Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam, chi nhánh phúc yên - Pdf 39

ĐẶNG VIỆT HƯNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-------------------------

ĐẶNG VIỆT HƯNG

CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM Ở CÔNG TY
CỔ PHẦN VĂN PHÒNG PHẨM BÃI BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

KHÓA 2011B

HÀ NỘI - NĂM 2013


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

DANH MỤC HÌNH VẼ

Số hiệu


Hình 1.7

Biểu đồ tần số

Hình 1.8

Sơ đồ lưu trình tổng quát

Hình 1.9

Biểu đồ biểu diễn chất lượng làm tăng lợi nhuận

Hình 2.1

Mô hình tổ chức của công ty

Hình 2.2

Quy trình sản xuất vở lò xo

Hình 2.3

Quy trình sản xuất vở may gáy

Hình 2.4

Quy trình sản xuất vở màng co

Hình 2.5


Sơ đồ tổ chức phòng quản trị chất lượng

Luận văn Thạc sỹ QTKD

55
56
61
62
77
81
81
89

Đặng Việt Hưng
1


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4

Tên hình vẽ
Báo cáo về số lượng sản phẩm sản xuất trong một số năm gần đây


Bảng phân tích kỹ thuật và yêu cầu sản xuất sản phẩm vở lò xo

67

Bảng 2.10

Bảng kiểm tra chất lượng sản phẩm tại các công đoạn vở lò xo

68

Bảng 2.11

Yêu cầu hành động khắc phục

69

Bảng 2.12

70

Bảng 2.14

So sánh chất lượng sản phẩm vở viết thực tế và tiêu chuẩn của công ty
So sánh chất lượng sản phẩm vở lò xo thực tế và tiêu chuẩn của công
ty năm 2012
Lượng vở bán thành phẩm bổ xung tại các bộ phận

Bảng 2.15


Chi phí tổng hợp của phòng quản trị chất lượng

92

Bảng 3.4

Chi phí tiết kiệm 1

92

Bảng 3.5

Chi phí tiết kiệm 2

93

Biểu 2.1

Biểu đồ so sánh về doanh thu và lợi nhuận sau thuế

50

Biểu 2.2

Biểu đồ tăng giảm tỷ lệ sai hỏng tại các bộ phận

76

Bảng 2.5


1.1.5. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm ............................................................... 13
1.1.6. Các nhân tố tác động đến chất lượng sản phẩm ................................................. 15
1.1.6.1 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ............................................................. 15
1.1.6.2. Nhóm các nhân tố bên trong doanh nghiệp ...................................................... 18
1.2 Quản trị chất lượng sản phẩm ..................................................................................... 22
1.2.2. Bản chất của quản trị chất lượng ........................................................................ 23
1.2.3. Vai trò của quản trị chất lượng ........................................................................... 24
1.2.4. Nhiệm vụ, yêu cầu của quản trị chất lượng ......................................................... 25
1.2.5. Chức năng cơ bản của quản trị chất lượng ......................................................... 27
a) Chức năng hoạch định chất lượng ( P – Plan ) ........................................................ 27
b) Chức năng tổ chức thực hiện ( D – Do ) ................................................................... 29
c) Chức năng kiểm tra, kiểm soát ( C – Check ) ............................................................ 29
d) Chức năng điều chỉnh và cải tiến ( A – Action ) ........................................................ 30
1.3. Nâng cao chất lượng sản phẩm .................................................................................. 36
1.3.1. Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng sản phẩm ................................................. 36
1.3.2 Các biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm............................... 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG I ..................................................................................................... 43
CHƯƠNG II ........................................................................................................................ 44
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM Ở CÔNG TY CỔ PHẦN VĂN
PHÒNG PHẨM BÃI BẰNG................................................................................................ 44

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
3


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

3.2.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực .............................................................. 96
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................. 100

