiệp đưa ra được những phương
án kinh doanh/dự án đầu tư có hiệu quả cao mới có thể tiếp cận được nguồn vốn của
NHTM. Hơn nữa, khi cho vay, ngân hàng thường tìm hiểu tình hình tài chính, thẩm
định tính khả thi của dự án, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu, rủi ro của doanh nghiệp.
Tín dụng ngân hàng trở thành công cụ kích thích quá trình sản xuất, quản lý kinh tế,
tư vấn, kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Lãi suất cho
vay của Ngân hàng thương mại buộc các Doanh nghiệp phải nghĩ đến hiệu quả đầu
tư, doanh thu đạt được không chỉ đủ để trả vốn và lãi cho Ngân hàng mà phải đem
lại lợi nhuận cho bản thân doanh nghiệp. Tín dụng ngân hàng có tác dụng thúc đẩy
các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí để tăng cường hiệu quả và kiểm soát nguồn vốn
cho vay sao cho có lợi nhất nhằm có đủ nguồn trả nợ ngân hàng trong tương lai,
khai thác tốt nguồn vốn vay và có phương án kinh doanh phù hợp. Do vậy, lãi suất
tín dụng của Ngân hàng là đòn bẩy thúc đẩy Doanh nghiệp khai thác triệt để đồng
vốn để kinh doanh có lãi và thắng lợi trong cạnh tranh.
- Tín dụng góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích tụ, tập trung vốn và tăng cường
khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp: Tín dụng ngân hàng thường được tập
trung tài trợ cho các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả. Điều này bắt buộc các doanh
nghiệp phải chủ động đứng vững và có sức cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác, tín

thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung
vốn cho sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng
trưởng kinh tế.
Như vậy nhìn một cách chung nhất, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu
cầu về tín dụng của khách hàng phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
và bảo đảm sự tồn tại phát triển của các NHTM cung cấp sản phẩm tín dụng đó.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM


13

Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, vừa mang tính cụ thể, vừa
mang tín trừu tượng. Do đó, để đánh giá chất lượng tín dụng cần thiết lập hai nhóm
chỉ tiêu: chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng:
1.2.2.1. Các chỉ tiêu định lượng
Hệ thống các chỉ tiêu định lượng được thể hiện trên các mặt như: tăng trưởng
quy mô cơ cấu tín dụng, khả năng sinh lời và mức độ an toàn tín dụng của mỗi
NHTM.
* Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô, cơ cấu tín dụng của NHTM
- Doanh số cho vay: chỉ tiêu này phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng
đối với nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, về hoạt động cho vay trong một
thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm.
- Dư nợ tín dụng: chỉ tiêu này phản ánh nguồn vốn cho vay của NHTM được
đầu tư vào nền kinh tế tại thời điểm xác định.
Dư nợ

=

Dư nợ



không có khả năng cho vay và đầu tư. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao cùng với quy
mô huy động và cho vay lớn chứng tỏ khả năng chiếm lĩnh thị trường tốt. Tuy
nhiên, nếu tỷ lệ quá lớn cũng ảnh hưởng đến an toàn thanh khoản của ngân hàng.
- Tỷ trọng dư nợ tín dụng thành phần kinh tế so với tổng dư nợ tín dụng


14

Tỷ trọng dư nợ

Dư nợ tín dụng của thành phần kinh tế
Tổng dư nợ tín dụng
=
tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh tập trung vốn đầu tư vào đối tượng khách hàng của ngân

hàng tại từng thời điểm. Qua đó đánh giá mức độ đa dạng hoá khách hàng cho vay
của NHTM. Tuỳ thuộc vào chính sách khách hàng của mỗi ngân hàng mở rộng hay
thu hẹp phạm vi cho vay đối với từng nhóm khách hàng. Nếu một NHTM quá tập
trung cho vay vào một nhóm khách hàng nào thì mức độ rủi ro cao và ảnh hưởng đến
chất lượng tín dụng của NHTM.
- Tỷ trọng dư nợ tín dụng của từng ngành sản xuất kinh doanh so với tổng dư
nợ tín dụng
Tỷ trọng dư nợ

Dư nợ tín dụng của từng ngành sản xuất kinh doanh
Tổng dư nợ tín dụng
tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh danh mục đầu tư của ngân hàng tại từng thời điểm.

15

* Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ an toàn về hoạt động tín dụng
- Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo
khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng
đúng hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của
ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối
quý, cuối năm.
Tỷ lệ nợ

Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
quá hạn
Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố
quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không
được trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị
chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần
lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn. Như vậy,
tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh
doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là
tỷ lệ nợ quá hạn càng cao, chất lượng tín dụng càng thấp.
Mặt khác, để đánh giá chính xác hơn chỉ tiêu này người ta chia tỷ lệ nợ quá
hạn ra làm hai loại:
Tỷ lệ nợ quá hạn có
khả năng thu hồi

Nợ quá hạn có khả năng thu hồi
Nợ quá hạn

Dư nợ cho vay
Tổng vốn huy động
nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sử dụng nguồn vốn vay đầu tư cho các hoạt

động kinh tế xã hội, nó cũng phản ánh một phần chất lượng tín dụng.
- Hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số rủi ro tín dụng

Tổng dư nợ cho vay
Tổng tài sản có
Chỉ tiêu này cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có,

khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn, nhưng đồng
thời rủi ro tín dụng càng rất lớn. Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng cho vay chiếm tỷ
trọng cao hay thấp so với tổng tài sản qua đó biết được hướng đầu tư và đa dạng
hoá các dịch vụ của ngân hàng, giúp NHTM phân tán rủi ro, nhằm hạn chế
RRTD.
- Hệ số an toàn vốn tối thiểu
Tỷ lệ an toàn

Vốn tự có
Tổng tài sản “Có” rủi ro

Chỉ tiêu rất quan trọng để phản ánh năng lực tài chính của NHTM. Chỉ
tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và
đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động tín dụng của các NHTM.


