BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TỶ LỆ BẢO HỘ ĐỐI VỚI VIRUS LỞ MỒM LONG
MÓNG (LMLM) SEROTYPE O TRÊN ĐÀN HEO TẠI CÁC
HUYỆN TÂN PHÚ, ĐỊNH QUÁN VÀ THỐNG NHẤT THUỘC
TỈNH ĐỒNG NAI
Họ và tên sinh viên : DƯƠNG HÙNG SƠN
Ngành
: Thú Y
Lớp
: Thú Y Vĩnh Long
Niên khóa
: 2002 - 2007
Tháng 03/2008
KHẢO SÁT TỶ LỆ BẢO HỘ ĐỐI VỚI VIRUS LỞ MỒM LONG MÓNG
(LMLM) SEROTYPE O TRÊN ĐÀN HEO TẠI CÁC HUYỆN TÂN PHÚ,
ĐỊNH QUÁN VÀ THỐNG NHẤT THUỘC TỈNH ĐỒNG NAI
Tác giả
tháng 07/2007 đến tháng 011/2007. Qua 720 mẫu huyết thanh heo (heo thịt: 480 mẫu,
heo nái : 240 mẫu) được lấy từ các cơ sở chăn nuôi sau khi tiêm phòng vaccin LMLM
serotype O từ 3 tuần đến 6 tháng. Bằng kỹ thuật ELISA (enzyme linked immuno
sorbent assay) chúng tôi tiến hành kiểm tra tỷ lệ mẫu huyết thanh có đủ bảo hộ đối với
virus LMLM serotype O hay không, để đánh giá khả năng tạo kháng thể trên đàn heo
ở các cơ sở chăn nuôi, nhằm phục vụ tốt cho công tác phòng chống dịch bệnh.
Tỷ lệ mẫu huyết thanh có hiệu giá kháng thể đủ bảo hộ đối với virus LMLM
serotype O đạt tỷ lệ chung là 51,40%. Trên địa bàn từng huyện (Tân Phú, Định Quán
và Thống Nhất) không đạt tỷ lệ bảo hộ quần thể do Chi Cục Thú Y Đồng Nai qui định
(trên 70%).
Qua khảo sát 40 trại chỉ có 16 trại đạt được miễn dịch quần thể và đạt tỷ lệ
45%, trong đó huyện Định Quán có số trại đạt bảo hộ cao nhất (50%), kế tiếp là huyện
Thống Nhất (40%) và thấp nhất thuộc huyện Tân Phú chỉ đạt (25%)
Khi khảo sát sự ảnh hưởng của qui mô chăn nuôi đến tỷ lệ mẫu huyết thanh đạt
bảo hộ, kết quả thống kê cho thấy có sự khác biệt.
Tỷ lệ mẫu huyết thanh đủ bảo hộ ở nhóm heo nái và heo thịt trên toàn khu vực
khảo sát thì không có sự khác biệt về kết quả thống kê.
Tương tự tỷ lệ mẫu huyết thanh đủ bảo hộ ở nhóm heo nái; nhóm heo thịt giữa
3 huyện không có sự khác biệt về kết quả thống kê.
Khi khảo sát tỷ lệ mẫu huyết thanh đủ bảo hộ ở nhóm heo nái và heo thịt trên
từng huyện thì không có sự khác biệt về kết quả thống kê.
Tuy nhóm heo không ảnh hưởng đến kết quả khảo sát nhưng dễ nhận thấy trên
nhóm heo nái có tỷ lệ mẫu huyết thanh đạt bảo hộ cao hơn trên nhóm heo thịt.
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang tựa.............................................................................................................................i
Trang
Bảng 2.1: Phân bố type virus LMLM ở các nước Đông Nam Á.
