1
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của Đề tài:
Đất nước ta đang trong thời kỳ chuyển biến trên con đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa với sự phát triển đáng kể của cơ sở hạ tầng. Trong đó, xây dựng cơ bản là
một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng, đã có những đóng góp to lớn vào sự chuyển
mình đó của đất nước. Cùng với sự phát triển liên tục của nền kinh tế, ngành xây dựng
không ngừng phát triển và mở rộng, tạo ra rất nhiều tài sản cố định cho đất nước, từng
bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Nhất là khi thị trường bất động sản đang rất ảm đạm, sự thắt chặt đầu tư công
và cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt do có sự tham gia của các doanh nghiệp nước
ngoài. Việc hoàn thiện quá trình quản lý thi công công trình để nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh nhằm tăng khả năng cạnh tranh của Ban quản lý dự án công trình
công cộng trên thương trường là một yếu tố quan trọng.
Với những đặc điểm và yêu cầu nêu trên, đề tài “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG TẠI
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG” mang ý nghĩa thiết thực,
cần thiết nhằm nâng cao chất lượng công trình .
Mục đích của Đề tài:
Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình trong quá trình thi công tại Ban
quản lý dự án công trình công cộng.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Cách tiếp cận:
Tìm hiểu các tài liệu đã được nghiên cứu và ứng dụng;
Khảo sát thực tế ở những công trình đã ứng dụng ở Việt Nam;
Các đánh giá của các chuyên gia.
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tổng quan lý thuyết và thực tiễn
Nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam;
tranh cãi phức tạp. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là các khái niệm về chất
lượng nói chung và chất lượng sản phẩm nói riêng được nêu ra dưới các góc độ khác
nhau của mỗi cách tiếp cận, mỗi cách nhìn nhận riêng biệt.
1.1.2. Khái niệm về chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng rất
phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Tuy nhiên, để hiểu rõ và đầy đủ
về khái niệm chất lượng sản phẩm thì thật không hề đơn giản. Bởi đây là một phạm trù
phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Đứng ở những
góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra
những quan niệm về chất lượng sản phẩm thành những nhóm chủ yếu sau:
- Quan niệm siêu việt: Cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất của
sản phẩm.
Quan niệm này quá tính trừ tượng bởi chất lượng sản phẩm không thể xác định
một cách chính xác.
- Quan niệm theo hướng công nghệ: Cho rằng chất lượng sản phẩm là tồng hợp
những đặc tính bên trong sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh được, phản ánh giá
trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng yêu cầu định trước cho nó, trong
những yêu cầu xác định về kinh tế xã hội.
Ưu điểm của quan niệm này là có thể dễ dàng đánh giá được chất lượng đơn
thuần về mặt kỹ thuật và ở mặt tương đối tĩnh.
Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là dễ dẫn đến nguy cơ làm cho chất lượng
không kịp thời cải tiến, không gắn chặt với nhu cầu thị trường và dẫn đến kết quả là
tiêu thụ sản phẩm kém.
4
- Quan niệm theo hướng khách hàng:
“ Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thể tin cậy được,
tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận”.
Qua sự phân tích nghiên cứu, các chuyên gia chất lượng sản phẩm đã đưa ra 6
loại chất lượng sản phẩm như sau:
Chất lượng thiết kế: Là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của sản
phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để sản xuất, chất
lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các yêu cầu về vật liệu chế
tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất chế tạo, yêu cầu về bảo quản, về thử nghiệm
và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng. Chất lượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính
sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý thuyết đối với nhu cầu thị trường, còn thực tế có
đạt được điều đó hay không thì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Chất lượng chuẩn: Là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó được phê
duyệt trong quá trình quản lý chất lượng và người quản lý chính là các cơ quan quản lý
và chính chỉ có họ mới có quyền phê chuẩn. Sau khi phê chuẩn rồi thì chất lượng này
trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy.
Chất lượng thực tế: Là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm
và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Chất lượng cho phép: Là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng chuẩn và
chất lượng thực tế của sản phẩm. Chất lượng cho phép do cơ quan quản lý chất lượng
sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế, hợp đồng giữa đôi bên quy
định.
