Header Page 1 of 166.
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
NGUYễN QUỳNH HOA
BìNH ĐẳNG GIớI TRONG TIếP Cận đất
SảN XUấT ở VIệT NAM
Chuyên ngành: kinh tế phát triển
Mã số: 62 31 01 05
Ngời hớng dẫn khoa học: 1. GS.ts. Ngô Thắng Lợi
2.PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hơng
Hà nội, năm 2015
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoạn rằng, bản Luận án “Bình đẳng giới trong
việc tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc
lập, do chính tôi hoàn thành. Các số liệu, thông tin trong luận án đều
có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy và được trích dẫn theo đúng qui định về
khoa học. Các kết quả nghiên cứu của Luận án chưa từng được người
khác công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Tác giả là người
duy nhất chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung Luận án.
Viện Đào tạo Sau đại học- Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã hỗ trợ hiệu quả về
các thủ tục hành chính trong suốt quá trình học và bảo vệ Luận án.
Sự quan tâm, chia sẻ và động viên của các Thày, Cô và bạn bè đồng nghiệp.
Tác giả
Nguyễn Quỳnh Hoa
Footer Page 3 of 166.
Header Page 4 of 166.
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ.............................................................................vii
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Giới thiệu luận án .............................................................................................. 1
2. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu ................................................................... 2
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu ...................................................................... 4
3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ................................................................ 5
3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................. 9
4. Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu ................................................. 15
4.1. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 15
4.2. Câu hỏi nghiên cứu..................................................................................... 15
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 16
2.3.2. Mô hình hồi qui ....................................................................................... 57
2.4. Kết luận chương 2......................................................................................... 65
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TIẾP CẬN ĐẤT
SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM ..................................................................................... 66
3.1. Thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam....................................................... 66
3.1.1. Thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, y tế ......................... 67
3.1.2. Thực trạng bình đẳng giới trong việc làm và thu nhập ........................... 70
3.1.3. Thực trạng bình đẳng giới dưới góc độ tăng cường “tiếng nói” ............. 72
3.2. Thực trạng các yếu tố tác động tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản
xuất ở Việt Nam ................................................................................................... 75
3.2.1. Thực trạng các chính sách, pháp luật (thể chế chính thức) bảo đảm bình
đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam ............................................. 75
3.2.2. Thực trạng yếu tố văn hóa, phong tục tập quán (thể chế phi chính thức)
tác động tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất .................................... 81
3.2.3. Thực trạng thị trường đất sản xuất ở Việt Nam ...................................... 85
3.2.4. Đặc điểm hộ gia đình Việt Nam ảnh hưởng tới bình đẳng giới trong tiếp
cận đất sản xuất ................................................................................................. 87
Footer Page 5 of 166.
Header Page 6 of 166.
v
3.3. Thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam ........ 94
3.3.1. Bình đẳng giới về khả năng được sử dụng đất để sản xuất ..................... 94
3.3.2. Bình đẳng giới về khả năng sử dụng đất sản xuất để thu lợi ................ 109
3.4. Đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai ở Việt Nam ................... 122
3.4.1. Những khía cạnh tích cực và nguyên nhân ........................................... 122
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BTBDHMT : Bắc trung bộ và duyên hải Miền trung
DTTS
: Dân tộc thiểu số
ĐBSH
: Đồng bằng sông Hồng
ĐBSCL
: Đồng bằng sông Cửu Long
ĐNB
: Đông Nam Bộ
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GDP
: Tổng sản phẩm quốc nội
GDI
: Chỉ số phát triển giới
: Tây nguyên
TDMNPB
: Trung du và Miền núi trung du phía Bắc
Footer Page 7 of 166.