...................................3
Bảng 2.2: Mối quan hệ giữa môi trường với sự tồn tại của virus ………………………8
Bảng 2.3: phân biệt với các bệnh gây mụn nước ở động vật
…………………………..11
Bảng 3.1 Bố trí mẫu huyết thanh cần cho xét nghiệm ………………………………18
Bảng 3.2. Phân bố vị trí mẫu
huyết thanh và đối chứng cho xét nghiệm………………..……………. …..22
Bảng 4.1 Tỷ lệ mẫu huyết thanh heo đạt bảo hộ đối với virus LMLM
serotype O sau tiêm phòng trên toàn khu vực khảo sát
…………………….24
Bảng 4.2 Tỷ lệ mẫu huyết thanh heo đạt bảo hộ đối với virus LMLM
serotype
O
trên
các
huyện
………………………………………………….25
Bảng 4.3 Tỷ lệ trại đạt bảo hộ quần thể ………………………………………………27
Bảng 4.4 Tỷ lệ mẫu huyết thanh heo đạt bảo hộ
đối với virus LMLM serotype O theo qui mô chăn nuôi ………………….. 28
Bảng 4.5 Tỷ lệ mẫu huyết thanh đạt bảo hộ đối với virus LMLM
serotype O trên heo nái và heo thịt………………………………………….
29
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ trại chăn nuôi heo đạt bảo hộ quần thể …………………………...27
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ mẫu huyết thanh heo có hiệu giá kháng thể đạt bảo hộ đối
với virus LMLM serotype O theo qui mô chăn nuô……....................
..
….28
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ mẫu huyết thanh đạt bảo hộ đối với virus LMLM
serotype O trên heo nái và heo thịt
………………………………………
30
Biểu đồ 4.5 Tỷ lệ mẫu huyết thanh heo nái đạt bảo hộ đối với virus LMLM
serotype O sau tiêm phòng ở các huyện
…………………………..
……...31
Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ mẫu huyết thanh heo thịt đạt bảo hộ đối với virus LMLM
serotype
O
sau tiêm
phòng
……………………………………………….33
Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ mẫu huyết thanh đạt bảo hộ đối với virus LMLM
thuộc tỉnh Đồng Nai.
1
1.2.2. Yêu cầu
Sử dụng kĩ thuật ELISA (enzyme linked immunosorbent assay) để kiểm tra khả
năng đáp ứng miễn dịch đối với virus lở mồm long móng serotype O.
2
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1. Lịch sử phát hiện bệnh LMLM
Bệnh được ghi nhận ở Châu Âu (Pháp, Ý, Đức...) từ thế kỷ 17, 18, sau đó bệnh
phát ra khắp toàn cầu (riêng nước Anh mãi đến năm 1939 mới ghi nhận có dịch). Mặc
dù vậy, mãi tới năm 1897, hai nhà khoa học Đức là Loeuffler và Frosch mới chứng
minh tính qua lọc của nhân tố gây bệnh và cũng từ đó việc nghiên cứu vius trong thú y
mới được đẩy lên mạnh mẽ (Trích dẫn Đào Trọng Đạt, 2000).
Vào năm 1922, hai nhà khoa học Pháp là Vallée và Carré lần đầu tiên phát hiện
ra sự tồn tại của hai type virus gây bệnh LMLM ở bò là type O và type A. Tiếp theo
đó, năm 1926, hai nhà khoa học Đức là Waldman và Trautwein (1926) đã khẳng định
lại kết quả của hai nhà khoa học Pháp và nêu thêm một type virus là type C và những
type này cho đến nay vẫn được gọi là các type Châu Âu. Vài năm sau, 3 type virus
LMLM khác được phát hiện ở miền Nam Châu Phi và được đặt tên là SAT1, SAT2,
SAT3. Tiếp theo, các phòng thí nghiệm virus LMLM của Anh thông báo đã phân lập
được type virus thứ 7 ở nhiều nước Châu Á và đặt tên là type Asia1 (Tô Long Thành,
2000).
2.2. Dịch tể học
1998
Không rõ
O
O
2001
Không rõ
Số ca
9
Serotype Asia 1
2
O, Asia 1
28
O, Asia 1
32
O
3
O,Asia 1
Số ca
8
3
14
O,A, Asia1 O,Asia 1 O, Asia 1
Phi-lip-pin
Số ca
10
Serotype O
10
O
24
O
11
O
28
O
Thái Lan
Số ca
421
269
Serotype O,A, Asia1 O,A,Asia1
340
17
23
47
23
13
(Nguồn:Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2005)
2.2.2 Tình hình bệnh LMLM ở Việt Nam trong những năm gần đây
Bệnh LMLM được phát hiện đầu tiên tại Nha Trang năm 1898.
Từ năm 1938-1940 bệnh bùng phát tại Sơn Tây, Thanh Hóa và Quãng Ngãi, tuy
nhiên dịch không trầm trọng và được bao vây khống chế kịp thời.
