1
NG
`
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UY
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
ỄN
----------------------------
CHÍ
TH
ỨC
-
PHAN THỊ LÀN
LUẬ
N
VĂ
N
TH
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẠI
----------------------------
PHAN THỊ LÀN
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẠI
TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
GIAO THÔNG I
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
:
62 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHAN THẾ CÔNG
`
3
HÀ NỘI, NĂM 2016
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực
6
MỤC LỤC
7
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN
DN
TNHH
XNLH
LHCXN
DNNN
DTT
CTCP
CIENCO 1
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Doanh nghiệp
Trách nhiệm hữu hạn
Xí nghiệp liên hợp
Liên hợp các xí nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh thu thuần
ưu thế, thiết bị kỹ thuật để tìm cho mình những dự án lớn hơn và tranh thủ được
nguồn vốn nước ngoài để đầu tư vào các dự án, kể cả dự án BT, BOT. Kết quả, năm
2014 hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty đạt khá cao, sản lượng của
10
DN đạt trên 8.300 tỷ đồng, đạt 107% kế hoạch năm, doanh thu của DN đạt trên
7.300 tỷ đồng, tỷ lệ doanh thu trên sản lượng đạt 88%. Tuy nhiên,việc chuyển đổi
sang mô hình DN cổ phần khiến cho hơn 8.000 cán bộ, công nhân viên của
CIENCO 1 còn bỡ ngỡ. Trong khi, mô hình mới đòi hỏi sự năng động, sự quản lý
tài chính và quản trị kinh doanh tốt.
Vì vậy, để đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu nhất thì việc phân tích cơ chế
quản lý vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phân tích hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Xuất phát từ những ý tưởng trên, “Hoàn thiện cơ chế quản lý vốn
tại CIENCO 1” được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ, với
hy vọng có thể góp phần hoàn thiện quá trình chuyển đổi mô hình Công ty cổ phần,
nâng cao sức cạnh tranh của Tổng Công ty trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thời gian vừa qua, đã có một số công trình khoa học đề cập đến vấn đề quản
lý sử dụng vốn nhà nước với những nội dung, phạm vi và cách tiếp cận khác nhau,
cụ thể như:
Nguyễn Thị Hải Bình (2014) đã đề cập "Kinh nghiệm quản lý đầu tư, kinh
doanh vốn tại một số quốc gia". Tác giả đã chỉ ra cho người đọc những hành lang
pháp lý đầu tư kinh doanh vốn của một số nước trên thế giới và từ đó đưa ra những
bài học hữu ích cho Việt Nam. Cụ thể, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước
trong phát triển nền kinh tế, bài viết giới thiệu kinh nghiệm của một số nước về
hoàn thiện hành lang pháp lý đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước, trong đó tập trung
vào 7 nội dung sau: Thứ nhất, Khung pháp lý quản lý vốn nhà nước đầu tư vào
doanh nghiệp (DN); Thứ hai, Phạm vi nhà nước đầu tư vốn; Thứ ba, Thẩm quyền
góp vốn chi phối), nhưng vai trò và thể chế điều tiết liên quan đến các chính sách tài
trợ và phân phối vẫn chưa thấy rõ, hoặc còn lệ thuộc vào các quy định đã có từ
trước khi các tập đoàn kinh tế nhà nước ra đời; Dưới góc độ công ty mẹ, với thẩm
quyền được giao, các tập đoàn kinh tế nhà nước có thể khá thoải mái trong việc
định đoạt 100% nguồn vốn đầu tư ban đầu vào các dự án công ty con, công ty mà
tập đoàn kinh tế nhà nước có vốn góp chi phối; Với tư cách là những đơn vị hạch
toán độc lập, nhưng gần như các quyết định đầu tư lớn nhỏ của các công ty con của
các tập đoàn kinh tế nhà nước lại lệ thuộc vào các quyết định của ban lãnh đạo các
tập đoàn kinh tế nhà nước, vẫn tồn tại một sự không rõ ràng giữa vai trò chủ sở hữu
12
đầu tư và vai trò quản lý nhà nước, khiến cho các công ty con dễ “bị can thiệp”,
theo họ xin “bao cấp”; Theo mô hình công ty mẹ - tập đoàn được áp dụng tại Việt
Nam, các tập đoàn kinh tế nhà nước nhìn chung có những thẩm quyền như sau đối
với các quyết định đầu tư: (1) Đầu tư mới 100% vào những công ty 100% vốn của
tập đoàn, hay những công ty đã có hoặc sẽ có vốn chi phối của tập đoàn; (2) Đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh vào những công ty nói trên; (3) Đầu tư vào những