Header Page 8 of 166.
vii
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
1. Bảng
Bảng 1.1. Tổng hợp nội dung - tiêu chí - chỉ số đánh giá bình đẳng giới trong tiếp
cận đất sản xuất ......................................................................................................... 41
Bảng 1.2. Các yếu tố tác động tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất .......... 44
Bảng 2.1. Danh mục các biến sử dụng trong mô hình .............................................. 58
Bảng 2.2. Tóm tắt một số thống kê cơ bản về các biến trong mô hình..................... 60
Bảng 3.1: Bất bình đẳng giới ở Việt Nam qua các chỉ số đánh giá .......................... 66
Bảng 3.2: Tiền lương bình quân/tháng của lao động làm công ăn lương chia theo
giới tính và trình độ chuyên môn kỹ thuật, năm 2013 .............................................. 71
Bảng 3.3: Cơ cấu trình độ học vấn của chủ hộ (%) .................................................. 88
Bảng 3.4: Cơ cấu chủ hộ theo nhóm tuổi và tình trạng hôn nhân của chủ hộ (%) ... 89
Bảng 3.5: Qui mô hộ trung bình theo giới tính của chủ hộ chia theo thành thị nông
thôn, vùng và dân tộc, năm 2012 (người) ................................................................. 91
Bảng 3.6. Đặc điểm hộ gia đình ở các nhóm thu nhập năm 2012 theo giới tính của
chủ hộ (%) ................................................................................................................. 92
tuổi và giới tính, 1/4/2013 ......................................................................................... 69
Hình 3.3: Tỷ lệ nữ đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999 – 2004; 2004
– 2009 và 2011 - 2016 (%) ........................................................................................ 73
Hình 3.4: Tỷ lệ nữ lãnh đạo trong các Bộ và cơ quan tương đương (%) .................. 74
Hình 3.5. Tỷ lệ hộ gia đình chủ hộ nữ phân theo vùng kinh tế ................................. 83
Hình 3.6: Tỷ lệ các hộ gia đình theo quy mô đất sản xuất theo giới tính chủ hộ .. 111
Hình 3.7: Khoảng cách giới trong cơ cấu đầu vào của sản xuất nông nghiệp ........ 121
Footer Page 9 of 166.
Header Page 10 of 166.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu luận án
Luận án “Bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam” được
thực hiện với mục đích phân tích, đánh giá khía cạnh bình đẳng giới trong tiếp cận
đất với tư cách là một yếu tố nguồn lực sản xuất trực tiếp. Thông qua việc xây dựng
khung phân tích và sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định lượng với phương pháp
thống kê mô tả và mô hình hồi qui dựa trên số liệu thống kê qui mô lớn, mang tính
đại diện cho cả nước, luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng bình đẳng giới
trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam ở cả 2 góc độ là khả năng được sử dụng đất
để sản xuất và khả năng sử dụng đất sản xuất để thu lợi, từ đó đề xuất quan điểm
định hướng và các nhóm giải pháp để cải thiện vấn đề này trong thời gian tới.