Năm 1969 dịch bệnh LMLM xảy ra trên trâu bò và heo từ Sài Gòn, Chợ Lớn rồi
lan ra các tỉnh. Virus gây bệnh thuộc type O (Thái Thị Thủy Phượng, 2000).
Từ năm 1976-1983, có 98 ổ dịch LMLM xuất hiện ở các tỉnh phía Nam, giáp
biên giới Campuchia.
4
Virus gây bệnh LMLM ở Việt Nam giai đoạn từ 1975-1985 thuộc type O (Lê
Minh Chí, 1985).
Từ tháng 5-10 năm 1989, bệnh bùng phát tại 3 huyện của tỉnh Đồng Nai
Năm 2000, cả nước có 60 tỉnh thành có bệnh LMLM (trừ An Giang), dịch xảy
ra trên 439 huyện và 3.773 xã, làm 472.273 trâu bò và 74.800 heo mắc bệnh. Trong
thời gian này có 17.431 trâu bò và 24.624 heo chết và bị hủy (Cục Thú Y, 2001).
Năm 2004, dịch LMLM đã xuất hiện ở 932 xã, phường thuộc 232 quận, huyện
ở 48 tỉnh, thành phố với 71.736 trâu bò, 125 dê và 1.858 heo mắc bệnh (Cục Thú Y,
Thú bệnh: mụn nước, đặc biệt là các mụn chưa vỡ.
Giai đoạn sốt: mọi mô bào như máu, sữa, mô cơ và các dịch tiết. Thú mang virus ở
vùng hầu, có thể kéo dài hàng năm, thú khỏi bệnh trong đợt dịch trở thành vật mang
trùng nguy hiểm, có 3% thú này có thể lây bệnh cho thú lành sau nhiều tháng, có thể
lên đến 29 tháng (Donalson, 2000).
2.2.6. Phương thức truyền lây
Theo Lê Anh Phụng (2006), có 2 phương thức truyền lây:
- Truyền lây trực tiếp: thú mẫn cảm tiếp xúc với thú bệnh (nuôi cùng ô chuồng hay cho
ăn chung đồng cỏ).
- Truyền lây gián tiếp: qua thức ăn, nước uống, dụng cụ… người chăm sóc, phương
tiện vận chuyển, thú sản…. các thú khác đóng vai trò truyền lây trung gian: ngựa, mèo,
gia cầm, di chuyển thú và thú sản. Đặc biệt lây xa qua không khí.
Theo Donalson (2000), bệnh lây lan là do:
Việc vận chuyển gia súc bệnh làm lây lan bệnh LMLM thông thường nhất. Như
đã nói ở phần trên, gia súc bệnh có thể bài thải virus trước khi các mụn nước chưa xuất
hiện nên sự tiếp xúc giữa các gia súc với nhau sẽ là nguyên nhân lan truyền bệnh. Việc
vận chuyển các gia súc không có dấu hiệu nhiễm bệnh rõ rệt như nhiễm bệnh phi lâm
sàng, động vật suy giảm miễn dịch, các gia súc mang trùng… có thể là nguyên nhân
lan truyền bệnh. Các tiểu gia súc nhiễm bệnh phi lâm sàng này chính là mối nguy hiểm
lớn nhất vì chúng thải ra tương đối nhiều virus, vận chuyển các gia sản phẩm động vật:
thịt, sữa, tinh trùng, da.
2.2.7. Cơ chế sinh bệnh
Khi virus theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa
hoặc qua các vết thương ở da. Trước tiên nó nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu
hóa hoặc da, gây thủy thủng một số tế bào thượng bì này và hình thành nên các mụn
6
nước, sau đó virus nhân lên trong các mụn nước rồi vào máu gây sốt và lan đến các
Sốt
Sơ đồ 2.1: Cơ chế sinh bệnh
(Nguồn: Lê Anh Phụng, 2006)
2.3 Căn bệnh
2.3.1 Phân loại, hình thái, cấu trúc virus
Phân loại
7
Virus LMLM là một trong những virus nhỏ nhất qua lọc, thuộc họ
Picornaviridae giống Aphthovirus và gồm 7 serotype là O, A, C, Asia1, SAT1, SAT2,
SAT3 (Nguyễn Tiến Dũng, 2000).