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
4


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các ngành công nghiệp ngày nay đang phải đối mặt với một nhu cầu ngày càng
tăng để nâng cao chất lượng sản phẩm, không chỉ để giảm thiểu lãng phí và tăng năng
xuất mà còn đảm bảo sự hài lòng của khách hàng. Trong nền kinh tế thị trường để có
thể phát triển doanh nghiệp một cách bền vững mang tính chất ổn định, lâu dài thì các
doanh nghiệp phải đặc biệt ưu tiên vấn đề chất lượng sản phẩm. Doanh nghiệp nào có
chất lượng sản phẩm tốt hơn, có giá cả cạnh tranh so với nhu cầu của khách hàng hơn
sẽ có khả năng dành thắng lợi trong cạnh tranh và ngược lại.
Nhận thức được vấn đề này, trong thời gian qua Công ty cổ phần văn phòng
phẩm Bãi Bằng đã rất chú trọng đến công tác nâng cao chất lượng sản phẩm. Tuy
nhiên, do yêu cầu về chất lượng sản phẩm của khách hàng ngày càng cao, trong khi
nhà máy vẫn còn nhiều hạn chế, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu
khách hàng. Do vậy vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm đã và đang trở thành nhiệm
vụ trọng tâm của Công ty.
Xuất phát từ lý do trên, việc đưa ra “ Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm

- Phân tích thực trạng chất lượng sản phẩm và những nhân tố ảnh hưởng tới
chúng ở Công ty cổ phần văn phòng phẩm Bãi Bằng.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của Công
ty cổ phần văn phòng phẩm Bãi Bằng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung chính của luận văn có 3 chương.
Chương I: Cơ sở lý luận về chất lượng và quản trị chất lượng sản phẩm công
nghiệp.
Chương II: Phân tích thực trạng chất lượng sản phẩm của Công ty cổ phần văn
phòng phẩm Bãi Bằng.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của Công ty
cổ phần văn phòng phẩm Bãi Bằng.

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
6


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP
1.1 Tổng quan về chất lượng sản phẩm công nghiệp
1.1.1. Khái niệm chất lượng sản phẩm
Chất lượng là một phạm trù rộng và phức tạp mà con người thường hay gặp trong

Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

những đòi hỏi của người tiêu dùng. Chỉ có những đặc tính đáp ứng được nhu cầu của
hàng hoá mới là chất lượng sản phẩm. Còn mức độ đáp ứng nhu cầu là cơ sở để đánh
giá trình độ chất lượng sản phẩm đạt được. Đây là quan niệm đặc trưng và phổ biến
trong giới kinh doanh hiện đại. Có rất nhiều tác giả cũng theo quan niệm này với
những cách diễn đạt khác nhau:
- A.Feigenboun: “Chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công
nghệ và vận hành của sản phẩm nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu
của người tiêu dùng khi sử dụng”.
Phần lớn các chuyên gia về chất lượng trong nền kinh tế thị trường coi chất
lượng sản phẩm là sự phù hợp với nhu cầu hay mục đích sử dụng.
Tuy nhiên, theo quan niệm này chất lượng sản phẩm không được coi là cao nhất
và tốt nhất mà chỉ là sự phù hợp với nhu cầu. Do vậy, để có thể khái quát hoá nhằm
phát huy những mặt tích cực và khắc phục những mặt hạn chế của các quan niệm trên,
tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO ( International Organization for Standardization ) đưa
ra khái niệm:
“Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể
(đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”.
Giáo trình “ Quản lý chất lượng trong các tổ chức ” – NXB giáo dục 2002.
Đây là quan niệm hiện đại nhất được nhiều nước chấp nhận và sử dụng khá phổ
biến hiện nay. Chất lượng sản phẩm là tập trung những thuộc tính làm cho sản phẩm
có khả năng thoả mãn những nhu cầu nhất định phù hợp với công dụng của nó. Tập
hợp các thuộc tính ở đây không phải chỉ là phép cộng đơn thuần mà còn là sự tương
tác hỗ trợ lẫn nhau. Chất lượng không thể được quyết định bởi công nhân sản xuất hay
tổ trưởng phân xưởng, phòng quản lý chất lượng mà phải được quyết định bởi nhà
quản lý cao cấp - những người thiết lập hệ thống làm việc của công ty nhưng cũng là
trách nhiệm của mọi người trong công ty. Do đó, chất lượng không phải là tự nhiên

- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phầm vì lý do nào
đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù
trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận
then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh
của mình.
- Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến
động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử
dụng.
- Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét đến mọi đặc tính của đối
tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ
từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính
pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.
- Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng
cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận
chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng.