17


18

tín dụng, lãi suất tín dụng và phí suất, thời hạn, các tài sản đảm bảo và các tài sản có
vấn đề… Một chính sách tín dụng hợp lý sẽ thu hút được nhiều khách hàng, thu được
nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên mỗi NHTM có một chính sách tín dụng riêng phù hợp với
cơ cấu, mục tiêu, nguồn vốn... của mình trong từng giai đoạn. Thực chất chính sách
tín dụng là chính sách khách hàng của NHTM, nhằm tạo ra sự thống nhất chung
trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.
(2) Quy trình tín dụng
Tín dụng là hoạt động sinh lời cao nhất nhưng cũng là hoạt động mang lại
nhiều rủi ro nhất cho NHTM. Do vậy để hạn chế rủi ro ngân hàng phải xem xét, ước
lượng khả năng sinh lời và rủi ro trước và trong khi tài trợ đó chính là quá trình
phân tích tín dụng. Nội dung của phân tích tín dụng là thu thập các thông tin, phân
tích, xử lý các thông tin nhằm xác định uy tín, tư cách pháp lý và khả năng tài
chính, khả năng thanh toán, hiệu quả dự án,… của khách hàng trong quá khứ, hiện
tại và cả tương lai. Do vậy quá trình phân tích tín dụng phải được tiến hành một
cách nghiêm túc để loại bỏ những khoản vay xấu gây thiệt hại cho ngân hàng, đồng
thời cần có sự nhanh gọn, tiết kiệm chi phí.
(3) Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và hiệu quả tín dụng,
thông tin có thể có được qua phỏng vấn trực tiếp khách hàng, qua hệ thống thông
tin tín dụng của NHNN hoặc của chính NHTM, qua báo chí, internet hoặc qua
người trung gian…Một kênh thông tin rất quan trọng để tham khảo là từ chính các
khách hàng/dự án hoạt động trong lĩnh vực tương tự mà ngân hàng đang có quan hệ
tiền gửi hoặc tiền vay. Nếu có được những thông tin tín dụng tốt ngân hàng có thể
đánh giá phân tích khách hàng một cách chính xác trong quá trình thẩm định lựa
chọn những khoản vay tốt, an toàn đồng thời loại bỏ những khoản vay có vấn đề.
Nắm bắt kịp thời chính xác các thông tin tạo điều kiện để ngân hàng nắm bắt được
các cơ hội tốt trong kinh doanh, phòng tránh những rủi ro trong hoạt động.

Những tình huống ngoài dự kiến có thể phát sinh trong quá trình thực hiện dự án.
Chính vì vậy mà công tác giám sát, xử lý tình huống tín dụng khi cho vay có ý
nghĩa rất quan trọng.
- Cán bộ nhân viên ngân hàng
Nhân viên ngân hàng tác động trực tiếp đến chất lượng của hoạt động tín


20

dụng. Khi ngân hàng có một đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ, năng lực, phẩm
chất tốt làm việc chuyên nghiệp, thực hiện đầy đủ chính xác các bước nghiệp vụ theo
đúng quy trình quy định thì ngân hàng sẽ có chất lượng tín dụng cao và ngược lại.
Nhân viên tín dụng (nay gọi là cán bộ Quản lý khách hàng) là những người
trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu…cho các khách
hàng, xử lý quy trình tín dụng từ việc xem xét hồ sơ, thẩm định, phân tích tín dụng,
giải ngân, thu nợ, dự báo rủi ro và xử lý các phát sinh liên quan. Đội ngũ nhân viên
tín dụng chuyên nghiệp sẽ hạn chế được những rủi ro và góp phần nâng cao được
hiệu quả cho vay.
- Chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh là chiến lược quan trọng hàng đầu đối với NHTM. Mỗi
NHTM có một chiến lược kinh doanh khác nhau trong hoạt động của mình đảm bảo
cho ngân hàng hoạt động an toàn có hiệu quả, giúp khai thác thế mạnh và nâng cao vị
thế cạnh tranh của ngân hàng. Chiến lược kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp tới định
hướng và quy mô hoạt động cho vay trong từng thời kỳ, khi ngân hàng có một chiến
lược tín dụng phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng. Do vậy nhà quản trị
ngân hàng phải đề ra được một chiến lược kinh doanh dài hạn một cách phù hợp, linh
hoạt dựa trên quan hệ tổng thể với các chiến lược kế hoạch khác
(6) Cơ sở vật chất, trang thiết bị và trình độ hiện đại hóa công nghệ
Cơ sở trang thiết bị cũng là một yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả tín dụng
của ngân hàng. Đó là các công cụ, phương tiện phục vụ cho việc quản lý, giám sát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status