Hình thái
Dưới kính hiển vi điện tử, virus có kích thước 20-30 nm, hình cầu với cấu trúc
đa diện có 20 mặt tam giác đều (Lê Anh Phụng, 2006).
Cấu trúc
Là loại virus không có vỏ bọc, phần capsid bên ngoài gồm 60 đơn vị (mỗi đơn
vị gồm 4 prôtein cấu trúc kí hiệu là VP1,VP2, VP3 và VP4). Hạt virus chứa acid
nucleic, là một ARN chuỗi đơn có chiều dài khoảng 8400 base (Lê Anh Phụng, 2006).
2.3.2 Cấu trúc kháng nguyên
Hình 2.1. Cấu trúc bề mặt của virus
LMLM dưới kính hiển(nguồn:pathport.vbi.vt.edu/pathinfo
vi điện tử
/pathogens/FMDV.html)
Những protein tạo nên capsid có tính chất kháng nguyên và khả năng kích thích
sinh miễn dịch, gồm 4 loại VP1,VP2, VP3, VP4. VP1 ở ngoài cùng tham gia trong
việc cố định virus trên những tế bào và tạo nên một trong những yếu tố cấu trúc sinh
hóa chất cho việc khử trùng tiêu độc như sau: NaOH 2%, formol 1-2%, biodine 0,33%,,
…ngoài ra cần rải thêm vôi bột ở các lối đi.
Bảng 2. 2: Mối quan hệ giữa môi trường với sự tồn tại của virus
STT
1
2
Môi trường
Nơi rác rưởi khô
Nơi rác rưởi ẩm ướt
Thời gian tồn tại (ngày)
14
08
9
3
4
Nước tiểu
Đống phân có bề dầy 30 cm
39
06
5
Mùa thu
(Nguồn: Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2005)
2.4 Triệu chứng bệnh LMLM trên heo
Theo Donalson (2001), bệnh phát triển qua 4 thời kỳ:
Thời kỳ nung bệnh: trong tự nhiên thời kỳ nung bệnh từ 2-7 ngày, có khi chỉ trong 24
giờ hoặc có khi kéo dài đến 14 ngày. Trong phòng thí nghiệm, thời kỳ nung bệnh từ 13 ngày.
Thời kỳ khởi phát: tăng thân nhiệt (sốt 41,5-420C), vẻ mệt mỏi, dáng đi ủ rủ, tỷ lệ chết
cao ở động vật non. Heo nằm chui rúc, dửng dưng với các tác động bên ngoài, đặc biệt
là thức ăn. Đối với gia súc non, tử vong xảy ra 24 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng
đầu tiên.
Thời kỳ nổi mụn nước: dáng đi khập khiểng do xuất hiện các mụn nước xung quanh
viền móng, ở các khe móng và đế guốc. Ở heo, ít thấy mụn nước ở miệng, mà triệu
chứng chính là dáng đi khập khiểng, què quặt bị các mụn nước ở móng và heo thường
bị long móng. Trường hợp bị bội nhiễm vi trùng thứ phát, các kẻ móng chân thường
phát triển thành các mụn hoại tử.
Thời kỳ giảm bệnh và khỏi: mụn nước hóa sẹo sau 8- 10 ngày. Trên heo con theo mẹ,
có thể chết vì viêm cơ tim.
Theo Trần Thanh Phong (1996), các biến chứng thường gặp trên heo mắc bệnh
LMLM:
10
Biến chứng ở chân: thường thấy ở thú lớn hơn thú nhỏ. Các vi trùng sinh mủ ở gan bàn
chân và vành móng chân khiến thú khó đứng trên đế, sức nặng của cơ thể sẽ làm tình
trạng nặng thêm, chỉ cần đứng không vững trượt chân là móng sẽ bong ra dễ dàng. Khi
sốt hạ, heo ở thời kỳ hồi phục cố gắng đi bằng đấu gối hay khủy chân, do cọ sát nhiều
làm mạch máu ở đây vỡ, xuất huyết và nhiễm trùng làm khớp sưng lớn dẫn đến chân
bất động không di chuyển được.