Chất lượng tối ưu: Biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu của thị trường
trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất. Nó nói lên mối quan hệ
giữa chất lượng sản phẩm và chi phí.
Chất lượng toàn phần: Là mức chất lượng thể hiện mức tương quan giữa hiệu quả
có ích cho sử dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để sản xuất và sử dụng
sản phẩm đó.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhưng ta có thể chia thành
hai nhóm yếu tố chủ yếu. Đó là nhóm yếu tố bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong.
7
Hiệu lực quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng
sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín và quyền lợi
của nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải tiến chất
lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động
các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng những phương pháp quản lý chất
lượng hiện đại.
* Nhóm yếu tố bên trong tổ chức.
Trong phạm vi một tổ chức thì có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản
phẩm ( được biểu thị bằng quy tắc 4 M), đó là:
- Men (con người): Lực lượng lao động trong tổ chức (bao gồm tất cả thành viên
trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên thừa hành). Năng lực, phẩm chất của
mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng.
- Methods (phương pháp): Phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và
tổ chức sản xuất của tổ chức. Với phương pháp công nghệ thích hợp, với trình độ quản
lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác tốt nhất các
nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Machines (máy móc thiết bị): Khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của tổ
chức. Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong việc nâng cao
những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất lao động.
- Materials (nguyên vật liệu): Vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống tổ chức
đảm bảo vật tư, nguyên nhiên liệu của tổ chức. Nguồn vật tư, nguyên nhiên liệu được
đảm bảo những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng số lượng, đúng thời hạn sẽ
tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm.
1.2. QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH.
1.2.1. Quản lý chất lượng.
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo.
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanh
nghiệp. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn
toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
9
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự tham gia
đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh nghiệp.
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt
động có liên quan được quản lý như một quá trình.
Nguyên tắc 5: Tính hệ thống.
Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn
nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp.
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục.
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh
nghiệp. Muốn có khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất, doanh nghiệp
phải liên tục cải tiến.
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện.
Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh muốn
có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin.
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng.
Doanh nghiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ tương hỗ
cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị.
1.2.4. Khái niệm quản lý chất lượng công trình .
Thông thường, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng
sản phẩm xây dựng:
dụng.
- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải
chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các
hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng...
- Vấn đề môi trường: cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự án tới các
yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại, tức là tác động của các yếu
tố môi trường tới quá trình hình thành dự án.
11
1.2.5. Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình.
Chất lượng công trình.
Chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các đặc tính kỹ thuật của công trình
xây dựng được xác định thông qua kiểm tra, đo đạc, thí nghiệm, kiểm định thỏa mãn
các yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật, mỹ thuật của công trình và phù hợp với
thiết kế, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng, hợp đồng xây dựng và quy
định của pháp luật có liên quan.
Nguyên tắc chung trong quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng và quản lý, sử dụng, bảo trì công
trình phải đảm bảo an toàn cho con người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình
lân cận và đảm bảo tối đa sự vận hành liên tục của công trình.
- Công trình, hạng mục công trình chỉ được nghiệm thu để đưa vào sử dụng khi
đáp ứng được các yêu cầu của thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng cho
công trình và các yêu cầu khác của chủ đầu tư theo nội dung của hợp đồng và quy định
của pháp luật có liên quan. Công trình và các bộ phận công trình phải được bảo trì kể
từ khi đưa vào sử dụng.
- Tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động đầu tư xây dựng phải có đủ điều kiện
năng lực phù hợp với công việc thực hiện, có hệ thống quản lý chất lượng và chịu
trách nhiệm trước chủ đầu tư và trước pháp luật về chất lượng các công việc xây dựng
- Lập và duyệt biện pháp kinh tế kỹ thuật.
- Phòng TC-HC lập và trình Giám đốc ký quyết định thành lập tổ QLCL công
trình.
- Thực hiện thương thảo và ký Hợp đồng giao khoán.
Nội dung, trình tự thực hiện quy trình.
- Lập đề cương thực hiện quản lý.
