Hiệu quả hoạt động cho vay tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần công thƣơng việt nam chi nhánh tây hà nội - Pdf 41

1

1
1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các
thầy cô giáo trong Khoa Sau Đại học Trường Đại học Thương Mại, Ban lãnh đạo
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam –chi nhánh Tây Hà Nội, đặc biệt là sự
giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của PGS. TS. Lê Thị Kim Nhung. Tác giả rất mong nhận
được những góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu
được hoàn thiện, góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động cho vay tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam- chi nhánh Tây Hà Nội


2
2

2

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là

: Trương Ngọc Chi

Lớp

: Cao học 21B-TCNH



4
4

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG

HÌNH VẼ
Hình 2.1: Sơ đồ về Bộ máy quản lý của NHTMCPCT_Chi nhánh Hà Nội
Hình 2.2: Sơ đồ về Cơ cấu tổ chức các phòng giao dịch


5
5

5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

: Giải nghĩa

TCTD

: Tổ chức tín dụng

QTRR

: Quản trị rủi ro


: Quản trị rủi ro tín dụng

XHTD

: Xếp hạng tín dụng

CVTĐ

: Chuyên viên thẩm định

CVKH

: Chuyên viên khách hàng

CGPD

: Chuyên gia phê duyệt

CN/PGD

: Chi nhánh/PGD

KSCT

: Kiểm soát chứng từ

CVQLTD

: Chuyên viên quản lý tín dụng


tiền gửi và thực hiện nhiều hoạt động cho vay với số dư không nhỏ. Chi nhánh hiện
đang là đối tác cung cấp vốn quan trọng cho nhiều khách hàng doanh nghiệp của
nền kinh tế. Trong đó, hoạt động cho vay của chi nhánh chiếm một tỷ trọng lớn
trong tổng tài sản của chi nhánh nói riêng và toàn hệ thống nói chung.
Những năm vừa qua, hoạt động cho vay của chi nhánh bên cạnh nhiều thành
tựu đã đạt được, vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn chế dẫn đến hiệu quả hoạt động cho
vay chưa được cao và chưa xứng với qui mô của Chi nhánh, chưa đáp ứng một cách
tốt nhất nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Xuất phát từ thực tiễn đó, nhằm đánh giá một
cách cụ thể và chính xác hiệu quả cho vay để đưa ra các giải pháp góp phần cải


7
thiện thực trạng trên tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam chi
nhánh Tây Hà Nội, tác giả lựa chọn đề tài: "Hiệu quả hoạt động cho vay tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Tây Hà Nội". Từ đó có
thể nhận thấy việc đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay của Ngân hàng cần được
quan tâm và nâng cao hơn nữa trong thời gian tới để có thể đưa hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng phát triển hơn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại cũng như vấn đề tiếp cận vốn
của Doanh nghiệp luôn được quan tâm và có nhiều bài viết, công trình khoa học đã
được công bố, đây là nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu luận văn. Thời gian
qua đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở những khía cạnh khác
nhau. Có thể tổng hợp một số hướng nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, Luận văn thạc sĩ :” Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam - chi nhánh Hà Nội”
(2015) của Lê Thị Phương Thảo, Đại học Thương Mại. Luận văn đã nghiên cứu làm
sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của
NHTM , cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân. Qua đó, tác giả đã
phân tích hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của NHTM CP Công Thương Việt

dụng tại các chi nhánh trong điều kiện tự do cạnh tranh.
Trong điều kiện kinh tế thị trường vận động liên tục, luôn luôn đổi mới và
phát triển hơn nên mỗi công trình nghiên cứu lại có giá trị tại một thời điểm nhất
định. Hơn thế, do đặc điểm của mỗi ngân hàng rất khác nhau và hiện nay tại Ngân
TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Tây Hà Nội chưa có công trình nào
nghiên cứu riêng về Hiệu quả hoạt động cho vay. Vì vậy, rất cần một công trình
nghiên cứu riêng dành cho Ngân Hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh
Tây Hà Nội để đi sâu và thực trạng cho vay, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
– chi nhánh Tây Hà Nội. Do đó, việc chọn đề tài: “Hiệu quả hoạt động huy động
vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần công thương Việt Nam – chi nhánh Tây
Hà Nội” là cần thiết ,có ý nghĩa khoa học và không trùng lặp với các công trình
nghiên cứu trước đó.


