ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
======================
LÊ VĂN HUẤN CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ HÀ ĐÔNG NHẰM TĂNG CƢỜNG
CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2008 HÀ NỘI - 2008
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Sư phạm,
Khoa Sau đại học - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy,
hướng dẫn và quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành chương
trình cao học.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS.Đặng Bá Lãm, người đã
tận tình không quản thời gian hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các vị lãnh đạo Thành uỷ, Phòng Giáo dục
& Đào tạo, các trường THCS trong thành phố Hà Đông đã cung cấp các
số liệu rất quí báu và động viên, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi. Xin
cảm ơn các đồng nghiệp và những người thân yêu trong gia đình đã
động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song luận văn vẫn khó tránh khỏi những
thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các Thầy Cô, bạn bè
đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2008
TÁC GIẢ Lê Văn Huấn
:
Đại học
ĐT, BD
:
Đào tạo, bồi dưỡng
GD
:
Giáo dục
GD&ĐT
:
Giáo dục & Đào tạo
GS
:
Giáo sư
GV
:
Giáo viên
HĐND TP
:
Hội đồng nhân dân Thành phố
HS
:
Học sinh
KTTH-HN
:
Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp
LLCT
:
Lý luận chính trị
QLNN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
5. Giả thuyết khoa học
4
6. Phạm vi nghiên cứu
5
7. Phương pháp nghiên cứu
5
8. Cấu trúc luận văn
5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI
NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
6
1.1. Một số khái niệm cơ bản
6
1.1.1. Quản lý
6
1.1.2. Quản lý giáo dục
8
1.1.3. Các chức năng quản lý
36
2.1.4. Cơ sở vật chất ngành giáo dục Thành phố
36
2.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở ở thành phố Hà Đông
trong giai đoạn hiện nay
37 2.2.1. Số lượng
37
2.2.2. Chất lượng
39
2.2.3. Hiệu quả hoạt động
43
2.3. Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên trung học cơ sở ở thành
phố Hà Đông trong giai đoạn hiện nay
44
2.3.1. Công tác qui hoạch đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
44
2.3.2. Công tác tuyển dụng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
46
2.3.3. Công tác sử dụng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
48
2.3.4. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
49
2.3.5. Công tác đánh giá, đề bạt, sa thải đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
53
Kết luận chương 2
55
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM TĂNG CƢỜNG CHẤT
75
Kết luận chương 3
77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
78
1. Kết luận
78
2. Khuyến nghị
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
85
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục được coi là điều kiện tiên quyết của sự phát triển. Có thể
khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào
đối với con người. Chính nhờ có giáo dục các di sản tinh thần của thế hệ
trước được truyền lại cho thế hệ sau, các di sản này được tích luỹ ngày
càng phong phú làm cho xã hội ngày càng tiến bộ. Con người sau nhu cầu
sinh học, còn có nhu cầu nhận thức, nhu cầu giao lưu, nhu cầu cải tạo thực
tiễn, nhu cầu phát triển… giáo dục sẽ là phương tiện giúp con người thực
hiện được các nhu cầu đó.
Trong phạm vi quốc gia cũng như địa phương, giáo dục là nền tảng văn
những khoa học công nghệ tiên tiến của nhân loại hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó việc đổi mới quản lý đội
ngũ giáo viên phổ thông nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đáp ứng yêu cầu
xã hội, theo kịp sự phát triển của thế giới là một yêu cầu rất bức thiết hiện
nay, Chỉ thị 40 CT/TW của Ban chấp hành Trung ương đã chỉ rõ: “Xây dựng
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất
lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản
lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo, thông qua
việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục
để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày
càng cao của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước”. Tương xứng với yêu cầu đó
giáo viên và các nhà quản lý giáo dục phải là những người có tâm, có tầm và
có tài để giáo dục phát triển đúng hướng và có hiệu quả.
