1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Nguyễn Thị Ngọc Yến, học viên cao học lớp 20A-Kế toán, khoá
2014-2016. Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ ‘‘Kế toán hàng tồn kho tại công
ty cổ phần VICOSTONE’’ là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu
nghiên cứu thu được từ thực nghiệm và không sao chép.
Học viên
Nguyễn Thị Ngọc Yến
2
2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Quý Thầy Cô đã giúp tôi trang
bị tri thức, tạo môi trường điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập
và thực hiện luận văn này.
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới Tiến sĩ
Nguyễn Tuấn Duy đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời
gian thực hiện nghiên cứu này.
Xin chân thành cảm ơn công ty cổ phần VICOSTONE đã hợp tác chia sẻ
thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề
tài nghiên cứu.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo
sau đại học, Đại học Thương mại đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học
tập.
Giá trị gia tăng
HĐQT
Hội đồng quản trị
HTK
Hàng tồn kho
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TSCĐ
Tài sản cố định
5
5
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
thông tin điện tử www.tapchiketoan.com , tác giả nêu ra nguyên tắc cho việc
7
xác định giá cho từng đơn vị hàng tồn kho, việc xác định lợi nhuận của kỳ và
chỉ tiêu trị giá hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Tính giá hàng tồn kho có
vai trò quan trọng tới tính hữu ích của thông tin kế toán trên báo cáo tài chính
để cung cấp cho các đối tượng sử dụng khác nhau.
Như vậy, các đề tài nghiên cứu này đã đưa ra được các nội dung cơ bản về
kế toán hàng tồn kho cả dưới góc độ kế toán tài chính và góc độ kế toán quản trị,
từ đó đề xuất các phương hướng hoàn thiện dưới cả hai góc độ để ứng dụng vào
các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu khác nhau của từng đề tài. Mặc dù
vậy, theo tác giả được biết, chưa có một chương trình, đề tài nào nghiên cứu một
cách chuyên sâu về kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ phần Vicostone. Vì vậy,
có thể nói rằng đề tài “Hoàn thiện kế toán hàng tồn kho tại Công ty Cổ phần
Vicostone” là một đề tài mới không trùng lặp với bất kỳ một đề tài nào khác.
2. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Với xu hướng phát triển hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, yêu
cầu đặt ra đối với từng doanh nghiệp sản xuất là nâng cao chất lượng sản phẩm,
mẫu mã, thương hiệu, tăng doanh thu bán hàng đồng thời giảm chi phí sản xuất
đến mức thấp nhất. Để làm được điều đó, bên cạnh việc lựa chọn phương thức
quản lý cho phù hợp, ứng dụng công nghệ hiện đại, nghiên cứu thị trường, thị
hiếu tiêu dùng… doanh nghiệp còn phải biết phát huy những điểm mạnh và
khắc phục yếu điểm, liên tục tự đổi mới mình để nâng cao hiệu quả cạnh tranh.
Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản
lý kinh tế tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm
soát các hoạt động kinh tế. Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế, tài chính - kế
toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính đảm nhiệm hệ
thống tổ chức thông tin có ích cho các quyết định kinh tế đặc biệt là thông tin
thể nhằm hoàn thiện kế toán hàng tồn kho tại công ty cổ phần VICOSTONE
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng:
Luận văn nghiên cứu kế toán hàng tồn kho trong các doanh nghiệp sản xuất.
b. Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu kế toán hàng tồn kho trên
hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị và tập trung nghiên cứu kế toán
nguyên vật liệu và thành phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
Trên góc độ kế toán tại chính, luận văn nghiên cứu kế toán hàng tồn kho
tại các doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên, tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Áp dụng chế độ kế toán
ban hành theo thông tư 200/2014/TT-BTC.
Trên góc độ kế toán quản trị luận văn tập trung nghiên cứu tổ chức thu
thập thông tin về hàng tồn kho, tổ chức phân tích thông tin hàng tồn kho phục
vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp.
9
+ Không gian nghiên cứu: Luận văn lấy kết quả khảo sát từ công ty cổ
phần VICOSTONE.