- Trình kiểm tra và phê duyệt đề cương.
- Thực hiện quản lý theo đề cương.
13
1.3. SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG
TRÌNH XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
1.3.1. Vai trò của ngành xây dựng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước.
Xây dựng cơ bản có thể coi là một ngành sản xuất vật chất, ngành duy nhất tạo ra
cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, đời sống y tế, quốc phòng, giáo dục và
các công trình dân dụng khác.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hoạt động xây dựng cơ
bản góp phần to lớn vào việc tạo ra cơ sở hạ tầng cho các ngành khác. Nhìn vào cơ sở
hạ tầng của các ngành đó ta có thể thấy được trình độ phát triển, hiện đại của ngành đó
như thế nào.
Nhờ có việc thi công các công trình xây dựng đô thị hóa nông thôn mà nó đã góp
phần vào việc cải thiện khoảng giữa thành thị và nông thôn, nâng cao trình độ văn hóa
và điều kiên sống cho những người dân vùng nông thôn, từ đó góp phần đổi mới đất
nước.
Ngoài ra, ngành xây dựng còn đóng góp rất lớn vào tổng GDP của cả nước. Sự
phát triển của ngành cho thấy sự lớn mạnh về nền kinh tế đất nước. Các cơ sở hạ tầng,
kiến trúc đô thị càng hiện đại càng chứng tỏ đó là một đất nước có nền kinh tế phát
quản lý chất lượng xây dựng, nhưng thực tế ở Việt Nam thành phần ngoài QLNN
vẫn chưa trở thành lực lượng hỗ trợ, cùng cơ quan QLNN kiểm soát chất lượng công
trình xây dựng. Trong khi đó, khả năng quản lý chất lượng xây dựng của QLNN
hiện không tương xứng với tình hình phát triển của ngành xây dựng (lực lượng
mỏng, năng lực hạn chế...). Xét hiện trạng, tại Việt Nam, cơ quan QLNN vẫn đang
đơn độc trong kiểm soát chất lượng xây dựng.
1.3.3. Những mặt đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng công trình
xây dựng ở nước ta.
Từ khi Đảng ta thực hiện đường lối đổi mới, ngành xây dựng có cơ hội lớn chưa
từng có để phát triển. Thành công của công cuộc đổi mới đã tạo điều kiện vô cùng
thuận lợi cho ngành xây dựng vươn lên, đầu tư nâng cao năng lực, vừa phát triển, vừa
tự hoàn thiện mình, và đã đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế đất nước. Các
doanh nghiệp của ngành không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, làm chủ được công nghệ
thiết kế và đã thi công xây dựng được những công trình quy mô lớn, phức tạp mà trước
đây phải thuê nước ngoài.
Chúng ta đã tự thiết kế, thi công nhà cao tầng, nhà có khẩu độ lớn, các công trình
ngầm và nhiều công trình đặc thù khác. Bằng công nghệ mới, chúng ta đã xây dựng
15
thành công hầm Hải Vân, hầm qua Đèo Ngang, nhiều loại cầu vượt sông khẩu độ lớn,
các nhà máy nhiệt điện, thủy điện quy mô lớn mà chính chúng ta đang chứng kiến. Các
đô thị mới, khang trang, hiện đại đã và đang mọc lên bằng chính bàn tay, khối óc con
người Việt Nam. Qua thử thách, nhiều doanh nghiệp xây dựng nhanh chóng trưởng
thành, khẳng định vị thế.
1.3.4. Những bất cập về vấn đề chất lượng công trình xây dựng hiện nay.
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều có gắng trong việc đảm bảo, nâng cao, kiểm soát
chất lượng công trình và cũng đã đạt được một số thành tích đáng kể. Tuy nhiên, số
lượng công trình kém chất lượng hoặc vi phạm về chất lượng vẫn còn khá nhiều.
quản lý CLCTXD là rất cần thiết, bởi nếu xảy ra sự cố thì sẽ gây ra tổn thất rất lớn về
người và của, đồng thời cũng rất khó khắc phục hậu quả.