Điểm lại trong hơn 20 năm đổi mới, giáo dục đã đạt được những thành
tựu đáng kể, tạo ra một xã hội học tập, phục vụ đắc lực cho đường lối đổi mới
kinh tế-xã hội của Đảng đề ra. Đảng và Nhà nước luôn coi “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu”, “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, tạo mọi điều
kiện để “Mọi người dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam
nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ
hội học tập". Tuy nhiên xét một cách tổng thể thì giáo dục của chúng ta còn 3
bộc lộ nhiều yếu kém, tụt hậu xa so với các nước phát triển. Các địa phương
trong đó có thành phố Hà Đông còn khó khăn, lúng túng trong việc chỉ đạo
công tác giáo dục. Đội ngũ giáo viên THCS còn nhiều bất cập, hiệu quả hoạt
động chưa cao, số giáo viên chưa đạt chuẩn còn đáng kể và trình độ còn chưa
đáp ứng được yêu cầu, hạn chế trong việc tiếp thu, cập nhật kiến thức mới,
nhiều giáo viên còn chưa tâm huyết với nghề, phương pháp dạy học còn lạc
hậu, không chịu đổi mới theo xu hướng phát triển xã hội, chưa có tầm nhìn
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo
viên trung học cơ sở ở thành phố Hà Đông, đề xuất biện pháp nhằm tăng
cường chất lượng công tác quản lý đội ngũ giáo viên trung học cơ sở ở thành
phố Hà Đông trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể: Đội ngũ giáo viên trung học cơ sở ở thành phố Hà Đông
trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng: Quản lý đội ngũ giáo viên trung học cơ sở thành phố Hà
Đông hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến công tác quản
lý đội ngũ giáo viên trung học cơ sở.
- Phân tích thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
ở thành phố Hà Đông.
- Đề xuất biện pháp quản lý nhằm tăng cường chất lượng dạy học của
đội ngũ giáo viên trung học cơ sở ở thành phố Hà Đông trong giai đoạn hiện
nay.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay hoạt động của đội ngũ giáo viên THCS ở thành phố Hà Đông
đã đóng góp nhiều cho sự phát triển của Thành phố, nhưng chất lượng chưa
cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi hiện nay của Thành phố. Nguyên
nhân chủ quan là do năng lực và trình độ còn yếu, giáo viên chưa thực sự tâm 5
huyết, dốc hết khả năng vào công việc, học tập để nâng cao trình độ mới chỉ
là gắn mác, chưa đi vào thực chất; Nguyên nhân khách quan do các tác động
từ xã hội, từ đồng lương quá thấp, từ sự quản lý của cấp trên còn thiếu thích
hợp.
7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và
phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến
phạm vi rộng lớn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu sự
quản lý nào đó. Như C.Mác nói: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay
lao động chung nào đó tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng
tác động đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực
hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể
sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một
người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng”.
Nhà khoa học quản lý người Mỹ F.W.Taylor cho rằng: “Quản lý là biết
được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ
đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Taylor đã nêu ra hệ
thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động sử dụng hợp
lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động.
Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H.Fayol thì cho rằng: “Quản lý
hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và
kiểm tra”.
Các giáo sư nghiên cứu người Mỹ Harold Knoontz, Cyril O‟donnell,
Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng:
“Quản lý bao hàm việc thiết kế một môi trường mà trong đó con người cùng
làm việc với nhau trong các nhóm để có thể thực hiện các mục tiêu”.
cân bằng động. Tức quản lý chính là quá trình giữ gìn sự ổn định để phát triển
và sự phát triển luôn tạo ra được thế ổn định của hệ.
Từ các cách tiếp cận trên ta thấy: Quản lý là tác động liên tục có hướng
đích, có tổ chức từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng hệ thống các 9
nguyên tắc, luật lệ, chính sách, phương pháp, biện pháp tạo điều kiện cho sự
phát triển đối tượng và uy tín của nhà quản lý.
Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận, đó là chủ thể quản lý (cá
nhân hay tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là
bộ phận chịu sự quản lý), đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp
và có tính bắt buộc.
Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với qui
luật khách quan.
1.1.2. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, đã
xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Có nhiều tác giả nghiên
cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, với cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên
cứu đã đưa ra khái niệm quản lý giáo dục như sau:
“Quản lý hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống,
có kế hoạch và định hướng của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả
các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường, các Sở GD&ĐT ) nhằm mục
đích đảm bảo việc giáo dục xã hội cũng như vận dụng các qui trình giáo
dục, của sự phát triển thể lực, tâm lực trẻ em, thiếu niên và thanh niên” [26]
“Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp
các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu
của xã hội hiện nay” [12]
“Quản lý giáo dục, quản lý trường học có thể là một chuỗi tác động hợp lý
(có mục đích, tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức sư phạm
- Đầu tư cho GD&ĐT, tổ chức và hướng dẫn quản lý ngân sách GD&ĐT
- Phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực GD&ĐT
- Xây dựng hệ thống thông tin quản lý GD&ĐT
- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát của nhà nước về GD&ĐT
Chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý giáo dục phụ thuộc một phần
rất quan trọng vào việc xác định đúng đắn và cụ thể mục tiêu quản lý. Trong
công tác giáo dục, mỗi loại mục tiêu (lớn – nhỏ, ngắn – dài, chung – riêng) 11
đều có vị trí nhất định và tầm quan trọng tất yếu của nó. Mối quan hệ giữa
chúng là mối quan hệ biện chứng giữa mục đích và phương tiện.