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
9


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

- Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng
ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình.
Khái niệm chất lượng trên đây được gọi là chất lượng theo nghĩa hẹp. Rõ ràng
khi nói đến chất lượng chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ sau khi


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

- Chất lượng tối ưu: Là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức độ
hợp lý nhất trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Nói cách khác, sản phẩm hàng
hoá đạt mức chất lượng tối ưu là các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thoả mãn nhu cầu
người tiêu dùng, có khả năng cạnh tranh với nhiều hãng trên thị trường, sức tiêu thụ
nhanh và đạt hiệu quả cao.
Phấn đấu đưa chất lượng của sản phẩm hàng hoá đạt mức chất lượng tối ưu là
một trong những mục đích quan trọng của quản lý doanh nghiệp nói riêng và quản lý
kinh tế nói chung.
1.1.4. Vai trò của chất lượng sản phẩm
Cơ chế thị trường tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp và nền kinh tế. Đồng thời, nó cũng đặt ra những thách thức đối với doanh
nghiệp qua sự chi phối của các qui luật kinh tế trong đó có qui luật cạnh tranh.
Nền kinh tế thị trường cho phép các doanh nghiệp tự do cạnh tranh với nhau trên
mọi phương diện. Chất lượng sản phẩm tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua. Mỗi sản
phẩm có rất nhiều các thuộc tính chất lượng khác nhau, các thuộc tính này được coi là
một trong những yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp.
Khách hàng hướng quyết định lựa chọn mua hàng vào những sản phẩm có các thuộc
tính phù hợp với sở thích, nhu cầu và khả năng, điều kiện sử dụng của mình. Họ so
sánh các sản phẩm cùng loại và lựa chọn loại hàng nào có những thuộc tính kinh tế kỹ thuật thoả mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn. Bởi vậy sản phẩm có các
thuộc tính chất lượng cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết định lựa
chọn mua hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp công nghiệp, chất lượng sản phẩm luôn luôn là một
trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Chất lượng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện chiến lược Marketing, mở
rộng thị trường, tạo uy tín và danh tiếng cho sản phẩm của doanh nghiệp, khẳng định

kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Khi doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao,
sẽ có điều kiện đảm bảo việc làm ổn định cho người lao động, tăng thu nhập cho họ,
làm cho họ tin tưởng gắn bó với doanh nghiệp từ đó đóng góp hết sức mình vào công
việc sản xuất kinh doanh.
Đối với nền kinh tế quốc dân, việc tăng chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với việc
người dân được tiêu dùng những sản phẩm có chất lượng tốt hơn với tuổi thọ lâu dài
hơn, góp phần làm giảm đầu tư chi phí cho sản xuất sản phẩm và hạn chế được phế
thải gây ô nhiễm môi trường. Hơn nữa, nâng cao chất lượng còn giúp cho người tiêu
dùng tiết kiệm được thời gian và sức lực khi sử dụng sản phẩm do các doanh nghiệp
cung cấp. Suy cho cùng đó là những lợi ích mà mục tiêu của việc sản xuất và cung cấp
sản phẩm đưa lại cho con người. Bởi vậy, chất lượng đã và luôn là yếu tố quan trọng
số một đối với cả doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
12


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

Chất lượng sản phẩm không chỉ làm tăng uy tín của nước ta trên thị trường quốc
tế mà còn là cách để tăng cường nguồn thu nhập ngoại tệ cho đất nước qua việc xuất
khẩu sản phẩm đạt chất lượng cao ra nước ngoài.
1.1.5. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm được đánh giá qua một hệ thống các chỉ tiêu cụ thể. Những
chỉ tiêu chất lượng đó chính là các thông số kinh tế - kỹ thuật và các đặc tính riêng có
của sản phẩm phản ánh tính hữu ích của nó. Những đặc tính này gồm có:



Chỉ tiêu gây ô nhiễm môi trường: Thể hiện mức độ độc hại của việc sản xuất

sản phẩm tác động đến môi trường tự nhiên.