Luận án được viết với tổng số trang là 151, trong đó ngoài phần mở đầu (18
trang), kết luận (3 trang), nội dung chính của luận án được trình bày theo 4 chương,
trong đó: Chương 1 (29 trang) bên cạnh việc tổng quan về bình đẳng giới, chương
này tập trung vào luận giải và làm rõ nội hàm, đề xuất các tiêu chí đánh giá và các
và quyền sử dụng đất của FAO đã chỉ ra rằng, tính trung bình, phụ nữ chiếm tới
43% lực lượng lao động trong khu vực nông nghiệp ở các nước đang phát triển,
trong khi đó chỉ có khoảng từ 5 - 30% những người có nắm giữ đất nông nghiệp là
phụ nữ. Không những có ít cơ hội hơn nam giới trong nắm giữ đất đai, ngay cả khi
có cơ hội nắm giữ đất đai thì diện tích đất nắm giữ của phụ nữ cũng nhỏ hơn so với
nam giới, thậm chí ở một số nước, diện tích đất của các hộ gia đình do nam giới làm
chủ hộ lớn gấp hơn 2 lần diện tích đất của các hộ gia đình do nữ giới làm chủ hộ
[71]. Việc vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận
đất sản xuất là một trong các nguyên nhân làm hạn chế cơ hội kinh tế của phụ nữ,
khiến năng suất trong sản xuất nông nghiệp của phụ nữ thấp hơn nam giới, từ đó tạo
ra khoảng cách giới về thu nhập. Không những tồn tại khá dai dẳng trong xã hội, bất
bình đẳng giới trong việc tiếp cận đất còn khiến cho các nỗ lực giảm nghèo của các
quốc gia bị hạn chế đi nhiều. Việc phụ nữ khó có thể tiếp cận với các quyền sở hữu
đất đai làm tăng 60% so với mức trung bình nguy cơ bị thiếu đói [90]. “Nếu được
trao quyền tiếp cận các nguồn lực bình đẳng với nam giới, phụ nữ ở các nước đang
phát triển có thể tăng sản lượng trên các thửa ruộng mà họ canh tác lên từ 20-30%
và nhờ đó giúp nâng tổng sản lượng nông nghiệp của các nước nghèo tăng lên từ
2,5 đến 4%. Sản lượng nông nghiệp tăng thêm đó có thể giúp làm giảm 12-17% số
người đói nghèo trên thế giới, tương đương từ 100 đến 150 triệu người”[71]. Bên
Footer Page 11 of 166.
Header Page 12 of 166.
3
cạnh đó, bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai còn tác động tới các khía cạnh phúc
lợi xã hội khác. Khi phụ nữ có quyền sử dụng đất bình đẳng với nam giới, họ có
nhiều khả năng hơn một cách đáng kể trong việc có tiếng nói quyết định trong gia
Header Page 13 of 166.
4
chưa được giải quyết triệt để thông qua các chính sách hiện hành, dẫn tới nội dung
này vẫn chưa được cải thiện nhiều. Kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm
2012 cho thấy, các hộ có chủ hộ nữ có tỷ lệ hộ không có đất cao hơn so với các hộ
do nam giới làm chủ hộ (16% so với 8% hộ có chủ hộ là nam giới), nếu có đất thì
diện tích đất cũng nhỏ hơn (diện tích đất nông nghiệp trung bình của các hộ gia đình
do nữ giới làm chủ hộ chỉ bằng 65% của các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ).
Bên cạnh đó tỷ lệ hộ gia đình có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả vợ
và chồng chỉ đạt 12,9% trong năm 2012, mặc dù đã tăng lên tương đối so với tỷ lệ
8,6% năm 2010 nhưng vẫn ở mức thấp so với khoảng thời gian gần 10 năm thực
hiện chính sách đất đai đảm bảo bình đẳng giới.
Những nhận định sơ bộ trên đây cho thấy: việc đứng trên góc độ về kinh tế
để nghiên cứu bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, cụ thể: (i) xây dựng khung
nghiên cứu, bao gồm nội hàm, tiêu chí đánh giá và xác định các nhân tố tác động
đến bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai; (ii) đánh giá một cách hệ thống khoa học
dưới góc độ kinh tế thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt
Nam hiện nay; (iii) tìm nguyên nhân khiến bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại và (iv)
đưa ra các chính sách giúp cải thiện được tình trạng này, là thực sự cần thiết. Đặc
biệt, trong giai đoạn tới, khi Việt Nam sẽ phải đương đầu với một loạt các vấn đề có
ảnh hưởng tới quá trình phát triển như: Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập vào nền
kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc, biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu và sự thay
đổi về chất trong phát triển kinh tế và giảm nghèo ở Việt Nam, việc nghiên cứu về
bình đẳng giới nói chung và trong lĩnh vực tiếp cận đất đai lại càng trở nên quan
trọng hơn trên các khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội.