9
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Thứ nhất, nghiên cứu, hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận cơ bản về hoạt động
cho vay tại ngân hàng thương mại ;
Thứ hai, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tại
NHTMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Hà Nội;
Thứ ba, trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá, đề xuất những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tại NHTMCP Công Thương Việt Nam –
chi nhánh Tây Hà Nội .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động cho vay của NHTM và
hoạt động cho vay tại NHTMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Hà Nội.
 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích tài
chính để tiến hành phân tích các số liệu đã thu thập được. Đây là một phương pháp
hết sức quan trọng, là khâu trọng yếu trong quá trình viết bài luận. Các phương pháp
phân tích được sử dụng ở đây là phương pháp so sánh, phương pháp phân chia chi
tiết và phương pháp liên hệ đối chiếu.
Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để xem xét, tính toán sự biến động
của các chỉ tiêu, các hệ số phân tích giữa các năm tiến hành nghiên cứu; hay tác giả
sử dụng để so sánh kết quả chỉ tiêu tính toán được của đơn vị đang tiến hành nghiên
cứu với đơn vị cùng ngành. Việc sử dụng phương pháp so sánh trong phân tích giúp
tác giả nắm bắt được sự thay đổi tình hình hoạt động cho vay của đơn vị nghiên cứu
qua các năm, từ đó rút ra được những đánh giá, nhận xét.
Phương pháp phân chia chi tiết được tác giả sử dụng để chia nhỏ chỉ tiêu tài
chính lớn thành các chỉ tiêu nhỏ hơn giúp thuận lợi hơn cho quá trình phân tích.
Việc phân chia thành các chỉ tiêu nhỏ hơn giúp tác giả có thể đi sâu hơn vào các vấn
đề nghiên cứu, đưa ra được những nhận xét có chiều sâu.
Phương pháp liên hệ đối chiếu được tác giả sử dụng khi đưa ra các nhận xét
đánh giá về chỉ tiêu phân tích. Với mỗi kết quả được tính toán của chỉ tiêu phân tích
của đơn vị đang nghiên cứu, tác giả phải tiến hành đưa ra những nhận xét, đánh giá
gắn liền với bối cảnh chung của nền kinh tế cũng như chiến lược kinh doanh cụ thể
của ngân hàng. Từ đó giúp tác giả đưa ra những nhận xét một cách khách quan và
hợp lý.
6. Kết cấu của luận văn.


11
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về NHTM và hiệu quả hoạt động cho vay của
NHTM.
Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay tại NHTMCP
Công Thương Việt Nam – chi nhánh Tây Hà Nội.

1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

a. Huy động vốn
Các NHTM thực hiện một dịch vụ rất quan trọng đối với tất cả các khu vực
của nền kinh tế bằng cách cung ứng những điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền tiết
kiệm của dân chúng và bằng cách đưa những phương thức dễ dàng để thực hiện các