Tính dễ sử dụng, dễ sửa chữa: Thể hiện mức độ thao tác, vận hành cũng như

sửa chữa của sản phẩm.


Tiết kiệm tiêu hao nguyên liệu, năng lượng: Đặc trưng cho quá trình chế tạo,

đảm bảo tiết kiệm các chi phí lớn nhất.


Chi phí, giá cả: Đặc trưng cho hao phí cần thiết để tạo nên sản phẩm.

Ngoài ra để đánh giá, phân tích tình hình thực hiện chất lượng giữa các bộ phận,
giữa các thời kỳ sản xuất ta còn có các tiêu chí so sánh như sau:
 Tỷ lệ sai hỏng để phân tích tình hình sai hỏng trong sản xuất:
- Dùng thước đo hiện vật để tính, ta có công thức:

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
13



thức như sau:

n

 Qi.Pki

Trong đó:

i 1

P: giá đơn vị bình quân

P=
n

 Qi

Pki:

Giá đơn vị kỳ gốc của thứ hạng i

i 1

Qi: Số lượng sản phẩm sản xuất của thứ hạng i

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
14


người tiêu dùng ở các thị trường khác nhau là khác nhau, hoặc sự tiêu dùng mang tính
thời điểm. Điều này được phản ánh rõ nét nhất với các sản phẩm mốt hoặc những sản
phẩm sản xuất theo mùa vụ.

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
15


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

Thông thường, khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu cầu
của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm nhiều tới mặt xã hội của sản
phẩm. Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng cũng tăng theo.
Đôi khi họ chấp nhận mua sản phẩm với giá cao tới rất cao để có thể thoả mãn nhu cầu
cá nhân của mình.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp không chỉ phải sản xuất ra những sản phẩm có
chất lượng cao về kỹ thuật mà còn phải quan tâm tới khía cạnh thẩm mỹ, an toàn và
kinh tế của người tiêu dùng khi tiêu thụ sản phẩm.
- Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật.
Ngày nay, không có sự tiến bộ kinh tế xã hội nào không gắn liền với tiến bộ khoa
học công nghệ trên thế giới. Trong vài thập kỷ trở lại đây, trình độ phát triển của khoa
học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tiến bộ khoa
học kỹ thuật đã tạo ra những bước đột phá quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực mới:
Tự động hoá, điện tử, tin học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, robot... đã tạo ra
những thay đổi to lớn trong sản xuất cho phép rút ngắn chu trình sản xuất, tiết kiệm
nguyên vật liệu nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.

đặc biệt phải kể đến là cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước. Cơ chế quản lý vừa là
môi trường, vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và
nâng cao chất lượng sản phẩm.
Khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp phụ
thuộc chặc chẽ vào cơ chế quản lý cuả mỗi quốc gia. Cơ chế quản lý vừa là môi
trường, vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến chất
lượng sản phẩm. Thông qua cơ chế và các chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước tạo
điều kiện thuận lợi cho các yếu tố như:
+ Kế hoạch hóa phát triển kinh tế.
+ Giá cả.
+ Chính sách đầu tư
+ Tổ chức quản lý về chất lượng.
- Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng cao chất
lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt dới, nóng ẩm mưa
nhiều như Việt Nam. Nó tác động tới các đặc tính cơ lý hoá của sản phẩm, làm giảm đi
chất lượng của sản phẩm, của hàng hoá trong quá trình sản xuất cũng như trong trao
đổi, lưu thông và tiêu dùng.
Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét... ảnh hưởng
trực tiếp tới chất lượng các, nguyên vật liệu dự trữ tại các kho tàng, bến bãi. Đồng
thời, nó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết bị, máy móc, đặc biệt đối với
các thiết bị, máy móc hoạt động ngoài trời. Khí hậu, nóng ẩm cũng tạo điều kiện cho
côn trùng, vi sinh vật hoạt động làm cho sản phẩm bị phân huỷ, nấm mốc, thối rữa...
ảnh hưởng tới hình thức và chất lượng của sản phẩm. Điều này dễ dàng gặp ở các sản
phẩm có nguồn gốc từ nông nghiệp,ngư nghiệp.