Nâng cao công tác quản lý CLCTXD là góp phần nâng cao chất lượng sống cho
con người. Vì một khi CLCTXD được đảm bảo, không xảy ra những sự cố đáng tiếc
thì sẽ tích kiệm được rất nhiều cho ngân sách quốc gia. Số tiền đó sẽ được dùng vào
công tác đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân, hoặc
dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo.
1.3.6. Mục tiêu và phương hướng phát triển chung của ngành xây dựng
trong những năm tới.
Duy trì tốc độ tăng trưởng, góp phần vào những chuyển biến tích cực của
nền kinh tế
Báo cáo của Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng tại Hội nghị nêu rõ: Ngành Xây dựng
đã bước vào thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2013 trong bối cảnh tình hình kinh tế
thế giới vẫn có nhiều diễn biến phức tạp, phục hồi chậm hơn dự báo; nền kinh tế trong
nước vẫn đang trong giai đoạn khó khăn; thị trường BĐS vẫn còn trầm lắng; SXKD
của các DN vẫn trong tình trạng khó khăn; xử lý hàng tồn kho và nợ xấu, duy trì đời
sống, việc làm cho người lao động tiếp tục là một thách thức lớn đối với các DN…
Trong bối cảnh đó, ngay từ đầu năm Bộ Xây dựng đã ban hành Chương trình
hành động thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ số 01/NQ-CP về những giải pháp
chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán
ngân sách Nhà nước năm 2013, Nghị quyết số 02/NQ-CP về các giải pháp tháo gỡ khó
khăn cho SXKD, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu; nghiêm túc triển khai đồng bộ
các nhóm giải pháp của Chính phủ liên quan đến các lĩnh vực của Ngành…
Với sự nỗ lực, cố gắng của toàn Ngành, giá trị sản xuất ngành Xây dựng năm
2013 (theo giá hiện hành) đạt 770,41 nghìn tỷ đồng (tăng 7% so với năm 2012), chiếm
17
tỷ trọng 5,94% GDP cả nước và được đánh giá là một trong những yếu tố tích cực
18
ủng hộ và đánh giá cao, từng bước đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng, góp phần
tích cực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
Tập trung đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân
Bên cạnh việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch xây dựng, kiểm
soát phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch; tăng cường quản lý đầu tư xây dựng,
nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư… Bộ Xây dựng đã tiến
hành đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường BĐS gắn với thực hiện
Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, đặc biệt là NOXH.
Trong năm 2013, Bộ đã tập trung nghiên cứu xây dựng trình Quốc hội, Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, đề
án quan trọng về lĩnh vực nhà ở, trong đó đặc biệt là Nghị định số 188/2013/NĐ-CP về
phát triển và quản lý NOXH với rất nhiều cơ chế ưu đãi để thúc đẩy phát triển nhanh
NOXH.
Đồng thời, Bộ Xây dựng tập trung chỉ đạo và hỗ trợ các địa phương rà soát, xác
định nhu cầu NOXH và xây dựng chương trình phát triển nhà ở của địa phương phù
hợp với nội dung Chiến lược và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tính đến thời điểm hiện tại, toàn quốc có 124 dự án NOXH đang được triển khai
với quy mô xây dựng khoảng 78.700 căn, trong đó có 85 dự án NOXH cho người thu
nhập thấp.
Cùng với việc tập trung đẩy mạnh xây dựng NOXH, Bộ còn tiếp tục triển khai
các Chương trình hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo khu vực nông thôn, nhà ở cho người
dân các khu vực thường xuyên bị lũ lụt, hỗ trợ nhà ở cho người có công, nhà ở cho
công nhân, sinh viên…
Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng thường xuyên ngập lũ
ĐBSCL đã giải quyết chỗ ở an toàn cho 157.863 hộ dân; Chương trình 167 giai đoạn 1
đã hỗ trợ 519.869 hộ (đạt 104,8%), đang đề xuất tiếp giai đoạn 2 với khoảng 500.000
diện nhằm tinh gọn bộ máy quản lý; giảm dần giá trị vốn góp của Nhà nước tại các Cty
CP mà Nhà nước không cần thiết nắm giữ cổ phần chi phối...