+ Thời gian nghiên cứu: Số liệu được thu thập chủ yếu trong năm 2014 và
6 tháng đầu năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp điều
tra, phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu, phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp quan sát thực tế
Quan sát là phương pháp thu thập thông tin thông qua các tri giác như
nghe nhìn, để thu nhận các thông tin từ thực tế. Xác định rõ mục tiêu quan sát
là công tác kế toán hàng tồn kho trên sổ sách, số liệu kế toán của doanh nghiệp,
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tác giả thực hiện phương pháp này qua nhiều kênh thông tin khác nhau
như tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết liên quan đến đề
tài nghiên cứu, tra cứu thông tin về đề tài qua mạng internet và các tài liệu liên
quan tại doanh nghiệp. Mục đích của việc nghiên cứu tài liệu là thu thập các
thông tin để hệ thống lý luận chung kê toán hàng tồn kho và thực trạng kế toán
hàng tồn kho tại công ty cổ phần Vicostone. Nội dung chính của các tài liệu
được nghiên cứu là các vấn đề về kế toán hàng tồn kho, các vấn đề liên quan
đến doanh nghiệp về hệ thống chứng từ, sổ sách, báo cáo ... việc nghiên cứu tài
liệu được tác giả sử dụng trong suốt quá trình thực hiện cho đến khi hoàn
thành đề tài, và có thể kéo dài hơn nữa.
Phương pháp này được sử dụng nhằm đánh giá sự tác động của các nhân
tố khách quan về môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu:
Sau khi thu thập dữ liệu bằng các phương pháp nêu trên, tác giả tiến hành
phân tích, hệ thống hóa, xử lý các thông tin. Mục đích của phương pháp này là
phân tích các thông tin đầu vào đã thu thập để đưa ra các kết luận phù hợp.
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là xử lý các thông tin thu thập
được từ doanh nghiệp, sau đó đưa ra thực trạng và các kết luận về kế toàn hàng
tồn khok. Từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện kế toán hàng tồn kho sao
cho phù hợp với các quy định chung và điều hiện thực tế tại công ty.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: luận văn góp phần hệ thống hóa lý luận về kế toán hàng
tồn kho tại doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng theo các
quan điểm khác nhau (Kế toán tài chính và kế toán quản trị).
Về mặt nghiên cứu thực tiễn: Trên cơ sở khảo sát thực tế phân tích thực
trạng kế toán hàng tồn kho trong công ty cổ phần VICOSTONE.
Qua quá trình nghiên cứu đề tài luận văn học viên được tìm hiểu sâu hơn
về vấn đề nghiên cứu, được học hỏi kiến thức chuyên môn vững vàng và khả
hoàn toàn chắc chắn mà chỉ là sự ước đoái hợp lý trên cơ sở các bằng chứng có sẵn.
Lợi ích kinh tế ở đây được hiểu là nguồn lực kinh tế, tức là nó vừa phải đảm bảo tính
khan hiếm vừa đảm bảo đặc tính sử dụng. Nếu thiếu một trong các điều kiện này, vật
đó không được xếp vào là nguồn lực kinh tế. Đặc tính sử dụng của một khoản nào đó
được thể hiện thông qua khả năng cung cấp dịch vụ của nó trong tương lai hoặc quyền
lợi kinh tế trong tương lai.
Thứ hai, một khoản nào đó được coi là tài sản khi nó phải được doanh nghiệp
kiểm soát. Kế toán không đề cập đến nguồn lợi ích kinh tế nói chung mà chỉ liên quan
đến nguồn lợi ích do một doanh nghiệp cụ thể kiểm soát. Tính kiểm soát ở đây được
hiểu là quyền sử dụng hoặc kiểm soát một vật nào đó, không phải là tính sở hữu nó.
Điều này lý giải vì sao tài sản thuê tài chính lại được báo cáo trên Bảng cân đối kế
toán của bên thuê cho dù quyền sở hữu nó thuộc về bên cho thuê.
Thứ ba, một khoản nào đó được coi là tài sản thì bắt buộc phải là kết quả của
nghiệp vụ quá khứ. Điều kiện này là bắt buộc để đảm bảo những tài sản ngẫu nhiên
không được coi là tài sản của đơn vị. Nếu một thiết bị đã được đơn vị kế toán mua thì
thiết bị đó là tài sản của đơn vị đó, nhưng nếu như thiết bị đó sẽ được đơn vị đó mua thì
nó không được báo cáo như là tài sản của đơn vị.
Như vậy, trong khái niệm kế toán, ba điều kiện cần thiết để một khoản mục được
ghi nhận như là một khoản tài sản, bao gồm: khả năng cung cấp lợi ích kinh tế trong
tương lai, đựơc đơn vị kế toán cụ thể kiểm soát và kết quả của nghiệp vụ quá khứ.
Khái niệm về tài sản ngắn hạn:
13
Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển
trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm:
Tiền và các khoản tương đương tiền. Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi
ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu
tư ngắn hạn không quá ba tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và
không có nhiều rủi ro trong chuyển khoản thành tiền.
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 02 (IAS 02) hàng tồn kho là những tài
sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường, trong quá trình
sản xuất hoặc cung cấp các dịch vụ.