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có thể khẳng định rằng, mối quan hệ giới trong các lĩnh vực đã tồn tại từ lâu
triển kinh tế; đánh giá thực trạng bất bình đẳng giới trên một số khía cạnh ở góc độ
quốc gia hoặc quốc tế; hoặc đi tìm các nhân tố tác động tới bình đẳng giới.
Ngân hàng thế giới (2001) với báo cáo “Đưa vấn đề giới vào phát triển:
thông qua sự bình đẳng giới về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói”, được coi là
nghiên cứu đầu tiên mang tính tổng hợp về vấn đề giới, chính sách công và sự phát
triển. Thừa hưởng kết quả của các nghiên cứu đa ngành về vấn đề giới có liên quan
đến sự phát triển như kinh tế, luật pháp, nhân khẩu học, xã hội học và các chuyên
ngành khác đã được thực hiện trước đó, báo cáo đã đưa ra khái niệm bình đẳng giới
là bình đẳng về luật pháp, về cơ hội (bao gồm cả sự bình đẳng trong thù lao công
việc và việc tiếp cận đến nguồn vốn con người và các nguồn lực sản xuất khác cho
phép mở ra các cơ hội này) và bình đẳng về “tiếng nói” (khả năng tác động và đóng
góp cho quá trình phát triển), đồng thời chỉ ra thực trạng phân biệt giới theo các
Footer Page 14 of 166.
Header Page 15 of 166.
6
khía cạnh đó trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt tập trung vào các nước đang phát
triển, cũng như cái giá phải trả cho vấn đề bất bình đẳng giới đối với phúc lợi của
con người cũng như quá trình phát triển. Báo cáo cũng chú trọng phân tích vai trò
của thể chế xã hội như tập quán và luật lệ, các thể chế kinh tế như thị trường; vai trò
của mối quan hệ quyền lực, nguồn lực và ra quyết định trong hộ gia đình; vai trò
của những thay đổi kinh tế và chính sách phát triển như những yếu tố giải thích cho
sự bất bình đẳng giới để từ đó giúp xác định các đòn bẩy chính sách hữu hiệu dể
thực đẩy sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới.
Trong Báo cáo phát triển con người châu Á Thái Bình Dương (UN, 2009),
Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) trong báo cáo phát triển con
quát, có rất nhiều nghiên cứu quốc tế tập trung vào các khía cạnh cụ thể của vấn đề
bình đẳng giới như bất bình đẳng giới trong giáo dục hay bất bình đẳng giới trong
lao động, việc làm. Với khía cạnh bất bình đẳng giới trong giáo dục, các nghiên cứu
cho thấy, ở các nước phát triển đang có xu hướng đổi chiều bất bình đẳng từ bất lợi
với trẻ em gái sang bất lợi đối với trẻ em trai ở tất cả các cấp học dưới góc độ tiếp
cận với giáo dục (Jerry A. Jacobs (1996); Claudia Buchmann, Thomas A. DiPrete,
và Anne McDaniel (2008); OECD (2011)), tuy nhiên ở các nước đang phát triển, trẻ
em gái vẫn bất lợi hơn so với trẻ em trai trong cả khía cạnh tiếp cận và kết quả học
tập (John Bauer, Wang Feng, Nancy E. Riley, Zhao Xiaohua, (1992);Vimala, R
(2008); OECD (2011)). Với khía cạnh lao động và việc làm, các nghiên cứu chỉ ra
rằng mặc dù sự tham gia của phụ nữ vào trong các hoạt động được trả lương ngày
càng tăng, tuy nhiên vẫn tồn tại bất bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực lao động
việc làm với lợi thế thuộc về nam giới (John Bauer, Wang Feng, Nancy E. Riley,
Zhao Xiaohua, (1992); Paul Boyle, Tom Cooke, Keith Halfacree, Darren Smith
(1999); David A. Cotter, Joan M. Hermsen, Reeve Vanneman (2004)...). Khi đánh
giá các nguyên nhân gây ra bất bình đẳng giới, hầu hết các nghiên cứu về các khía
cạnh nhỏ của vấn đề bất bình đẳng giới đều đề cập tới các yếu tố liên quan đến luật
pháp, quan điểm và chuẩn mực xã hội, các chính sách liên quan và đặc biệt là các yếu
tố liên quan đến các đặc điểm của cá nhân và hộ gia đình (John Bauer, Wang Feng,
Nancy E. Riley, Zhao Xiaohua, (1992); Paul Boyle, Tom Cooke, Keith Halfacree,
Darren Smith (1999); David A. Cotter, Joan M. Hermsen, Reeve Vanneman (2004);
Claudia Buchmann, Thomas A. DiPrete, và Anne McDaniel (2008)
3.1.2. Bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai
Đất đai là một yếu tố nguồn lực sản xuất, do đó nội dung đánh giá bình đẳng
giới trong tiếp cận đất đai được nghiên cứu cùng với các yếu tố nguồn lực khác như
vốn tín dụng hay tiếp cận thông tin. Các nghiên cứu ngoài nước, cho dù ở đánh giá
Footer Page 16 of 166.