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
17

Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất và được thể
hiện qua sơ đồ sau:

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
18


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

Hình 1.1. Quy tắc 4M
MEN
Con người

METHODS
Phương pháp
Trình độ quản lý

CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM

MATERIALS
Nguyên vật liệu,
vật tư

MACHINES
Máy móc,

Nguyên vật liệu là yếu tố chính tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, cấu
thành thực thể sản phẩm. Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào
chất lượng nguyên vật liệu đầu vào. Quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầu vào. Quá
trình cung ứng nguyên vật liệu có chất lượng tốt, kịp thời, đầy đủ, đồng bộ sẽ bảo đảm
cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục , nhịp nhàng; sản phẩm ra đời với chất lượng
cao. Ngược lại, không thể có được những sản phẩm có chất lượng cao từ nguyên liệu
sản xuất không bảo đảm, đồng bộ hơn nữa nó còn gây ra sự lãng phí, thất thoát nguyên
vật liệu.
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào mà doanh nghiệp có thể bảo đảm được việc
cung ứng nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất với chất lượng cao, kịp thời, đầy đủ
và đồng bộ ? Điều này chỉ có thể thực hiện được, nếu như doanh nghiệp xác lập thiết
kế mô hình dự trữ hợp lý; hệ thống cung ứng nguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở
nghiên cứu đáng giá nhu cầu về thị trường (cả đầu vào và đầu ra), khả năng tổ chức
cung ứng, khả năng quản lý...
- Nhóm yếu tố kỹ thuật – thiết bị ( MACHINES )
Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản,
quyết định tới chất lượng sản phẩm.
Trình độ hiện đại, tính đồng bộ và khả năng vận hành công nghệ... ảnh hưởng rất
lớn tới chất lượng sản phẩm. Trong điều kiện hiện nay, thật khó tin rằng với trình độ
công nghệ, máy móc ở mức trung bình mà có thể cho ra đời các sản phẩm có chất
lượng cao. Ngược lại, cũng không thể nhìn nhận rằng cứ đổi mới công nghệ là có thể
có được những sản phẩm chất lượng cao, mà chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiều
yếu tố: Nguyên vật liệu, trình độ quản lý, trình độ khai thác và vận hành máy móc,
thiết bị...
Đối với các doanh nghiệp tự động hoá cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng
loạt thì chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng rất nhiều. Do đó, trình độ của các doanh
nghiệp về công nghệ, thiết bị máy móc phụ thuộc vào rất nhiều và không thể tách rời

Luận văn Thạc sỹ QTKD


tổ chức sản xuất, cung ứng và các dịch vụ sau khi bán hàng.
+ Quan điểm lãnh đạo của doanh nghiệp.
Theo quan điểm quản trị chất lượng sản phẩm hiện đại, mặc dù công nhân là
người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nhưng người quản lý lại là người phải chịu trách
nhiệm đối với sản phẩm sản xuất ra. Trong thực tế, tỷ lệ tỷ lệ liên quan đến những vấn
đề trong quản lý chiếm tới 80%.
Do vậy, họ phải nhận thức được rằng đó không chỉ do lỗi ở trình độ tay nghề
người công nhân mà còn do chính bản thân mình. Trên thực tế, liệu đã có nhà quản lý