13
mục đích có tính xã hội. Người gửi tiền tiết kiệm được nhận một khoản tiền thưởng
dưới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi tiết kiệm ở các ngân hàng, với mức độ
an toàn và hình thức thanh khoản cao. Số tiền huy động được thông qua hình thức
tiết kiệm luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và các cá
nhân nhằm mở rộng khả năng sản xuất và các mục đích sinh hoạt cá nhân như mua
sắm các mặt hàng tiêu dùng và cả nhà cửa. Phần lớn tiền gửi tiết kiệm được thực
hiện thông qua hệ thống NHTM.
b. Hoạt động tín dụng
Ngay từ khi mới bắt đầu, những người tổ chức các NHTM đã luôn tìm kiếm các
cơ hội để thực hiện việc cho vay, coi đó như là chức năng quan trọng nhất của mình, và
trong một số trường hợp việc cho vay đó được chính phủ bảo lãnh đối với một số nhu
cầu tín dụng, trong các cộng đồng dân cư đặc biệt.
Hoạt động tín dụng bao gồm các hình thức sau:
- Cho vay: hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lợi chủ yếu của các
NHTM. NHTM thực hiện nhiều hoạt động cho vay khác nhau như cho vay thương
mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ dự án. Cho vay thương mại là việc ngân hàng thực
hiện chiết khấu các thương phiếu bản chất là cho người bán vay hoặc cho vay ngắn
hạn để người vay thực hiện việc mua bán tích trữ hàng hóa. Hoạt động cho vay tiêu
dùng là hoạt động ra đời sau cho vay thương mại, vì các ngân hàng tin rằng việc
cho vay tiêu dùng tiểm ẩn nhiều rủi ro hơn. Nhưng do cạnh tranh giữa các ngân
hàng và sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng đã khiến các ngân hàng coi cho

dùng tiền mặt. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh
chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và
nâng cao thu nhập cho khách hàng. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền
vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự phát triển của công
nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu,
L/C đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng thẻ, qua điện thoại…
- Tài trợ thương mại: Là hình thức ngân hàng hỗ trợ cho đơn vị, tổ chức hoặc
doanh nghiệp thông qua các dịch vụ như: dịch vụ nhờ thu, tín dụng chứng từ, bảo
lãnh nước ngoài…mà ở đó khách hàng tham gia giao dịch tài trợ thương mại phải
trả một khoản phí nhất định để được hưởng những quyền lợi và tiềm năng thương
mại có thể được mang lại từ việc tài trợ chương trình.


15
- Dịch vụ uỷ thác và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân
hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh
nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ
uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ
thác đầu tư... Thậm chí, các ngân hàng đóng vai trò là người được uỷ thác trong di
chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo
quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư
vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành
lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp…
- Bảo quản an toàn vật có giá: Đây là một trong những dịch vụ lâu đời nhất
được các NHTM thực hiện. Đó là việc ngân hàng lưu giữ vàng và các vật có giá
khác cho khách hàng trong kho bao quản và khách hàng phải trả phí bảo quản.
- Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Rất nhiều NHTM cung cấp dịch vụ
này, đó là việc mua bán các chứng khoán cho khách hàng. Tùy thuộc quy định của
từng nước, NHTM có thể thành lập hoặc không thành lập bộ phận này.
- Mua bán ngoại tệ: Ngân hàng thực hiện hoạt động mua bán một loại tiền này

- Tài sản trong quan hệ cho vay của ngân hàng là tiền.
- Ngân hàng chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin
rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín
dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định
cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói các
khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết
hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín
dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay
cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
1.1.2.2. Phân loại hoạt động cho vay của NHTM
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên
một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại này có ý nghĩa là tiền đề để thiết lập các


17
quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Sau đây
là một số loại hình tín dụng mà ngân hàng thương mại thực hiện:
a. Căn cứ theo mục đích cho vay
Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động cho vay có thể chia thành:
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp
- Cho vay tiêu dùng cá nhân
- Cho vay mua bán bất động sản
- Cho vay sản xuất nông nghiệp
- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu
b. Căn cứ theo thời hạn cho vay
Căn cứ vào thời hạn cho vay, hoạt động cho vay có thể chia thành:
- Cho vay ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng để bù đắp
sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá

mô tín dụng, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với những thông tin,
yêu cầu khác nhau. Nhìn chung một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ
khách hàng những thông tin sau:
-

Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng

-

Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng

-

Thông tin về bảo đảm tín dụng
Để thu thập được những thông tin căn bản như trên, ngân hàng thường yêu cầu
khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng các loại giấy tờ sau:
- Giấy đề nghị cấp tín dụng
- Phương án sử dụng vốn
- Hồ sơ pháp lý: giấy phép thành lập, giấy phép đăn ký sản suất kinh
doanh,quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động…
- Hồ sơ tài chính: bản cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,
báo cáo lưu chuyển tiền tệ của thời kỳ gần nhất
- Hồ sơ về phương án sản xuất kinh doanh và phương án trả nợ
- Hồ sơ về tài sản đảm bảo: các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố,
bảo lãnh nợ vay
- Các giấy tờ khác theo yêu cầu của ngân hàng
Bước 2. Thẩm định hồ sơ vay và lập tờ trình


19


Lập tờ trình
Tờ trình thẩm định là báo cáo kết quả công tác thẩm định và ý kiến đề xuất
của nhân viên thẩm định
Bước 3. Quyết định
Quyết định tín dụng là quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một hồ sơ vay
của khách hàng. Đây là khâu cực kỳ quan trọng trong quy trình tín dụng vì nó ảnh
hưởng rất lớn đến các khâu sau và ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả hoạt động tín
dụng của ngân hàng.
Đây là khâu quan trọng và cũng là khâu dễ phạm phải sai lầm nhất. Có hai loại
sai lầm cơ bản thường xảy ra trong khâu này:

-

Quyết định chấp thuận cho vay đối với một khách hàng không tốt

-

Từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt


20
Cả hai loại sai lầm này đều dẫn đến thiệt hại đáng kể cho ngân hàng. Loại sai
lầm thứ nhất dễ dẫn đến thiệt hại do nợ quá hạn hoặc nợ không thể thu hồi, tức là
thiệt hại về tài chính. Loại sai lầm thứ hai dễ dẫn đến thiệt hại về uy tín và mất cơ
hội cho vay.
Nhằm hạn chế sai lầm, trong khâu quyết định tín dụng, ngân hàng thường chú
trong hai vấn đề
-


vụ đối ứng nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ sau này. Tuy vậy, giải ngân cũng
phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo thuận lợi, tránh gây khó khăn và phiền hà cho
khách hàng.


Căn cứ giải ngân cho khách hàng
- Hồ sơ do khách hàng cung cấp
- Báo cáo thẩm định
- Hợp đồng tín dụng
- Hợp đồng đảm bảo nợ vay
- Chứng từ pháp lý của tài sản đảm bảo
- Chứng từ chứng minh nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng



Tổ chức Giải ngân
Bộ phận tín dụng tiến hành lập đề nghị giải ngân cho khách hàng
Bộ phận kế toán kiểm tra, xử lý chứng từ giải ngân và mở tài khoản cho vay
để theo dõi nợ vay
Bộ phận ngân quỹ phát tiền cho khách hàng trên cơ sở chứng từ do bộ phận kế
toán cung cấp



Hình thức giải ngân
Tiền mặt
Chuyển khoản
Bước 6: Tổ chức giám sát và thu hồi nợ



khách hàng, tức là vốn vay được người vay đưa vào quá trình đầu tư tạo ra một số
tiền lớn hơn vừa để hoàn trả nợ gốc và lãi vay, vừa trang trải các chi phí khác mà
vẫn bảo đảm có lợi nhuận qua đó đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh
tế. Xét một cách tổng thể khoản vay đó vừa tạo ra hiệu quả kinh tế vừa tạo ra hiệu
quả xã hội.
Theo lý thuyết chung, hiệu quả hoạt động cho vay trong NHTM là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực sử dụng vốn cho vay của NHTM vào
hoạt động kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận và tối thiểu hoá chi phí.
Như vậy, Hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM chính là mối tương quan
giữa kết quả thu được của hoạt động cho vay với chi phí cho vay của ngân hàng.
Vốn cho vay phù hợp và đảm bảo được mục tiêu chi phí hợp lý, đồng thời nguồn
vốn đó phải đảm bảm được vấn đề an toàn trong kinh doanh mà vẫn đem lại khả
năng sinh lời cho ngân hàng.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay của NHTM
Để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động cho vay, các ngân hàng thương mại
đưa ra được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động cho vay và nhóm chỉ
tiêu phản ảnh hiệu quả hoạt động cho vay như sau:
1.2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động cho vay
a. Kết quả thực hiện kế hoạch cho vay