thức (Mechthild Runger (2006)) ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận và kiểm soát đất
đai của phụ nữ. Mặc dù vậy, phần lớn các nghiên cứu này xem xét đất đai với tư
cách là tài sản của hộ gia đình mà chưa xem xét cụ thể đất đai dưới góc độ là nguồn
lực sản xuất. Thêm vào đó nếu nghiên cứu ở phạm vi quốc gia thì chỉ dừng ở việc
Footer Page 17 of 166.
Header Page 18 of 166.
9
mô tả dữ liệu cũng như sơ lược giải thích nguyên nhân trong bối cảnh phân tích so
sánh với các quốc gia khác mà chưa đi sâu vào phân tích vai trò cũng như cơ chế
tác động của các nguyên nhân đó, còn với các nghiên cứu đi sâu phân tích thực
trạng của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai thì cho dù là nghiên cứu
định tính hay định lượng, các nghiên cứu mới chỉ tập trung khai thác dữ liệu thông
qua các cuộc điều tra hay phỏng vấn với đối tượng hộ gia đình cụ thể, qui mô mẫu
nhỏ tập trung theo một vùng nhất định của các quốc gia ví dụ như quận Bunyala
của Kenya hay bang Abia thuộc Đông Nam Nigeria …và do đó các kết luận sẽ
không có tính đại diện quốc gia.
Tóm lại, các nghiên cứu ngoài nước cho dù xem xét dưới góc độ tổng quan,
mang tính lý thuyết, hay với các vấn đề cụ thể, đánh giá thực trạng trong các khía
cạnh của bình đẳng giới, đã cho thấy được một khung lý thuyết tương đối đồng
nhất về quan điểm trong đánh giá bất bình đẳng giới, các nguyên nhân gây ra bất
bình đẳng giới và tác động của vấn đề bất bình đẳng giới tới quá trình phát triển
kinh tế, đây chính là cơ sở tương đối vững chắc để có thể tiến hành đánh giá toàn
diện vấn đề bình đẳng giới và trong từng khía cạnh riêng lẻ để từ đó hoạch định
các chính sách đảm bảo bình đẳng giới. Tuy vậy, vấn đề giới là vấn đề chịu ảnh
hưởng rất lớn của yếu tố cấu trúc xã hội cũng như đặc trưng văn hóa, do đó các
2012); Chuỗi báo cáo của UNDP (2008) “Việt Nam tiếp tục thực hiện mục tiêu
thiên niên kỷ ” - trong đó có báo cáo Việt Nam thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ thứ
3; Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB, 2008) “Bình đẳng giới trong giáo dục,
việc làm và chăm sóc sức khỏe, nghiên cứu dựa vào số liệu điều tra mức sống hộ
gia đình Việt Nam 2006” hay nghiên cứu của Naila Kabeer, Trần Thị Vân Anh, Vũ
Mạnh Lợi (2005), “Chuẩn bị cho tương lai: Các chiến lược ưu tiên nhằm thúc đẩy
bình đẳng giới ở Việt Nam”. Các nghiên cứu tổng quan này với việc đánh giá bất
bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua các tiêu chí được đưa ra trong 2 chỉ số đánh
giá bình đẳng giới của UNDP là GDI và GEM về cơ bản đã (i) đánh giá thực trạng
bất bình đẳng giới trên nhiều phương diện như giáo dục, y tế, và lao động việc làm,
cũng như vị thế của phụ nữ Việt Nam trong các cơ quan quyền lực; và (ii) so sánh
được vị thế của Việt Nam trong khu vực và quốc tế về vấn đề bình đẳng giới. Tuy
nhiên, theo nhận định của tác giả, bên cạnh việc không đánh giá được hết các khía