Biến chứng ở vú: khi các mụn nước mọc ở vú, đặc biệt là ngay lỗ thoát sữa, làm sữa không
thoát ra được dẫn đến tình trạng vú bị viêm cấp tính với các biểu hiện như sốt, vú bị cương
hóa, hoại tử. Những trường hợp này thú bệnh thường chết đột ngột do cơ tim bị thoái
hóa, nhão như tim bị luộc chín (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2005).
2.6 Chẩn đoán
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng
Dựa trên các triệu chứng ở miệng, móng, vú và tính chất lây lan nhanh và mạnh
(có hay không có tiếp xúc với thú bệnh hoặc có báo cáo dịch lỡ mồm long móng ở khu
vực kế cận). Khi có trường hợp chết đột ngột ở thú non có móng chẻ, kiểm tra kỹ các
thú lớn thường có thể phát hiện sự có mặt của các mụn nước trong bệnh LMLM (Lê
Anh Phụng, 2001).
Tuy nhiên việc chẩn đoán lâm sàng thường dễ nhầm với một số bệnh tạo mụn
nước nên cần phân biệt với các bệnh: bọng nước ban đỏ (vesicular exanthema disease),
viêm miệng bọng nước (vesicular stomatitis disease), hoại tử do trực khuẩn, thiếu
biotine, hoại tử ở chân, bọng nước ở heo (Trần Thanh Phong, 1996).
Bảng 2.3: phân biệt với các bệnh gây mụn nước ở động vật
Bệnh Căn bệnh
FMD Họ Picornviridae,
Năm xác Phân bố vùng
định bệnh
1989
giống Aphthovirus
có bệnh
thụ
Châu Á, Châu Phi, Trâu bò, heo
Nam Mỹ
12
1934
VS
giống Calcivirus
Họ Rhabdoviridae,
1927
Bắc Mỹ
Châu Mỹ
giống Vesiculovirus
Heo, sư tử biển
Ngựa, trâu bò,
heo, Người
(Nguồn: Lê Anh Phụng, 2006)
2.6.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Theo Lê Anh Phụng (2006), lấy mẫu bệnh phẩm tùy trường hợp:
- Thú bệnh: dịch mụn nước, tốt nhất là mụn chưa vỡ, sữa và máu.
- Thú chết do bệnh: máu, cơ tim hoặc các cơ quan có bệnh tích.
- Thú không có triệu chứng bệnh: dịch hầu họng.
Một số phương pháp có thể áp dụng để chẩn đoán bệnh LMLM:
(1) Tiêm truyền gây bệnh cho động vật thí nghiệm: Dùng dịch mụn nước (huyễn
dịch 20%), tiêm vào nội bì lưỡi bò, sau 2-6 giờ có mụn mọc chỗ tiêm; tiêm nội bì gan
bàn chân chuột lang, sau 12 giờ có sưng, nổi mụn làm chân đau, đi bằng đầu gối; tiêm
chuột bạch 7-10 ngày tuổi, đường tiêm phúc mạc (I/P), sẽ làm chết chuột sau 24-36
giờ.
Phản ứng ELISA – FMD – 3ABC po dùng để phát hiện kháng thể kháng Protein
3ABC trên heo (Tài liệu Cục Thú Y, 2004).
Theo quy định của phòng thí nghiệm chuẩn về LMLM của OIE, biện pháp thích
hợp nhất để phát hiện kháng nguyên của virus LMLM và giám định các serotype của
virus là phương pháp ELISA. Đây là phản ứng kẹp chả trong đó sử dụng kháng huyết
thanh của thỏ kháng lại từng serotype của virus LMLM làm kháng thể bắt; và kháng
huyết thanh của chuột lang kháng lại từng serotype của virus LMLM làm kháng thể
nhận diện. Kháng thể phát hiện là huyết thanh của thỏ kháng chuột lang gắn với
enzyme (Tô Long Thành, 2000).
Nguyên lý: thông thường sự kết hợp kháng nguyên – kháng thể không thể phát
hiện bằng mắt thường. Kỹ thuật ELISA đã lợi dụng đặc tính hấp phụ tự nhiên của
protein lên polyethylen để gắn kháng nguyên hoặc kháng thể lên giá (bề mặt đĩa nhựa)
rồi cho kháng nguyên hoặc kháng thể tương ứng có đánh dấu enzyme vào tạo phản
ứng. Sau khi loại bỏ chất đánh dấu không kết hợp, cho thêm vào hỗn dịch chất hiện
màu. Nhờ hoạt tính xúc tác của enzyme làm giải phóng oxy nguyên tử [O] từ H 2O2 để
oxy hóa chất hiện màu làm thay đổi màu của hỗn dịch (Lê Văn Hùng, 2002).
