luận văn thạc sĩ kế toán tập hợp chi phí và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần trung kiên - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

TRẦN THỊ HIÊN

KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG KIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HẢI DƯƠNG, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

TRẦN THỊ HIÊN

KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG KIÊN
CH21H - KT
CHUYÊN NGÀNH:

KẾ TOÁN

MÃ SỐ:

60.34.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


cấp tư liệu cho tác giả để phục vụ việc nghiên cứu để tài.
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, những người thân, bạn bè đã luôn tích cực
động viên, ủng hộ, giúp tác giả tập trung nghiên cứu và hoàn thành bài luận văn
thạc sỹ của mình.
Hải Dương, ngày........tháng........năm 2016
Tác giả
TRẦN THỊ HIÊN


iii

MỤC LỤC
2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần Trung Kiên...................................................54
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Trung Kiên.....54
2.2.2.2. Thực trạng kế toán chi phí nhân công trực tiếp.....................................66
2.2.2.3. Thực trạng kế toán chi phí sản xuất chung............................................71
2.3.2. Thẻ tính giá thành sản phẩm......................................................................84
CHƯƠNG 3............................................................................................................ 93
CÁC KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG KIÊN...........93
3.1. Các kết luận về đánh giá thực trạng kế toán chi phí và giá thành sản phẩm
tại Công ty Cổ phần Trung Kiên..........................................................................93
3.1.1. Những ưu điểm.........................................................................................93
KẾT LUẬN..........................................................................................................108


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KÝ TỰ VIẾT TẮT

Tài sản cố định
Công nhân sản xuất trực tiếp
Phụ cấp khác
Nguyên vật liệu chính
Sản phẩm dở dang
Sản phẩm hoàn thành
Xuân Thành
Khấu hao
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
Kinh phí công đoàn
Chi phí sản xuất
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Nghị định – Chính phủ
Nguyên vật liệu
Tài khoản
Kiểm định chất lượng
Sản xuất kinh doanh
Phân xưởng

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.2
Sơ đồ 1.3
Sơ đồ 1.4:
Sơ đồ 1.5:

Phụ lục 2.17
Phụ lục 3.1
Phụ lục 3.2
Phụ lục 3.3

Bảng các chỉ tiêu tài chính của công ty CP Trung Kiên
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty CP Trung Kiên
Quy trình công nghệ sản xuất vỏ bao xi măng
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty CP Trung Kiên
Giấy yêu cầu cấp vật tư
Phiếu xuất kho
Sổ nhật ký chung tháng 06/2016
Sổ cái tài khoản 621 T06/2016
Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
Sổ nhật ký chung T06/2016
Sổ cái tài khoản 622 T06/2016
Bảng thanh toán lương bộ phận quản lý xưởng I
Sổ nhật ký chung T06/2016
Sổ cái TK 154 T06/2016
Biên bản kiểm kê sản phẩm dở dang
Bảng giá trị kiểm kê sản phẩm dở dang T06/2016
Quy trình tính giá thành của công ty CP Trung Kiên
BẢNG TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT THEO P.XƯỞNG
Sổ chi tiết chi phí sản xuất - TK 621
Sổ chi tiết chi phí sản xuất - TK 622