cạnh của vấn đề bình đẳng giới, các nghiên cứu này mặc dù cũng đã có sự kết hợp
phương pháp đánh giá định tính và định lượng, các đánh giá dựa vào số liệu điều tra
mức sống hộ gia đình đều là các dữ liệu theo các kỳ điều tra cách thời điểm công bố
khá xa do đó đã bị lạc hậu khi bộ số liệu của các cuộc điều tra mới tiến hành được
công bố, đặc biệt việc sử dụng mô hình kinh tế lượng trong các nghiên cứu này rất ít
Footer Page 19 of 166.
Header Page 20 of 166.
11
được sử dụng. Mặt khác, các nghiên cứu tổng quan này cũng chưa chỉ ra các căn
nguyên sâu xa của vấn đề bất bình đẳng giới để từ đó đề xuất các chính sách mang
tính tổng thể nhưng hiệu quả.
Bên cạnh những nghiên cứu mang tính tổng quan, có rất nhiều các nghiên
12
(CIEM) hợp tác với Trường Đại học Cô-pen-ha-gen, Viện Chính sách và Chiến
lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (IPSARD) và Viện Khoa học Lao động
và Xã hội (ILSSA) thực hiện đã chỉ ra được thực trạng việc tiếp cận các yếu tố
nguồn lực sản xuất: nhân lực, vốn vật chất, tài chính và vốn xã hội của các hộ gia
đình nông thôn Việt Nam ở góc độ tổng thể, cũng như theo các phân nhóm như
nhóm thu nhập, vùng và đặc biệt đề cập đến sự chênh lệch theo giới. Tuy nhiên
ngoài việc đưa ra được kết quả dưới dạng dữ liệu và mô tả tổng quát dữ liệu thực
hiện theo thời gian, chuỗi báo cáo kết quả này không cho thấy được các nội dung
phân tích thực trạng cũng như định hướng chính sách liên quan đến vấn đề đặt ra cả
trên góc độ tổng thể và theo giới. Mới đây nhất có nghiên cứu của nhóm nghiên cứu
UNDP (2013) về “Tiếp cận đất đai của phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện nay”,
bằng việc sử dụng cách tiếp cận liên ngành, kết hợp với các công cụ nghiên cứu của
sử học, nhân học và xã hội học, thông qua điều tra bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu,
nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiện nay phụ nữ không tiếp cận đất bình đẳng với nam
giới và có 6 rào cản đối với quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ gồm có luật hiện
hành; thực hành dòng họ; tổ hòa giải; thực hành di chúc và chúc thư; tiếp cận với
dịch vụ pháp lý và các thái độ về giới vốn thường ưu tiên nam giới. Mặc dù đưa ra
được bức tranh chi tiết về thực trạng tiếp cận đất đai của phụ nữ Việt Nam hiện nay
dưới góc độ phân tích theo giới tính của chủ hộ, song nghiên cứu này chủ yếu xem
xét đất đai dưới góc độ là tài sản của hộ gia đình, do đó trong nghiên cứu chủ yếu
phân tích các nội dung tiếp cận liên quan đến đất ở của các hộ. Ngoài ra, các kết quả
nghiên cứu được đưa ra dựa số liệu điều tra với quy mô mẫu nhỏ kết hợp với kết
quả phỏng vấn sâu bên cạnh ưu điểm là đưa ra được những phân tích nhận định sâu,
cũng gặp phải vấn đề về tính đại diện mang tính phổ quát chung của cả nước
(nghiên cứu được tiến hành trên các địa phương sau: Hà Nội (huyện Quốc Oai và
Từ Liêm), thành phố Hồ Chí Minh (huyện Hóc Môn và quận Bình Thạnh), và Đà