1.1.3. Các chức năng quản lý
Chức năng kế hoạch hoá: Là quan trọng nhất của việc lãnh đạo và lập kế
hoạch tức là soạn thảo và thông qua những quyết định quản lý quan trọng.
Chức năng tổ chức: Là hoạt động thực hiện kế hoạch bằng tổ chức. Đó
là hoạt động thực hiện các quyết định bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức
của đối tượng quản lý, xây dựng cấu trúc tổ chức của chủ thể quản lý, tạo
ra một mạng lưới quan hệ tổ chức, tuyển chọn sắp xếp, bồi dưỡng cán bộ
làm cho mục tiêu trở nên có ý nghĩa và góp phần tăng thêm tính hiệu quả
về mặt tổ chức.
Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực
lượng trong nhà trường tích cực hăng hái, chủ động làm việc theo sự phân
công và kế hoạch đã định.
Chức năng kiểm tra, đánh giá: Là chức năng có liên quan đến mọi cấp
quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống. Nó thực hiện
việc xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có sự
đánh giá đúng.
Các chức năng quản lý giáo dục tạo thành một hệ thống thống nhất với
một trình tự nhất định, trong quản lý giáo dục không được coi nhẹ một chức
quan niệm: “Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục,
họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả
năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục”.
“Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm
cán bộ quản lý, giáo viên và công nhân viên. Nếu chỉ đề cập đến đặc điểm
của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ quản lý
giáo dục” [12].
Từ những quan niệm trên, ta có thể hiểu đội ngũ giáo viên Trung học cơ
sở là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục, được tổ chức
thành một lực lượng có tổ chức, cùng chung một nhiệm vụ, cùng thực hiện
các mục tiêu giáo dục đề ra là giáo dục thế hệ học sinh THCS để học sinh 13
phát triển toàn diện cả trí - đức - thể - mỹ, có kiến thức phổ thông ban đầu để
chuẩn bị học lên THPT hoặc có thể trực tiếp tham gia vào quá trình lao động
sản xuất. Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật
chất và tinh thần trong khuôn khổ qui định của pháp luât, thể chế xã hội.
Đội ngũ giáo viên THCS nếu chỉ quan tâm đến đặc điểm của ngành thì
bao gồm: Những giáo viên trực tiếp giảng dạy, cán bộ quản lý của phòng giáo
dục, những cán bộ quản lý nhà trường bậc Trung học cơ sở.
1.1.6. Công tác quản lý đội ngũ giáo viên trung học cơ sở
1.1.6.1. Khái niệm
Hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể nào về quản lý đội ngũ giáo viên
THCS nói riêng và đội ngũ giáo viên nói chung, tuy nhiên qua nghiên cứu ta
có thể hiểu qua một số khái niệm như sau:
Quản lý giáo viên là một trong những nội dung hoạt động quản lý, điều
hành của nhà trường và là một trong các giải pháp quan trọng để xây dựng
nhà trường.
Quản lý giáo viên là quản lý trí thức, nhà quản lý phải nắm bắt được các
nâng cao.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, việc quản lý tốt đội ngũ giáo viên THCS
là rất cần thiết. Trong đề án của Chính phủ về xây dựng, nâng cao chất lượng
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010 đã chỉ rõ:
“Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục để
có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối về cơ cấu,
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục”[17]. Người quản lý cần phải xem xét, phân tích và
căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của nhà trường để có kế hoạch xây dựng đội
ngũ giáo viên cho phù hợp. Người quản lý đội ngũ giáo viên THCS phải thực
sự đổi mới trong cách nghĩ, cách làm, coi chất lƣợng giáo dục là mục tiêu
hàng đầu, đồng thời coi đội ngũ giáo viên là giải pháp chiến lƣợc đối với
sự trƣờng tồn của nhà trƣờng. Đội ngũ giáo viên phải được xây dựng đồng
bộ và bố trí đúng người, đúng việc. Những giáo viên cao tuổi, năng lực
chuyên môn yếu cần đề nghị các cấp quản lý bố trí cho nghỉ hưu hoặc chuyển 15
công tác khác theo yêu cầu nhiệm vụ. Bên cạnh đó có kế hoạch bổ sung
những giáo viên trẻ về công tác, hoặc tuyển chọn những giáo viên trẻ có
chuyên môn giỏi cử đi bồi dưỡng tập huấn, hoặc gửi đi đào tạo trên chuẩn ở
các trình độ.
Có thể khẳng định rằng xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên THCS
được tiến hành đồng bộ và nhất quán sẽ tạo được đội ngũ giáo viên chuẩn, ổn
định, đủ khả năng đảm nhiệm được chức năng nhiệm vụ của các nhà trường
trước mắt cũng như lâu dài, góp phần tạo đà cho sự phát triển ở địa phương.
1.1.6.3. Nội dung quản lý giáo viên
Công tác quản lý giáo viên là một hoạt động tổng hợp của nhiều quá trình,
nhiều phương diện trong hoạt động đa dạng của nhà trường. Có thể nêu ra
một số nội dung sau:
giáo dục có hệ thống thanh tra chuyên trách và bộ phận thường xuyên kiểm
tra nề nếp giảng dạy); Quản lý nội dung và phương pháp giảng dạy (Cùng với
hoạt động đổi mới nội dung của Bộ GD&ĐT thì hoạt động đổi mới phương
pháp dạy học là một trong những nội dung quan trọng của giáo viên. Các bộ
môn phải có lịch dự giờ thăm lớp, góp ý bài giảng, khuyến khích việc áp
dụng các phương tiện hiện đại và phương pháp tiên tiến vào giảng dạy, tổ
chức các giờ giảng mẫu, toạ đàm, thử nghiệm các phương pháp mới trong
giảng dạy).
- Quản lý về công tác hoạt động đảng, đoàn thể:
Nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi bộ Đảng, xây dựng chi bộ trong
sạch vững mạnh. Nâng cao vai trò của người đảng viên, phát huy hết khả
năng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Mục tiêu phấn đấu vào Đảng là một trong
những động lực nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, nâng cao chất lượng,
trình độ mọi mặt của giáo viên.
Chính vì vậy tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên phải tham gia tích
cực vào hoạt động quản lý giáo viên với tư cách là những hoạt động hỗ trợ
của đoàn thể quần chúng. 17
Công đoàn tham gia vào việc điều hoà các mối quan hệ, tổ chức dự giờ
thăm lớp, khuyến khích động viên cán bộ đăng ký tham gia viết sáng kiến
kinh nghiệm, đi học nâng cao trình độ.
Đoàn thanh niên tham gia tổ chức quản lý số giáo viên trẻ, nhanh chóng
tiếp cận với các tri thức hiện đại, cập nhật những vấn đề mới của giáo dục
hiện đại, trở thành các hạt nhân xung kích trong các mặt của nhà trường.
- Quản lý theo công tác thanh tra, kiểm tra:
Công tác điều hành, quản lý song song với công tác thanh tra, kiểm tra.
Thành lập các bộ phận chuyên trách, bán chuyên trách về thanh tra và ban
hành các qui định về thanh tra, kiểm tra để giám sát các hoạt động của nhà
bộ thước đo - một phương tiện trung gian để miêu tả những đặc tính cần có
của một sản phẩm hay dịch vụ.
Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với
các thông số hay tiêu chuẩn được qui định trước đó.
Trong giáo dục cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các trường muốn nâng
cao chất lượng giáo dục có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực
trong quá trình đào tạo nghiên cứu của trường mình và phấn đấu theo các tiêu
chuẩn đó.
Nhược điểm của cách tiếp cận này là nó không nêu rõ các tiêu chuẩn được
xây dựng trên cơ sở nào. Hơn nữa, thuật ngữ tiêu chuẩn cho ta ý niệm về một
mẫu hình tĩnh tại, nghĩa là một khi các thông số kỹ thuật đã được xác định thì
không phải xem xét lại chúng. Trong khi khoa học, kỹ thuật và công nghệ
đang có những bước tiến mới, tri thức loài người ngày càng phong phú thì
“tiêu chuẩn” của giáo dục với từng bậc không thể là một khái niệm tĩnh.
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng
Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường học.
Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng lao
động được đào tạo, phụ huynh học sinh…).
- Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng
đó khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn (TCVN ISO 1994)