23
Chỉ tiêu này cho biết hoạt động cho vay của ngân hàng thực hiện được so với
kế hoạch đã đề ra. Kết quả thực hiện kế hoạch cho vay của ngân hàng này tăng lên
nghĩa là có nhiều khách hàng sử dụng sản phẩm cho vay của ngân hàng, doanh số từ
hoạt động này lớn hơn các ngân hàng khác. Có nghĩa là kết quả của hoạt động cho
vay của ngân hàng có hiệu quả.
b. Doanh số cho vay

Doanh số cho vay là tổng số tiền mà Ngân hàng cho vay đối với nền kinh tế

=

Thu nhập từ hoạt động cho vay
Tổng thu nhập

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay. Do cho vay là
hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nên thu nhập từ hoạt động cho vay có ý nghĩa to lớn
trong việc phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng.
b. Tỷ lệ nợ quá hạn , nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro
Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết tỷ trọng của các khaorn vay đã bị quá hạn trả nợ gốc
và lãi trong tổng dư nợ. Các chỉ tiêu dùng để phản ảnh tỷ lệ nợ quá hạn tại các ngân
hàng:
- Tỷ lệ nợ quá hạn:
Tổng dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =

x 100 %
Tổng dư nợ

Tại Việt Nam, quy định nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ
gốc quá hạn và, hoặc lãi suất quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng có nghĩa là Ngân hàng thực hiện tốt các bước của
quy trình cho vay, thu được đầy đủ cả lãi và gốc của các khoản cho vay, đồng thời
tốn ít chi phí hơn cho việc quản lý nợ quá hạn. Như vậy, mức độ an toàn của các
hoạt động này cao, rủi ro thấp. Ngược lại, nếu tỷ lệ này cao, một phần lớn các
khoản vay không thu được lãi, thậm chí không thu được gốc. Như vậy, thu nhập của
Ngân hàng bị ảnh hưởng, đồng thời lại tốn chi phí cho việc thu hồi nợ, làm giảm
hiệu quả cho vay. Tuy nhiên, tỷ lệ này được coi là cao hay thấp thì cần được so sánh
tỷ lệ chung của các ngành và tỷ lệ chấp nhận của chính ngân hàng. Việc đánh giá tỷ
lệ này chỉ mang ý nghĩa tương đối. Thông thường với một NHTM, tỷ lệ nợ quá hạn

Là chỉ tiêu tương đối phản ánh sự chuẩn bị của Ngân hàng cho các khoản
vay bị tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập quỹ dự phòng tín dụng hàng năm từ
thu nhập của Ngân hàng
Tỷ lệ trích lập DPRR
trong hoạt động cho vay
cá nhân

DPRR phải trích lập trong kỳ đối với
=
=

hoạt động cho vay cá nhân
Tổng dư nợ cho vay cá nhân

Các NHTM phải trích lập chi phí dự phòng rủi ro trong kỳ bao gồm khoản dự
phòng chung và dự phòng cụ thể phải trích lập.
Ngân hàng công thương trích lập đủ số tiền dự phòng chung là 0,75% tổng số
dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt
Về trích lập dự phòng cụ thể: tùy theo cấp độ rủi ro mà NHCT trích lập dự
phòng rủi ro cụ thể với tỷ lệ trích lập từ 0 đến 100% giá trị của từng khoản vay (sau



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status