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
21


Đại học Bách khoa Hà Nội

GVHD: TS. Nguyễn Đại Thắng

nào đặt cho chính họ những câu hỏi như: Họ bố trí lao động đã hợp lý chưa? Việc bố
trí có phát huy được khả năng, trình độ tay nghề của người công nhân hay không? Sản
phẩm sản xuất với chất lượng kém có phải do con người, máy móc thiết bị, nguyên vật
liệu hay do nguyên nhân nào khác...
Thêm vào đó, chính sách chất lượng và kế hoạch chất lượng được lập ra dựa trên
những nghiên cứu, thiết kế của các lãnh đạo doanh nghiệp. Quan điểm của họ có ảnh
hưởng rất lớn tới việc thực hiện chất lượng trong toàn công ty. Điều này chứng tỏ
rằng, chỉ có nhận thức được trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp thì mới có cở sở
thực hiện việc cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. (Nguồn
Vietnam Open Educational Resources).
1.2 Quản trị chất lượng sản phẩm

không đơn thuần chỉ làm chất lượng của hoạt động kỹ thuật. Nói một cách khác, trong
quan niệm trên, chính sách chất lượng là ý đồ và định hướng chung về chất lượng của
một tổ chức do lãnh đạo cấp cao nhất của tổ chức đề ra.
Theo tiêu chuẩn ISO 9000: 2000: “ Quản trị chất lượng là các hoạt động có
phối hợp nhằm chỉ đạo và kiểm soát một tổ chức về chất lượng”.
Trong khái niện trên chỉ đạo hoặc tổ chức kiểm soát một tổ chức về chất lượng
thường bao gồm:
+ Thiết lập chính sách chất lượng: Là ý đồ và định hướng chung của tổ chức
liên quan đến chất lượng do lãnh đạo cấp cao nhất của tổ chức đề ra.
+ Mục tiêu chất lượng: Là một phần của quản trị chất lượng là điều quan trọng
nhất được tìm kiếm hoặc hướng tới chất lượng.
+ Hoạch định chất lượng: Là một phần của quản trị chất lượng tập trung vào
việc thiết lập các mục tiêu và định rõ quá trình tác nghiệp cần thiết, các nguồn lực có
liên quan để thỏa mãn các mục tiêu chất lượng.
+ Kiểm soát chất lượng: Là một phần của quản trị chất lượng tập trung vào việc
thỏa mãn các yêu cầu chất lượng.
+ Đảm bảo chất lượng: Là một phần của quản trị chất lượng tập trung vào việc
tạo lòng tin rằng các yêu cầu được thỏa mãn.
+ Cải tiến chất lượng: Là một phần của quản trị chất lượng tập trung vào việc
nâng cao tính hiệu quả và hiệu lực của quá trình để tạo thêm lợi ích cho tổ chức và các
bên có liên quan.
Theo tiêu chuẩn JIS ( Japan Industrial Standards ) Nhật Bản: : “Quản trị chất
lượng là hệ thống các phương pháp tạo điều kiện sản xuất những hàng hóa có chất
lượng hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng”.
1.2.2. Bản chất của quản trị chất lượng
Quản trị chất lượng là việc ấn định mục tiêu, đề ra nhiệm vụ, tìm con đường đạt
tới một hiệu quả cao nhất. Mục tiêu của quản trị chất lượng trong các doanh nghiệp là
đảm bảo chất lượng phù hợp với yêu cầu của khách hàng với chi phí thâp nhất. Đó là
sự kết hợp giữa nâng cao những đặc tính kinh tế – kỹ thuật hữu ích của sản phẩm đồng


lượng.
1.2.3. Vai trò của quản trị chất lượng
Có thể nói, trong giai đoạn hiện nay quản trị chất lượng chiếm vai trò rất quan
trọng. Quản trị chất lượng là một phần trong hệ thống quản trị kinh doanh của các
doanh nghiệp, là phương tiện cần thiết để đmr bảo rằng chất lượng sản phẩm của
doanh nghiệp luôn ổn định. Quản trị chất lượng không những làm cho chất lượng sản
phẩm và dịch vụ thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng mà còn nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa, quản trị chất lượng còn
giúp các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để hướng tới mục tiêu
chung. Nhờ có quản trị chất lượng mà doanh nghiệp duy trì và đảm bảo thực hiện các

Luận văn Thạc sỹ QTKD

Đặng Việt Hưng
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status