công ty liên kết cũng như việc tăng hay giảm vốn sau này. Từ đó tác giả đã đưa ra
những giải pháp như sau, đối với Chính phủ: Thứ nhất, cần có cơ quan quản lý
DNNN tập trung, kể cả các tập đoàn kinh tế chuyên trách, đủ mạnh để thực hiện
quản lý và giám sát sở hữu nhà nước tại các DN; Thứ hai, xác định lại mục tiêu
chiến lược, chức năng của các tập đoàn trong 5 đến 10 năm tới; Thứ ba, đánh giá lại
tài sản cả hữu hình lẫn vô hình của DNNN một cách chính xác và thực hiện cơ cấu
lại DN trên tất cả các phương diện hướng đến thực hiện mục tiêu trọng tâm đã xác
định. Đối với các tập đoàn, tổng công ty: Một là, cần tiếp tục đổi mới, sắp xếp DN,
đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa DN thành viên và trực thuộc đơn vị thành viên;
Hai là, cần xây dựng hệ thống kiểm soát tài chính hiệu quả trong các tập đoàn, tổng
công ty; Ba là, cần xây dựng được một quy trình kiểm soát tài chính trong tập đoàn
viên tự chủ tài chính hơn, chuyển sang cơ chế hoạt động của tập đoàn và đối với
những công ty con là góp vốn đầu tư,..Những phân tích, đề xuất của luận án có ý
nghĩa gợi mở cho việc tiếp tục nghiên cứu áp dụng vào các loại hình doanh nghiệp
tương tự.
Luận án tiến sĩ: “Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với các tổng công
ty 91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam”của Nguyễn Xuân
Nam (2006) đã nêu bật tính đặc thù của mô hình tổng công ty, xu hướng phát triển,
các môi trường vĩ mô, môi trường pháp lý, chỉ rõ những quan điểm có tính nguyên
tắc và những định hướng chính, đề ra các giải pháp đối với nhà nước, đối vối các
tổng công ty nhằm đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản của các tổng công ty 91 ở
Việt Nam phát triển thành các tập đoàn kinh doanh.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đánh giá và đưa ra được những cái
nhìn tổng thể và khách quan về quản lý vốn tại doanh nghiệp của các công ty nhà
nước và các công ty nhà nước quản lý dưới dạng tập đoàn kinh tế và tổng công ty
nhưng vẫn là doanh nghiệp nhà nước 100% chỉ có các công ty con có cổ phần hóa.
14
Tuy nhiên, chưa có Công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện và đầy đủ
dưới góc độ kinh tế chính trị đến hoàn thiện cơ chế quản lý vốn tại một tổng công ty
nhà nước sau khi cổ phần hóa hoàn toàn doanh nghiệp thì cơ chế quản lý vốn sẽ
thay đổi như thế nào nên việc nghiên cứu vấn đề này còn rất cần thiết.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Luận văn nhằm mục tiêu nghiên cứu cơ chế quản lý vốn tại CIENCO 1. Để
thực hiện mục tiêu nghiên cứu này, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
-
Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về cơ chế quản lý vốn trong Doanh nghiệp.
Ngoài ra, tham khảo một số tạp chí tài chính kinh tế những năm gần đây để có thể
nắm bắt số liệu và quy luật, hiện tượng kinh tế chính trị liên quan; Giáo trình Phân
tích kinh tế doanh nghiệp thương mại của Trường Đại học Thương mại, luận văn,
các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học của những khoá trước và tài liệu viết về
hoàn thiện cơ chế quản lý vốn
* Phương pháp mô tả thống kê
15
a. Phương pháp so sánh
-
So sánh giữa các chỉ tiêu vốn trong bảng cơ cấu nguồn vốn bao gồm: vốn chủ sở
hữu, vốn vay, vốn chiếm dụng giữa các năm trước từ đó thấy rõ biến động và xác
định nguyên nhân tác động.
-
So sánh theo chiều dọc để thấy rõ tỷ trọng từng khoản mục vốn trong tổng cơ cấu
vốn.
-
So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động về số tương đối của từng
khoản mục vốn qua các năm gần đây.
b. Phương pháp dùng bảng biểu, sơ đồ để phân tích
-
chế chế quản lý vốn tại CIENCO 1.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Luận
văn bao gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý vốn trong các Doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý vốn tại Tổng công ty xây dựng công
trình giao thông 1.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý vốn
tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1.