1

LỜI MỞ ĐẦU



2

hạt nhựa các loại. Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu mặt lý luận cũng như thực tế
kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm bao bì tại Công ty CP Trung Kiên, tác
giả nhận thấy Công ty cũng đã có nhiều cố gắng trong việc hoàn thiện kế toán chi
phí và tính giá thành sản phẩm và cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy
nhiên vẫn còn những bất cập cần được hoàn thiện, phục vụ thiết thực trong công tác
quản lý tài chính của Công ty.
Xuất phát từ thực trạng kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty CP Trung Kiên và nhận thức rõ được tầm quan trọng của kế toán chi phí và tính
giá thành sản phẩm trong việc giúp cho nhà quản trị đơn vị đưa ra các quyết định
sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, vừa phát triển quy mô hoạt động của Công ty,
vừa đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa phải huy động sử dụng có hiệu
quả các khoản chi phí trong quá trình sản xuất. Do đó tác giả đã lựa chọn đề tài “Kế
toán tập hợp chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Trung Kiên”
làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Do tầm quan trọng của kế toán tập hợp chi phí và giá thành sản phẩm tại các
doanh nghiệp sản xuất mà đã có rất nhiều bài báo, đề tài nghiên cứu khoa học hay
các luận văn nghiên cứu về đề tài này. Qua tìm đọc tác giả luận văn biết được một
số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong những năm gần đây như sau:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thúy: “Kế toán chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất thép công nghiệp trên địa bàn
Vĩnh Phúc” bảo vệ năm 2014 tại trường Đại học Thương Mại. Luận văn đã phân
tích những lý luận chung về chi phí và giá thành trên góc độ kế toán tài chính và kế
toán quản trị. Trong phần thực trạng, tác giả đã chỉ ra những thiếu sót của doanh
nghiệp trong việc áp dụng chế độ kế toán. Doanh nghiệp thực hiện kế toán nguyên
liệu, vật liệu chưa tuân thủ chuẩn mực 02, chưa trích trước tiền lương công nhân sản

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Anh: “Kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm may mặc tại Công ty Cổ phần May II Hải Dương” bảo
vệ năm 2015 tại trường Đại học Thương Mại. Luận văn đã trình bày và làm rõ
những vấn đề lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong loại hình doanh nghiệp sản xuất nói chung, đã đưa ra được nhiều quan điểm
đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm một cách khách quan cho Công ty CP May II Hải
Dương trên cả hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị. Trên cơ sở ưu điểm,
nhược điểm đó tác giả cũng trình bày một số các quan điểm của mình bằng những
điều kiện cần thiết làm cơ sở để thực hiện các giải pháp giúp Công ty Cổ phần May


4

II Hải Dương có thể nghiên cứu, tham khảo vận dụng vào thực tiễn để hoàn thiện
hơn kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty.
Qua nghiên cứu tổng quan các công trình có liên quan đến đề tài thì tác giả
thấy rằng các công trình trên đã có những thành công đóng góp một là phân tích hệ
thống hóa lý luận, hai là khảo sát nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn
thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại đơn vị được khảo sát. Và
cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đã công bố viết về Kế toán tập
hợp chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Trung Kiên. Do đó, đề tài
mà tác giả lựa chọn không trùng lặp với các đề tài khoa học đã công bố.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Phân tích, hệ thống hóa góp phần làm rõ lý luận chung về kế toán chi phí và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng kế toán chi phí và giá thành sản
phẩm tại Công ty CP Trung Kiên, chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế trong kế toán
chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty CP Trung Kiên.
Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí và giá thành sản phẩm

Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu.
Phương pháp quan sát: Thu thập trực tiếp thông tin từ các đối tượng quan
sát. Ghi lại có kiểm soát các biến cố. Quan sát, nghiên cứu những tài liệu có sẵn:
phân tích, ghi chép thông tin từ chứng từ, sổ sách, bảng biểu, bảng quyết toán tài
chính, … những dữ liệu kinh doanh.
Phương pháp phỏng vấn: Hỏi trực tiếp để thu thập số liệu từ các nhà lãnh
đạo và nhân viên kế toán có liên quan đến việc thực hiện công tác tập hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP Trung Kiên.
Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích và xử lý dữ liệu.
Tác giả tiến hành thu thập các dữ liệu cần thiết, tổng hợp kết quả từ các
phiếu điều tra, phỏng vấn. Kết quả tổng hợp này sẽ là căn cứ để phân tích những dữ
liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Tổng hợp kết quả ở các phiếu điều tra theo
các nội dung tương ứng để đưa ra kết luận, đánh giá từ tổng quan đến chi tiết vấn
đề, từ đó phát hiện ra những điểm còn thiếu sót trong kế toán chi phí và tính giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp khảo sát đưa ra giải pháp hoàn thiện hơn.
7. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
Về mặt khoa học: Đề tài phân tích và làm sáng tỏ cơ sở lý luận kế toán chi
phí và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp theo Chuẩn mực kế toán và luật
kế toán Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Đánh giá khách quan thực trạng kế toán tập hợp chi phí
và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất nói chung. Chỉ ra những
ưu điểm, nhược điểm tồn tại trong công tác kế toán chi phí và giá thành sản phẩm
của Công ty CP Trung Kiên. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty CP Trung Kiên, góp
phần tăng cường quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty.
8. Kết cấu của luận văn.