Như vậy theo IAS 02 thì hàng tồn kho bao gồm hàng hóa mua vào để bán
ra, thành phẩm tồn kho, vật dụng chuẩn bị đưa vào quá trình sản xuất, giá trị
của sản phẩm dở dang.
Cũng theo IAS thì hàng tồn kho không bao gồm những hàng hóa, thành phẩm,
vật tư hư hỏng, lỗi thời, không thể dùng được trong sản xuất kinh doanh.
Thuật ngữ hàng tồn kho đã chính thức được thừa nhận trong hệ thống kế
toán Việt Nam thay thế cho thuật ngữ “tài sản dự trữ” trước đây. Khái niệm
hàng tồn kho trong chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam về cơ
bản là thống nhất với khái niệm hàng tồn kho trong chuẩn mực kế toán quốc tế
số 02. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 – hàng tồn kho thì “Hàng tồn
kho là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình
thường; đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang; nguyên liệu, vật
liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc
cung cấp dịch vụ.”
Trong chế độ kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam đã bổ sung thêm điều kiện
để xác định hàng tồn kho đó là quyền sở hữu về tài sản. Theo đó, đã xác định rõ
ràng những vấn đề nêu trên: đó là số hàng mua đang đi đường, hàng hóa đang
gửi bán nếu thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thì được tính là hàng tồn kho
của doanh nghiệp; còn hàng mà doanh nghiệp nhận ký gửi, nhận bán hộ không
thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp.
Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Bộ Tài
Chính, Hàng tồn kho được hiểu “Hàng tồn kho là những tài sản ngắn hạn của
doanh nghiệp dưới hình thái vật chất. Hàng tồn kho của doanh nghiệp có thể
mua từ bên ngoài do doanh nghiệp sản xuất ra để dùng cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp hoặc để cung cấp dịch vụ hoặc để bán. Hàng tồn kho
của doanh nghiệp bao gồm: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở
danh, thành phẩm, hàng hóa được lưu giữ tại kho bảo thuế của doanh nghiệp.”
Phân loại hàng tồn kho
Hàng tồn kho trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, đa dạng về chủng loại,
khác nhau về đặc điểm, tính chất thương phẩm, điều kiện bảo quản, nguồn hình thành
và có vai trò, công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Việc xác định
và ghi nhận hàng tồn kho đòi hỏi phải được quan tâm thường xuyên vì hàng tồn kho
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản lưu động của doanh nghiệp.
Để quản lý tốt hàng tồn kho, tính đúng và tính đủ giá gốc hàng tồn kho
cần phân loại và sắp xết hàng tồn kho theo những tiêu thức nhất định.
1.1.2.1 Phân loại nguyên vật liệu
16
Trong các Doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu bao gồm rất nhiều loại,
nhiều thứ với nội dung kinh tế công dụng và tính năng lý hoá khác nhau. Để có
thể quản lý nguyên vật liệu một cách chặt chẽ và đạt hiệu quả cao đồng thời
hạch toán chi tiết nguyên vật liệu phục vụ cho kế toán quản trị cần thiết phải
tiến hành phân loại nguyên vật liệu.
Mỗi doanh nghiệp do tính chất đặc thù trong sản xuất kinh doanh nên sử dụng
những loại vật liệu khác nhau phân loại nguyên vật liệu là việc nghiên cứu sắp xếp các
loại vật tư theo từng nội dung, công dụng tính chất thành phần của chúng nhằm phục
vụ cho yêu cầu quản trị của Doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh
và yêu cầu quản lý vật liệu của kế toán chi tiết.
Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết, cụ thể của từng
Doanh nghiệp mà trong từng loại nguyên vật liệu luôn được chia hành từng
nhóm, từng quy cách khác nhau và có thể được ký hiệu riêng. Nhìn chung thì
nguyên vật liệu được phân chia theo các cách sau đây:
Phân loại theo vai trò và tác dụng của nguyên vật liệu trong sản xuất kinh
doanh vật liệu được phân thành những loại sau đây.
- Nguyên vật liệu chính: Là những đối tượng chủ yếu cấu thành nên thực
- Nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh của các đơn vị khác hoặc được
cấp phát biếu tặng.
- Nguyên vật liệu thu hồi vốn góp liên doanh.
- Nguyên vật liệu khác như kiểm kê thừa, vật liệu không dùng hết.
Phân loại theo mục đích và nội dung nguyên vật liệu
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng vào sản xuất kinh doanh.
- Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác phục vụ ở quản lý phân
xưởng, tổ đội sản xuất, cho nhu cầu bán hàng quản lý doanh nghiệp.
1.1.2.2 Phân loại thành phẩm
Trong các doanh nghiệp sản xuất, nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất ra các sản phẩm.
Các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất sản xuất ra bao gồm thành phẩm, bán thành
phẩm, nửa thành phẩm, trong đó thành phẩm chiếm vị trí chủ yếu.
Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn cuối cùng của công
nghệ sản xuất ra sản phẩm đó, đã qua kiểm tra đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quy định,
được nhập kho thành phẩm hoặc giao bán trực tiếp cho khách hàng.
Thành phẩm được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng. Số lượng
được xác định bằng các đơn vị đo lường như kg, m, cái,… Chất lượng được xác
định bằng phẩm cấp: loại 1, loại 2, ...
18
Thành phẩm khác với sản phẩm và khác nửa thành phẩm. Sản phẩm nói
chung đều là kết quả của quá trình sản xuất, chế tạo. Nó có thể là thành phẩm
cũng có thể chưa là thành phẩm. Một sản phẩm có thể trải qua tất cả các quy
trình sản xuất của doanh nghiệp cũng có thể chỉ trải qua một hoặc một số quy
trình công nghệ nhất định. Những sản phẩm đã trải qua toàn bộ quy trình công
nghệ và đạt tiêu chuẩn kỹ thuật thì trở thành thành phẩm còn những sản phẩm
chỉ trải qua một số quy trình công nghệ thì là nửa thành phẩm. Như vậy, thành
phẩm và nửa thành phẩm là khác nhau và sản phẩm là khái niệm nói chung bao
hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Thứ hai, việc quản lý nguyên vật liệu phải thường xuyên đảm bảo được
quan hệ đối chiếu phù hợp giữa giá trị và hiện vật của từng thứ, từng loại
nguyên vật liệu, giữa các số liệu chi tiết với số liệu tổng hợp về nguyên vật
liệu, giữa số liệu chi tiết với số liệu tổng hợp về nguyên vật liệu, giữa số liệu
ghi trong sổ kế toán với số liệu thực tế tồn kho. Điều này có ý nghĩa rất quan
trọng trong công tác hạch toán kế toán, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp
có thể so sách giá cả doanh nghiệp với giá cá thị trường dự báo phương hướng
biến động giá cả nhằm đưa ra quyết định có hiệu quả cho công tác kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.2.2
Yêu cầu quản lý thành phẩm
- Thứ nhất để quản lý về mặt khối lượng thành phẩm: để quản lý được
khối lượng thành phầm đòi hỏi phải thường xuyên phản ánh, giám đốc tình
hình thực hiện kế hoạch sản xuất, tình hình nhập – xuất – tồn kho thành phẩm
cả về mặt số lượng, từ đó kịp thời phát hiện thành phẩm tồn kho lâu ngày trong
kho, tránh ứ đọng vốn thành phẩm.
- Thứ hai quản lý về mặt giá trị thành phẩm: để quản lý tốt về mặt giá trị
của thành phẩm sản xuất yêu cầu kế toán phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra
tình hình nhập – xuất – tồn kho thành phẩm về mặt giá trị, từ đó đánh giá đúng
được giá trị xuất kho thành phẩm, phản ánh đúng giá vốn.
- Thứ ba để chất lượng thành phẩm ngày càng hoàn thiện, mẫu mã thích
hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đòi hỏi doanh nghiệp phải làm tốt công tác
kiểm tra, phân loại thành phẩm và có chế độ bảo quản thích hợp đối với từng
loại thành phẩm, ngăn chặn việc lưu thông những thành phẩm không đảm bảo
chất lượng ra bên ngoài ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp. Đồng thời
doanh nghiệp phải đầu tư khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành sản phẩm, từ đó tăng khả năng cạnh tranh.
- Tổ chức ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận
chuyển, bảo quản, đánh giá phân loại tình hình nhập xuất và quản lý hàng tồn
kho. Từ đó đáp ứng được nhu cầu quản lý thống nhất của Nhà nước cũng như
yêu cầu quản lý của doanh nghiệp trong việc tính giá thành thực tế của nguyên
vật liệu đã thu mua và nhập kho đồng thời kiểm tra tình hình thực hiện kế
21
hoạch thi mua vật tư về số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn cung cấp nguyên
vật liệu một cách đầy đủ, kịp thời.
1.3
1.3.1
1.3.1.1
a.
Một số lí thuyết cơ bản về hàng tồn kho
Kế toán hàng tồn kho trong doanh nghiệp theo quan điểm kế toán tài chính
Sự chi phối của các chuẩn mực kế toán đến kế toán hàng tồn kho
Vas 01 – Chuẩn mực kế toán chung
Các nguyên tắc kế toán là tuyên bố chung như những chuẩn mực, mực
thước và những hướng dẫn để phục vụ cho việc thực hiện kế toán hàng tồn kho
đạt được mục tiêu, dễ hiểu, thông tin đáng tin cậy và có thể so sánh. Theo
chuẩn mực kế toán chung – Vas 01 thì các nguyên tắc chi phối đến kế toán hàng
tồn kho như sau:
•
Nguyên tắc cơ sở dồn tích
Theo chuẩn mực kế toán số 01 – Chuẩn mực chung quy định nguyên tắc
cơ sở dồn tích được định nghĩa như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của
•
Nguyên tắc giá gốc
Theo nguyên tắc này, hàng tồn kho được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc hàng tồn
kho được hình thành theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc
tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận.
Khi vận dụng nguyên tắc giá gốc, chỉ được đánh giá giá trị hàng tồn kho
dựa trên căn cứ tiền mặt hoặc các khoản tương đương tiền.
Hàng tồn kho mới hình thành được tính giá và ghi sổ theo chi phí thực tế
phát sinh để doanh nghiệp có được quyền kiểm soát tài sản đó. Khi các tài sản
đó đang thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp thì không được điều chỉnh
theo giá thị trường.
Chẳng hạn: hàng tồn kho là nguyên vật liệu, hàng hóa mua ngoài nhập
kho, giá trị được phản ánh trên sổ sách kế toán sẽ là giá mua và các chi phí mua
liên quan cộng với thuế nhập khẩu (nếu có). Hàng tồn kho được hình thành do
kết quả hoạt động nội bộ của doanh nghiệp (thànhphẩm, bán thành phẩm, sản
phẩm dở dang…) thì phải tính giá trên cơ sở giá phí các nguồn lực đã tiêu hao
để sản xuất ra chúng (giá thành thực tế sản xuất sản phẩm đó).
• Nguyên tắc thận trọng
Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế
toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
+ Phải lập dự phòng nhưng không lập quá lớn;
+ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
+ Chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
23
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị
trường để tồn tại, phát triển và đứng trước những rủi ro trong kinh doanh. Do
24
số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập để đảm bảo cho giá trị hàng tồn
kho phản ánh trên báo cáo tài chính là theo giá gốc (nếu giá gốc nhỏ hơn giá trị
thuần có thể thực hiện được) hoặc theo giá trị thuần có thể thực hiện được (nếu
giá gốc lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được).
• Nguyên tắc nhất quán
Các phương pháp tính giá hàng tồn kho doanh nghiệp đã chọn phải được
áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm.
Vì cách lựa chọn phương pháp định giá hàng tồn kho có thể có ảnh hưởng
cụ thể đến các báo cáo tài chính, một số doanh nghiệp có thể có khuynh hướng
mỗi năm chọn lựa lại một lần. Mục đích của các công ty là làm sao chọn được
phương pháp nào có thể lập được các báo cáo tài chính có lợi nhất. Tuy nhiên
nếu điều này được phép, các nhà đọc báo cáo tài chính sẽ thấy thật khó mà so
sánh các báo cáo tài chính của một công ty qua các năm.
Việc áp dụng các phương pháp kế toán thống nhất từ kỳ này sang kỳ khác sẽ cho
phép báo cáo tài chính của doanh nghiệp mới có ý nghĩa thực chất mang tính so sánh.
Tuy nhiên, nguyên tắc nhất quán không có nghĩa là một doanh nghiệp
không bao giờ có thể đổi phương pháp kế toán. Đúng hơn, nếu doanh nghiệp
kiểm nghiệm một phương pháp tính giá hàng tồn kho đã được chấp nhận như là
một sự cải tiến trong lập báo cáo tài chính thì sự thay đổi có thể được thực
hiện. Tuy vậy, khi có sự thay đổi này, nguyên tắc công khai toàn bộ đòi hỏi
bản chất của sự thay đổi, kiểm nghiệm đối với sự thay đổi và ảnh hưởng của
sự thay đổi đó đến lãi ròng, tất cả phải được công khai trong thuyết minh báo
cáo tài chính.
b. Vas 02 – Hàng tồn kho
VAS 02 quy định kế toán hàng tồn kho trên những nội dung xác định giá
trị hàng tồn kho khi mua, hình thành trong sản xuất và khi xuất sử dụng cũng
như tồn cuối kỳ. Cụ thể như sau:
Xác định giá trị và ghi nhận ban đầu hàng tồn kho
Chi phí chế biến
+
Chi phí liên quan trực tiếp khác
•
Đối với hàng tồn kho tự sản xuất