Qua quá trình cổ phần hóa, giá trị phần vốn nhà nước tại các DN đã tăng thêm
được 2.096,77 tỷ đồng; số lao động được sắp xếp lại là 5.602 người; đồng thời đã xử
lý nhiều vấn đề tồn tại về tài sản, tài chính, lao động, đất đai.
Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng nhận định, dù năm 2013 ngành Xây dựng đã đạt
được nhiều kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc
20
phục, như tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng vẫn chậm được khắc
phục; chất lượng một số công trình xây dựng còn thấp; tình trạng xây dựng không
phép, sai phép tại một số địa phương vẫn còn cao; tỷ lệ phủ kín quy hoạch xây dựng
tại một số đô thị chưa cao, chất lượng một số đồ án quy hoạch còn hạn chế; công tác
phát triển đô thị tại một số địa phương còn nhiều hạn chế; thị trường BĐS tuy đã có
chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều khó khăn…
1.3.7.Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của ngành xây dựng trong giai đoạn tới
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng, trong năm 2014, ngành Xây
dựng sẽ tập trung vào 12 nhiệm vụ trong tâm của Ngành. Trong đó, Bộ Xây dựng sẽ
tiếp tục tập trung hoàn thiện các cơ chế, chính sách trong các lĩnh vực của Ngành,
trọng tâm là hoàn thiện để trình Quốc hội, Chính phủ thông qua Luật Xây dựng (sửa
đổi) và các Nghị định hướng dẫn thực hiện, Luật Nhà ở (sửa đổi) và Luật Kinh doanh
bất động sản (sửa đổi); nghiên cứu các cơ chế, chính sách để thu hút, huy động các
nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển hạ tầng đô thị…
Đồng thời, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, rà soát điều
chỉnh bổ sung các quy hoạch vùng, quy hoạch chung trên phạm vi cả nước, đẩy nhanh
tốc độ phủ kín quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết...; Tiếp tục triển khai thực hiện
Nghị định 15/2013/NĐ-CP, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát trong đầu
tư xây dựng và thực hiện Nghị định số 11/2013/NĐ-CP, tăng cường quản lý và kiểm
trình bê tông nói riêng sẽ là tiền đề để định hướng cho nội dung nghiên cứu tiếp theo
của tác giả.
Để hiểu rõ hơn về công tác quản lý và nâng cao chất lượng trong giai đoạn thi
công tại ban quản lý dự án công trình công cộng, trong chương 2 tác giả sẽ đưa ra các
nội dung cơ sở pháp lý về lý thuyết trong quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công.
Từ những cơ sở lý luận đó sẽ giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quan về mặt lý thuyết,
tạo cơ sở cho những nội dung nghiên cứu tiếp theo.
22
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN TRONG QUẢN LÝ CHẤT
LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
2.1. Cơ sở pháp lý:
2.1.1. Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 do Quốc hội Nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành :
- Quy định vai trò và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng
được phân cấp, làm rõ gồm: Bộ Xây dựng, UBND các tỉnh, quận, huyện. Tránh được
tình trạng nhiều cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng khi công trình sự cố không có
đơn vị chịu trách nhiệm sẽ gây thiệt hại cho xã hội. Trong đó cơ quan chuyên môn về
xây dựng là các cơ quan trực thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng
chuyên ngành; Sở Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có
chức năng quản lý xây dựng thuộc UBND cấp huyện;
- Chủ đầu tư vốn ngân sách Nhà nước và vốn Nhà nước là cơ quan, tổ chức,
được người quyết định đầu tư giao quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng. Căn cứ
điều kiện cụ thể của dự án sử dụng vốn NSNN, người quyết định đầu tư giao BQLDA
chuyên ngành hoặc khu vực làm chủ đầu tư; trường hợp không có BQLDA thì người
quyết định đầu tư lựa chọn cơ quan, tổ chức đủ điều kiện làm chủ đầu tư. Khắc phục
tình trạng nhiều chủ đầu tư không đủ năng lực thực hiện và quản lý các dự án.