6


trong từng loại kế toán khác nhau:
Trên góc độ của kế toán tài chính: Chi phí được nhìn nhận như những khoản
phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, bao gồm các chi phi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh thông
thường của doanh nghiệp và các chi phí khác để đạt được một loại sản phẩm, dịch
vụ nhất định, mục đích cụ thể trong kinh doanh. Chi phí được định lượng và thể
hiện dưới dạng một lượng tiền chi ra, khấu hao tài sản cố định, nợ thuế, … Các chi
phí này được kế toán ghi nhận trên cơ sở các chứng từ sổ sách hợp lệ chứng minh
việc phát sinh của chúng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao
động vật hóa cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh
nghiệp cần phải chi ra trong một kỳ kinh doanh mà thực chất là sự dịch chuyển giá


8

trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ).
Trên góc độ kế toán quản trị: Do mục đích của kế toán quản trị là cung cấp
thông tin thích hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của nhà quản trị. Vì
vậy, ngoài việc nhận thức chi phí như trong kế toán tài chính, các nhà quản trị còn
cần phải nhận thức chi phí theo góc độ nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra
quyết định kinh doanh. Do đó, chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tổng hợp theo từng bộ phận,
từng trung tâm chi phí cũng như xác định giá trị hàng hóa tồn kho trong từng khâu
của quá trình sản xuất và tiêu thụ. Những chi phí này có thể là những phí tổn được
ước tính, dự kiến trước hoặc những phí tổn mất đi do chọn phương án này thay cho
phương án khác,…do đó không chú trọng đến các chứng từ đảm bảo tính pháp lý
như trong kế toán tài chính.
Nhưng dù đứng dưới góc độ nào nhìn nhận về chi phí đi nữa thì về bản chất kinh
tế của chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh đều có nhưng điểm chung sau đây:

phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào. Cách phân loại này còn được gọi là
phân loại chi phí theo yếu tố.
Số lượng các yếu tố chi phí sản xuất được phân chia trong từng doanh nghiệp
phụ thuộc vào đặc điểm quá trình sản xuất kinh doanh, đặc điểm sản xuất sản phẩm,
đặc điểm yêu cầu quản lý và trình độ quản lý của doanh nghiệp, nó còn phụ thuộc
vào đặc điểm của từng thời kỳ và quy định cụ thể của từng quốc gia. Theo chế độ kế
toán hiện hành tại Việt Nam khi quản lý và hạch toán chi phí sản xuất các doanh
nghiệp phải theo dõi được chi phí theo năm yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu bao gồm
giá mua, chi phí mua của nguyên liệu, vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất kinh
doanh trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, chi phí
nguyên liệu, vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế và chi phí
nguyên liệu, vật liệu khác.
Sự nhận biết yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu giúp các nhà quản trị doanh
nghiệp xác định được tổng giá trị nguyên liệu, vật liệu cần thiết giúp cho các nhà
quản trị doanh nghiệp xác định được tổng giá trị nguyên liệu, vật liệu cần thiết cho
nhu cầu sản xuất kinh doanh trong kỳ. Trên cơ sở đó các nhà quản trị sẽ hoạch định
tổng mức luân chuyển, dự trữ của nguyên liệu, vật liệu một cách hợp lý, có hiệu
quả. Mặt khác, đây cũng là cơ sở để hoạch định các mặt hàng thiết yếu để chủ động
trong công tác cung ứng vật tư.
- Chi phí nhân công: Yếu tố chi phí nhân công là các khoản chi phí về tiền


10

lương phải trả cho người lao động, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn theo tiền lương của người lao động.
Sự nhận biết yếu tố chi phí nhân công giúp các nhà quản trị doanh nghiệp
xác định được tổng quỹ lương của doanh nghiệp từ đó hoạch định mức tiền lương
bình quân cho người lao động.


- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực
tiếp là toàn bộ chi phí nguyên liệu, vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản
xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ;
- Chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền
lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo
tiền lương của công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm thất nghiệp;
- Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí sản
xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng,
đội sản xuất. Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất, chi phí
nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi
phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền.

 Phân loại theo mối tương quan giữa chi phí với đối tượng tập hợp chi phí
có: Chi phí cơ bản, chi phí quản lý phục vụ.v.v.
b) Phân loại chi phí sản xuất dưới góc độ kế toán quản trị
 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Việc phân loại chi phí theo chức năng hoạt động giúp cho doanh nghiệp có
thể xác định rõ vai trò, chức năng của từng khoản mục chi phí trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp.
Là căn cứ để xác định giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ của sản phẩm
và tập hợp chi phí theo từng hoạt động chức năng.
Cung cấp thông tin có hệ thống để lập các báo cáo tài chính.
Theo mối quan hệ với phạm vi sản xuất, chi phí được phân thành chi phí sản
xuất và chi phí ngoài sản xuất.
- Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm,
dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục chi
phí sau:

 Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí với quy trình công nghệ
sản xuất sản phẩm và quy trình sản xuất
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được chia thành hai loại: Chi phí
trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng
kế toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặt
hàng), chúng có thể được quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí.
Trong quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị chi phí nói riêng, nếu loại chi phí
này chiếm đa số trong tổng chi phí thì sẽ thuận lợi cho việc kiểm soát chi phí và dễ
dàng trong việc xác định nguyên nhân gây ra chi phí.
- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán
tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập


13

hợp chi phí được, mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát
sinh, sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp.
Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật quy nạp chi phí vào
đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Tuy nhiên, thông qua cách phân loại chi phí này,
các nhân viên kế toán quản trị có thể tư vấn để các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra
và thực hiện một cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanh hợp lý để đa số các khoản chi
phí có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí. Từ đó giúp cho việc
kiểm soát chi phí được thuận lợi hơn.
 Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định
Theo cách phân loại này, nếu gắn quyền kiểm soát chi phí với một cấp quản
lý nào đó thì phân biệt chi phí thành: chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm
soát được.
- Chi phí kiểm soát được: Là những chi phí mà các nhà quản trị ở một cấp
quản lý nào đó xác định được lượng phát sinh của nó, có thẩm quyền quyết định về

ghi nhận trên bảng cân đối kế toán, mà được tham gia xác định kết quả kinh doanh
ngay trong kỳ chúng phát sinh như: chi phí hoạt động dưới công suất, chi phí vượt
trên mức bình thường.
 Phân loại chi phí sản xuất trong việc lựa chọn các phương án
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất gồm:
- Chi phí chênh lệch: là những khoản chi phí có ở phương án sản xuất kinh
doanh này nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở phương án sản xuất kinh doanh
khác. Chi phí chênh lệch là thông tin thích hợp cho việc xem xét, lựa chọn phương
án tối ưu.
- Chi phí cơ hội: là lợi ích mất đi do chọn phương án kinh doanh này thay vì
chọn phương án kinh doanh khác. Chi phí cơ hội luôn luôn là thông tin thích hợp
cho xem xét, lựa chọn phương án tối ưu.
- Chi phí chìm: là những chi phí đã phát sinh, nó có trong tất cả các phương
án sản xuất kinh doanh được đưa ra xem xét, lựa chọn. Đây là những chi phí mà các
nhà quản trị phải chấp nhận không có sự lựa chọn. Chi phí chìm luôn là thông tin
không thích hợp cho việc xem xét, lựa chọn phương án tối ưu.
Cách phân loại này là căn cứ cho việc lựa chọn phương án kinh doanh phù
hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp
sản xuất.
1.1.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi
phí khác được dùng để sản xuất hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch


15

vụ nhất định. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định,
vừa mang tính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan. Trong hệ thống các
chỉ tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp,

Chi phí sản
-

xuất dở dang

thành
đầu kỳ
trong kỳ
cuối kỳ
Giá thành sản phẩm mang tính chất chủ quan, việc giới hạn chi phí tính vào
giá thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn tùy thuộc vào quan điểm tính toán
xác định chi phí, doanh thu và kết quả cũng như quy định của chế độ quản lý kinh tế
- tài chính, chế độ kế toán hiện hành. Những quan điểm và quy định đó đôi khi
không hoàn toàn phù hợp với bản chất của chi phí và giá thành sản phẩm, đòi hỏi
các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ ràng, đầy đủ để sử dụng thông
tin cho phù hợp.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm.


16

Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp được xem xét trên nhiều góc độ khác
nhau. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý rất cần phân loại giá thành.
Phân loại theo các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp thì giá thành có hai loại:

- Giá thành sản xuất sản phẩm: Là chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành
việc sản xuất một lượng sản phẩm nhất định. Giá thành sản xuất sản phẩm có thể
được tính cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành hoặc cho một khối lượng sản phẩm
đã hoàn thành.

b) Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi các chi
phí cấu thành giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành:
- Giá thành sản xuất toàn bộ (giá thành sản xuất đầy đủ): là loại giá thành
bao gồm toàn bộ biến phí và định phí thuộc chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm hoàn thành.
- Giá thành sản xuất theo biến phí: là loại giá thành mà trong đó chỉ bao gồm
biến phí thuộc chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sản xuất chung (biến phí sản xuất) tính cho sản phẩm hoàn thành.
- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất: là loại giá thành
mà trong đó bao gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản phẩm sản xuất hoàn
thành và một phần định mức sản xuất được phân bổ trên cở sở mức hoạt động thực
tế so với mức hoạt động theo công suất thiết kế (mức hoạt động chuẩn).
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các
doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
trong quá trình sản xuất sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, nó đều là biểu hiện bằng tiền cho
một lượng giá trị hao phí lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết
khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất.
Nhưng chi phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nên chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm cũng có sự khác biệt. Cụ thể:
- Về phạm vi: Chi phí sản xuất gắn với một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)
không cần biết nó thuộc loại sản phẩm nào, hoàn thành hay chưa hoàn thành. Còn giá
thành sản phẩm lại gắn với một khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành.
- Về mặt lượng: Sự khác biệt giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể
hiện như sau:
Tổng
giá thành
sản phẩm


dở dang đầu kỳ. Còn giá thánh sản phẩm lại bao gồm chi phí cho sản phẩm dở dang
đầu kỳ và chi phí cho sản phẩm hoàn thành trong kỳ, không bao gồm chi phí cho
sản phẩm hỏng và sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Nói đến chi phí sản xuất là nói đến việc tiêu dùng yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, còn giá thành sản phẩm đề cập đến hao phí gắn
với kết quả của quá trình sản xuất. Do vậy chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau,
kế toán tập hợp chi phí là cơ sở để tính giá thành, khi tiết kiệm chi phí sản xuất sẽ
hạ giá thành sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm là một lợi thế trong cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường hiện nay.
1.2. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp.
1.2.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều địa điểm khác
nhau, liên quan đến việc sản xuất, chế tạo các loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau.
Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biết được các chi phí đó phát sinh ở đâu, dùng
vào việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm nào? Như vậy, việc xác định đối tượng
hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực
chất là xác định nơi phát sinh chi phí và chịu chi phí. Đó chính là đối tượng tập hợp
chi phí sản xuất.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí
sản xuất theo các phạm vi và giới hạn đó. Xác định đối tượng kế toán chi phí sản
xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất. Thực chất của việc
xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi tạo ra chi phí (phân
xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ...) hoặc đối tượng chịu chi phí (sản
phẩm, đơn đặt hàng...)
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, trước hết các nhà quản trị
phải căn cứ vào đặc điểm, công dụng của chi phí sản xuất, sau đó phải căn cứ vào




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status