Nẵng (quận Hải Châu và Sơn Trà),Lâm Đồng (huyện Đức Trọng và Lạc Dương),
Về phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính (thảo luận
nhóm, phỏng vấn sâu) và phương pháp phân tích thống kê mô tả, hầu như có rất ít
nghiên cứu sử dụng mô hình hồi qui kinh tế lượng để phân tích, nếu có cũng chỉ dựa
trên số liệu điều tra với giới hạn đối tượng điều tra trong phạm vi nhỏ.
Các kết quả nghiên cứu đã đạt được:
- Đưa ra được khung lý thuyết phân tích vấn đề bất bình đẳng giới dưới góc
độ kinh tế
Footer Page 22 of 166.
Header Page 23 of 166.
14
- Đánh giá thực trạng tiếp cận đất đai của phụ nữ theo đó phụ nữ yếu thế hơn
nam giới trong tiếp cận đất đai dưới các góc độ quyền/ cơ hội sử dụng đất, nguồn
gốc đất và quy mô đất đai nắm giữ
- Chỉ ra được các nguyên nhân của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận
đất đai từ cả phía chính phủ (luật pháp và quá trình thực thi luật pháp…), từ phong
tục tập quán, đặc điểm kinh tế hộ gia đình và cả những rào cản trên thị trường.
- Đưa ra một số chính sách để nâng cao khả năng tiếp cận đất của phụ nữ
Hạn chế và khoảng trống cho nghiên cứu của luận án:
- Về phạm vi nghiên cứu: Hầu hết các nghiên cứu về bình đẳng giới trong
tiếp cận đất đai đều là các nghiên cứu ngoài nước do đó bối cảnh chính sách rất
khác so với Việt Nam.
- Nội dung nghiên cứu:
• Các nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu nghiên cứu tiếp cận đất đai
của phụ nữ và xem việc tăng cường khả năng tiếp cận đất của phụ nữ là
Các mục đích nghiên cứu cụ thể bao gồm:
(i) Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bất bình đẳng
giới trong tiếp cận đất đai, xây dựng khung phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận
đất sản xuất
(ii) Trên cơ sở khung phân tích, đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong tiếp
cận đất đai dưới góc độ là một yếu tố nguồn lực sản xuất ở Việt Nam
(iii) Phân tích các nguyên nhân tác động tới hiện trạng bất bình đẳng giới
trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam
(iv) Đề xuất các chính sách nhằm thực hiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất
sản xuất – một trong các nguồn lực sản xuất quan trọng ở Việt Nam.
4.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, các câu hỏi nghiên cứu cụ thể của luận
án là:
(1) Quan điểm thế nào là bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai dưới góc độ là
một yếu tố nguồn lực sản xuất?
(2) Nội dung và các tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản
xuất là gì?
(3) Những yếu tố nào ảnh hưởng tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất?
(4) Việt Nam hiện nay có bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất hay không?
(5) Biểu hiện của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt
Nam hiện nay như thế nào?
Footer Page 24 of 166.
Header Page 25 of 166.
16
cả 2 góc độ là khả năng được sử dụng đất để sản xuất và khả năng sử dụng đất sản
xuất để thu lợi.
Footer Page 25 of 166.