17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN ĐỐI VỚI
CÁC DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và phân loại các doanh nghiệp
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đã chứng minh sự phát triển của lực
lượng sản xuất luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và Công nghệ.
Theo đó, các hình thức tổ chức sản xuất ngày càng phát triển và hoàn thiện theo
hướng chuyên môn hóa, hiệp tác hóa, tập trung hóa và liên hợp sản xuất.
Luật Doanh nghiệp 2014 được thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 và chính
thức có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2015. Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có
tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích kinh doanh. Căn cứ vào quy định này thì doanh nghiệp có những
đặc điểm sau:
- Là đơn vị kinh tế, hoạt động trên thương trường, có trụ sở giao dịch ổn định,
có tài sản.
- Đã được đăng ký kinh doanh.
Nhưng có một số nước xác định tỷ lệ này thấp hơn, ví dụ Hàn Quốc : 10%;
Italia: 25%; Malaysia: 20%; Ấn Độ xác định: tất cả các doanh nghiệp sản xuất hàng
hoá trong các ngành công nông nghiệp và dịch vụ tính giá thành được do Chính phủ
là người chủ sở hữu chủ yếu đều thuộc doanh nghiệp nhà nước, hay còn gọi là xí
nghiệp công doanh. Chính phủ bao gồm cả Chính phủ Trung ương và chính quyền
địa phương.
Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy những tiêu chí tiêu biểu trong các định
nghĩa về doanh nghiệp nhà nước do các nước, các tổ chức đưa ra, đó là:
- Chính phủ là cổ đông chính trong doanh nghiệp hoặc có thể kiểm soát
những chính sách chung của doanh nghiệp và bổ nhiệm hoặc bãi chức ban quản
lý doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất hoặc bán hàng hoá và dịch vụ cho công
chúng, hoặc cho các doanh nghiệp khác.
- Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
19
Như vậy, có thể thấy các tiêu chí cụ thể để nhận biết, phân biệt doanh nghiệp
nhà nước trên thế giới còn khác nhau, ví dụ như theo tiêu chí về quyền sở hữu của
Nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước.
Ở Việt Nam, tại điều 4 và điều 88 Luật Doanh nghiệp có đề ra như sau:
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều
lệ. Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước
dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn theo một trong hai mô hình quy định:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu
được tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:
+ Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên;
+ Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên.
- Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành
vụ phát sinh từ việc góp vốn. Vốn thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro
tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào công ty, nên trách
nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong
phạm vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình.
- Chuyển nhượng phần vốn góp một cách tự do
Hầu hết pháp luật về công ty của các nước trên thế giới đều qui định và cho
phép chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do công ty cổ
phần phát hành từ cổ đông sang chủ sở hữu mới. Vì khác với các loại công ty khác,
vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị
của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện
bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp
của các cổ đông. Các cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành là hàng hoá nên các cổ
đông khi sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của
các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ
muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người
khác thì họ thực hiện rất dễ dàng.
- Cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt
CTCP không thể được thành lập và hoạt động nếu không có vốn. Vốn là yếu
tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ với
các đối tác bên ngoài. Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội
21
nguồn của quyền lực. Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong
CTCP sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty. Trong quan hệ
với bên ngoài, vốn của CTCP là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty.
Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong CTCP là yếu tố năng động nhất.
Các qui luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hoá là sự lưu
thông tiền tệ, tức là sự tru chuyển các nguồn vốn. Sự phát triển của CTCP tỷ lệ
1.1.2.1. Khái niệm về cổ phần hóa
Cổ phần hoá nói chung diễn có thể diễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và tại các Doanh nghiệp Nhà nước. Cổ
phần hoá theo nghĩa rộng là quá trình chuyển một doanh nghiệp từ các hình thức tổ
chức kinh doanh khác sang hình thái CTCP.
Cổ phần hoá DNNN là chuyển DNNN thành CTCP, trong đó chuyển toàn bộ
hay một phần vốn và tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và các lĩnh vực lâu nay Nhà
nước độc quyền cho các cổ đông. Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước không chỉ là
quá trình chuyển sở hữu Nhà nước sang các cổ đông thông qua việc bán một phần
hay toàn bộ cổ phần doanh nghiệp mà còn có cả việc DNNN thu hút thêm vốn
thông qua phát hành thêm cổ phiếu để trở thành CTCP.
Xét về bản chất cổ phần hoá DNNN là việc Nhà nước bán một phần hay toàn
bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp hoặc phát hành thêm cổ phiếu bán
cho các đối tượng là tổ chức, cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp bằng đấu giá
công khai hay thông qua thị trường chứng khoán. Cổ phần hoá DNNN chính là
phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở
hữu Nhà nước trong doanh nghiệp thành nhiều chủ sở hữu, tức là chuyển từ hình
thức sở hữu đơn nhất sang đa chủ sở hữu thông qua việc chuyển một phần tài sản
của doanh nghiệp cho người khác để tạo ra một doanh nghiệp phù hợp với nền kinh
tế thị trường, những người này trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp theo tỷ lệ cổ
phần mà họ sở hữu. CPH DNNN chính là quá trình chuyển đổi toàn bộ những
DNNN mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần.
CPH DNNN gắn liền với việc DNNN chuyển sang hoạt động dưới tên công ty và
luật CTCP, không còn là DNNN nữa.
Ở Việt Nam, người ta thường nhầm lẫn giữa cổ phần hoá và tư nhân hoá. Một
số nghiên cứu cho rằng việc thực hiện tư nhân hoá các Doanh nghiệp cũng gần
tương đồng với quá trình cổ phần hoá ở Việt Nam. Nhưng tư nhân hoá DNNN là
một khái niệm rộng và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Có thể hiểu tư
nắm giữ 100% vốn điều lệ như: sản xuất cung ứng vật liệu nổ, hoá chất độc, phóng
xạ, hệ thống truyền tải điện quốc gia, mạng thông tin, quốc phòng, an ninh…
- Hình thức cổ phần hoá
24
Cổ phần hoá DNNN có thể tiến hành theo hình thức như:
+ Giữ nguyên giá trị phần vốn Nhà nước hiện có tại DN, phát hành thêm cổ
phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp. Hình thức này nhằm thu hút vốn
ngoài xã hội đầu tư, phát triển, tăng vốn hoạt động cho doanh nghiệp.
+ Bán toàn bộ phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp. hình
thức này được áp dụng cho những DNNN thuộc đối tượng mà Nhà nước cần nắm
giữ cổ phần.
+ Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để chuyển
thành công ty cổ phần, tức là Nhà nước không còn nắm giữ cổ phần tại công ty.
Mỗi hình thức CPH đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Nhưng sự đa
dạng trong hình thức sẽ tạo thêm cho DN nhiều lựa chọn phù hợp với ngành nghề
kinh doanh, loại hình DNNN đang tồn tại, mục đích của chủ sở hữu để tiến hành cổ
phần hoá.
- Các vấn đề về tài chính khi tiến hành cổ phần hóa
Trước khi có thể CPH DNNN, phải xem xét các vấn đề về tài chính trong quá
trình CPH. Trước hết, phải xác định được giá trị doanh nghiệp. Trong quá trình xác
định giá trị doanh nghiệp thì phải xác định được những khoản nợ của doanh nghiệp
để từ đó và xử lý các khoản nợ để tiến hành cổ phần hoá. Nếu không xử lý xong nợ,
đặc biệt là những khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi thì cũng khó có thể
CPH được.
Với giá trị doanh nghiệp đã được xác định, thì cần phải bán cổ phần doanh
nghiệp, đó là khâu cuối cùng kết thúc quá trình CPH DNNN. Khi bán cổ phần phải
giải quyết nhiều vấn đề như: Xác định giá bán ban đầu, phương thức bán, xử lý tiền
cần nghiên cứu khái niệm bao trùm trực tiếp của nó là “cơ chế quản lý kinh tế”.
Theo giáo sư L.I.Abankin thì: “cơ chế kinh tế dưới dạng chung nhất của nó có
thể coi như một phương thức tổ chức nền sản xuất xã hội với tất cả các hình thức và
phương pháp vốn có với tất cả các kích thích kinh tế và các tiêu chuẩn pháp luật”.
Theo giáo sư Đoàn Trọng Tuyến thì: “Cơ chế quản lý kinh tế là toàn bộ các
công cụ và phương pháp quản lý được nhà nước sử dụng kết hợp với nhau một cách
đồng bộ trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế để tác động tới nền kinh tế quốc
dân, hướng các hoạt động kinh tế vào những mục tiêu đã được xác định trong
đường lối kinh tế”.
Mặc dù còn có những khác biệt nhất định giữa các quan niệm được nêu trên,
song các tác giả đều có chung quan niệm về cơ chế kinh tế là hệ thống các chính