Theo Thái Thị Thủy Phượng (2006), hiện nay ELISA là một phản ứng chẩn
đoán nhanh dùng cho bệnh LMLM cũng như trong giám định serotyp của virus thay
thế phương pháp kết hợp bổ thể thường được sử dụng trước đây. Đây là phương pháp
có những thuận lợi hơn hẳn những phản ứng thông thường khác:
14
-
Phản ứng có tính đặc hiệu cao. Kháng huyết thanh thỏ đặc hiệu với
từng type virus sẽ chọn lọc các kháng nguyên virus từ các protein cạnh tranh khác
và tập trung chúng lại giúp tăng khả năng phát hiện virus.
Dùng các đoạn mồi (primer) để tìm các đoạn gen đặc trưng của virus, cho phép
chẩn đoán chính xác căn bệnh và nguồn gốc căn bệnh do xác định những protein
không cấu trúc (nonstructural protein) và kết hợp kỹ thuật kháng thể đơn dòng để xác
định subtype trong serotype (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2005).
2.7 . Phòng bệnh
2.7.1. Vệ sinh phòng bệnh
Rất khó khăn trong việc phòng bệnh bằng vệ sinh do tính lây nhiễm cao, sức đề
kháng mạnh của virus, sự mang và bài trùng của gia súc và thú hoang dã. Cơ sở của
phương pháp này là thực hiện công tác vệ sinh tiêu độc sát trùng chuồng trại kỹ lưỡng
cho thú nuôi ở trong nước và ở xung quanh vùng biên giới (Grubman, 2004). Không
15
nhốt chung heo với trâu bò, làm tốt công tác kiểm dịch và kiểm giết mổ (Lê Anh
Phụng, 2006).
2.7.2. Phòng bệnh bằng vaccine
Theo Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2005), đối với bệnh LMLM người ta dùng
vaccine vô hoạt. Có nhiều loại vaccine phòng bệnh LMLM như vaccine vô hoạt có
thêm chất bổ trợ, vaccine vô hoạt bằng ethylene imine (E.I), vaccine sản xuất theo
công nghệ gen…
Theo Lê Anh Phụng (1996), vaccine dùng phải phù hợp với type hiện hành vì
giữa các type không có miễn dịch chéo.
Để biết được virus ngoài thực địa thay đổi thế nào thì cần phải điều tra dịch tể
thường xuyên (Tô Long Thành, 2000)
2.8 Các biện pháp phòng chống tổng hợp
Theo Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2005), nhìn chung tùy đặc điểm dịch tể, tự nhiên,
kinh tế, xã hội… của từng khu vực có bệnh LMLM mà các quốc gia có những biện
pháp phòng chống thích hợp, nhưng nhiều kinh nghiệm từ những quốc gia đã thành
Phải có trung tâm giám định chất lượng vaccine về chủng loại và hiệu lực.
-
Phải thực hiện công tác tiêu độc sát trùng nghiêm ngặt tại các CSGM và các nơi
đã xảy ra dịch.
16
-
Xác định thời gian khống chế bệnh và các biện pháp về kỹ thuật, chính sách, đầu
tư,…. Thực hiện trong thời gian đó.
-
Phải có nguồn tài chính đầy đủ để thực hiện các chương trình phòng chống dịch
bệnh.
-
Phải có chương trình hợp tác quốc tế chặt chẽ, nhất là với các nước trong khu
vực.
Giới thiệu về các loại vắc xin hiện dùng ở Việt Nam:
Theo Cục Thú Y, thì Việt Nam hiện nay đang sử dụng 4 loại vaccine phòng bệnh
LMLM trên heo và qui trình tiêm phòng theo hướng dẫn của nhà sản xuất:
(1) Vaccine vô hoạt LMLM type O (II) cho heo
Là vắc-xin phòng bệnh LMLM type O (II) cho heo, do viện nghiên cứu thú y Lan
Châu, Trung Quốc sản xuất và công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet phân phối.