- Bảo hiểm bảo hành là loại bảo hiểm mới được quy định trong Luật xây dựng
tư công (có sử dụng vốn nhà nước) thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công; Đối
với dự án sử dụng vốn nhà nước đầu tư kinh doanh thì người đại diện của cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp quyết định đầu tư; Đối với dự án sử dụng vốn khác thì chủ sở hữu
hoặc đại diện chủ sở hữu quyết định đầu tư.
* Quy định mới về việc lấy ý kiến quy hoạch xây dựng: Cơ quan, chủ đầu tư tổ
chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm lấy ý kiến của cộng đồng dân cư có liên
quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng.
- Quy định mới về Giấy phép quy hoạch xây dựng: Theo đó, Giấy phép quy
hoạch xây dựng là văn bản do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ
đầu tư trong khu chức năng đặc thủ để làm căn cứ lập quy hoạch chi tiết hoăc lập dự
án khi chưa có quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chi tiết;
- Bổ sung thêm các trường hợp được miễn cấp Giấy phép xây dựng: Nhà ở
riêng lẻ ở nông thôn ; công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt; nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển có quy mô dưới 7 tầng và
tổng diện tích sản dưới 500m2; Công trình chỉ lập báo cáo KTKT ở nông thôn khu vực
chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng.
- Hình thành 02 loại Ban quản lý dự án là Ban QLDA chuyên ngành và Ban
QLDA khu vực để quản lý các dự án vốn NSNN, vốn NN theo chuyên ngành; Các ban
24
này sẽ được giao làm chủ đầu tư một số dự án và thực hiện chức năng, nhiệm vụ
QLDA, thực hiện tư vấn QLDA đối với dự án khác.
- Ban QLDA một dự án: Được thành lập để thực hiện 01 dự án sử dụng vốn nhà
nước có quy mô nhóm A có công trình cấp đặc biệt, công nghệ cao hoặc dự án quốc
phòng, an ninh.
- Thuê tư vấn QLDA: vốn nhà nước ngoài NSNN, đặc thù, đơn lẻ.
- Chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn: sửa chữa, cải tạo nhỏ, DA có sự
chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng, chi phí xây dựng nhà
tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường), không bao gồm chi phí xây dựng nhà
tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường(chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và
điều hành thi công và chi phí trực tiếp khác đều được chuyển qua chi phí hạng mục
chung)
2.1.3. Căn cứ Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của chính phủ
về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng:
- Trên cơ sở căn cứ các nội dung Luật Xây dựng 2014 và kết quả tổng kết quá
trình thực hiện Nghị định 15/2013/NĐ-CP, về cơ bản Nghị định kế thừa các nội dung
ưu việt của Nghị định 15/2013/NĐ-CP, bổ sung các nội dung hướng dẫn về bảo trì
công trình xây dựng hiện nay đang quy định tại Nghị định 114/2010/NĐ-CP ngày
06/12/2010 của Chính phủ về bảo trì công trình xây dựng vào Nghị định này. Đồng
thời, Nghị định còn bổ sung các nội dung còn hạn chế, các quy định mới cần quản lý
nhưng chưa được thể hiện trong Nghị định 15/2013/NĐ-CP, đưa một số nội dung quy
định trong các Thông tư hướng dẫn Nghị định 15/2013/NĐ-CP đã đi vào cuộc sống và
vận hành tốt để giảm các nội dung hướng dẫn trong các Thông tư, nhằm tăng cường
tính ổn định của hệ thống pháp luật.
- Từ các nội dung nêu trên, Nghị định được soạn thảo theo trình tự công việc từ
giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công đến bảo trì công trình xây dựng. Quy định trách
nhiệm của từng chủ thể tham gia hoạt động xây dựng công trình trong từng giai đoạn.
Sự thay đổi của Nghị định này phù hợp hơn với thực tế và giúp các chủ thể năm bắt
ngay các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong toàn bộ quá trình
hoạt động đầu tư xây dựng.
Căn cứ Nghị định này thì việc quản lý chất lượng công trình xây dựng phải
tuân thủ theo 06 nguyên tắc cơ bản sau:
- Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị
định này và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý,
sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các
công trình lân cận.
- Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào