Tiểu luận về bình đẳng giới về tiếp cận đất trong sản xuất ở việt nam - Pdf 35

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu luận án
Luận án “Bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam” được
thực hiện với mục đích phân tích, đánh giá khía cạnh bình đẳng giới trong tiếp cận
đất với tư cách là một yếu tố nguồn lực sản xuất trực tiếp. Thông qua việc xây dựng
khung phân tích và sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định lượng với phương pháp
thống kê mô tả và mô hình hồi qui dựa trên số liệu thống kê qui mô lớn, mang tính
đại diện cho cả nước, luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng bình đẳng giới
trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam ở cả 2 góc độ là khả năng được sử dụng đất
để sản xuất và khả năng sử dụng đất sản xuất để thu lợi, từ đó đề xuất quan điểm
định hướng và các nhóm giải pháp để cải thiện vấn đề này trong thời gian tới.
Luận án được viết với tổng số trang là 151, trong đó ngoài phần mở đầu (18
trang), kết luận (3 trang), nội dung chính của luận án được trình bày theo 4 chương,
trong đó: Chương 1 (29 trang) bên cạnh việc tổng quan về bình đẳng giới, chương
này tập trung vào luận giải và làm rõ nội hàm, đề xuất các tiêu chí đánh giá và các
yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất; chương 2 (18
trang) trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đạt được mục tiêu
nghiên cứu, các nguồn số liệu được sử dụng và mô tả chi tiết phương pháp phân tích
dữ liệu; Chương 3 (63 trang) tập trung phân tích thực trạng bình đẳng giới trong tiếp
cận đất sản xuất, đồng thời chỉ ra những kết quả đạt được và những mặt còn tồn tại
và nguyên nhân của thực trạng này ở Việt Nam; Chương 4 (20 trang) đưa ra các
quan điểm định hướng và khuyến nghị chính sách cải thiện bình đẳng giới trong tiếp
cận đất sản xuất ở Việt Nam.
Luận án được thực hiện thông qua tham khảo 112 tài liệu (gồm 46 tài liệu
tiếng Việt và 66 tài liệu bằng tiếng Anh). Luận án được minh họa bằng 20 bảng số
liệu, 8 hình vẽ và phần phụ lục (47 trang, chia thành 4 phụ lục với 25 bảng trình bày
kết quả định lượng).



người đói nghèo trên thế giới, tương đương từ 100 đến 150 triệu người”[71]. Bên


3

cạnh đó, bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai còn tác động tới các khía cạnh phúc
lợi xã hội khác. Khi phụ nữ có quyền sử dụng đất bình đẳng với nam giới, họ có
nhiều khả năng hơn một cách đáng kể trong việc có tiếng nói quyết định trong gia
đình [83], và các bằng chứng từ các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh đều
chỉ ra rằng, khi người phụ nữ có tiếng nói quyết định nhiều hơn, thu nhập của hộ gia
đình sẽ dành chi tiêu nhiều hơn cho thực phẩm, quần áo, chăm sóc sức khỏe và giáo
dục của con cái, điều này sẽ góp phần gia tăng các chỉ số về sức khỏe, dinh dưỡng
và giáo dục của nền kinh tế, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế [71].
Cũng như xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới, Việt Nam với
những nỗ lực của mình trong hơn 2 thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu to lớn
trong khía cạnh tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ và những
thành tựu này được cộng đồng quốc tế công nhận. Theo báo cáo phát triển con
người năm 2011, Việt Nam đứng thứ 128/187 quốc gia và vùng lãnh thổ, mức trung
bình trên thế giới về chỉ số phát triển con người (HDI), nhưng xếp hạng 48 về chỉ
số phát triển giới (GII).
Việt Nam thực sự đã có những bước tiến đáng kể trong phát triển kinh tế xã
hội kể từ sau đổi mới. Tuy vậy, trong điều kiện hiện nay, Việt Nam: (i) vẫn là một
quốc gia phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp; (ii) tình trạng nghèo vẫn còn chiếm
một tỷ lệ tương đối cao; (iii) đất đai là yếu tố nguồn lực quan trọng nhất đối với sản
xuất nông nghiệp, và (iv) phụ nữ lại là lực lượng lao động quan trọng trong sản xuất
nông nghiệp, thì việc bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai sẽ có ý nghĩa
quan trọng không phải chỉ ở góc độ xã hội mà nó còn có ý nghĩa quan trọng về kinh
tế: góp phần gia tăng khả năng cải thiện năng suất trong nông nghiệp, bảo đảm an
ninh lương thực, giúp giảm nghèo bền vững.
Nhận thức được điều này, trong thời gian vừa qua, Chính phủ đã có một số

trọng hơn trên các khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội.

3. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có thể khẳng định rằng, mối quan hệ giới trong các lĩnh vực đã tồn tại từ lâu
trong xã hội và trong vòng 2 thập kỷ trở lại đây nó trở thành vấn đề được thảo luận
sôi nổi trong các diễn đàn và chương trình nghị sự về phát triển. Chính vì vậy, có rất
nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước bàn về vấn đề này, nhưng trong đó có
một phần tương đối lớn các công trình về Giới lại bàn về vấn đề phụ nữ và vai trò


5

của phụ nữ trong các mặt đời sống xã hội dưới góc độ của một môn khoa học xã hội
về phụ nữ, và do đó tính gắn kết vấn đề giới với phát triển kinh tế của các vấn đề
này hầu như không có, do đó tác giả sẽ không đi vào tổng quan các nghiên cứu này.
Phần còn lại, với các công trình có tính gắn kết giữa vấn đề Giới và phát triển, sẽ là
các nghiên cứu mà tác giả tập trung để đánh giá. Tuy nhiên, trong phần đánh giá
tổng quan của mình, tác giả chỉ tập trung vào các nghiên cứu (lý thuyết và thực tiễn)
trong và ngoài nước có mang tính điển hình cao – thể hiện ở phạm vi ảnh hưởng của
các nghiên cứu trong các diễn đàn hoặc khi nhắc đến vấn đề giới, các nhà học giả
trong và ngoài nước sẽ nhắc đến. Còn các nghiên cứu khác quá nhỏ lẻ, thì không
thuộc nội dung được đề cập ở đây

3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
3.1.1 Về bình đẳng giới
Bình đẳng giới là vấn đề trung tâm của phát triển, bản thân nó là một mục
tiêu của quá trình phát triển do đó có rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển
bàn về vấn đề này. Các nghiên cứu này thường tập trung vào việc đưa ra định nghĩa
hay quan niệm về bình đẳng giới, đưa ra các tiêu chí đánh giá bất bình đẳng giới
theo các khía cạnh; đánh giá mối quan hệ giữa bình đẳng giới và tăng trưởng, phát

trình hoàn thiện thể chế về mặt luật pháp đảm bảo bình đẳng giới đã được thực hiện
rộng khắp nhất là ở các nước đang phát triển, do đó trong nghiên cứu gần đây nhất
của Ngân hàng thế giới (2011), báo cáo phát triển thế giới 2012 với chủ đề “Bình
đẳng giới và phát triển”, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó của Ngân hàng
thế giới liên quan đến chủ đề giới, đã tập trung đánh giá bình đẳng giới được xem
xét theo 3 khía cạnh: sự tích tụ năng lực (sức khỏe, học hành, tài sản vật chất); việc
sử dụng năng lực để nắm bắt các cơ hội kinh tế và tạo thu nhập; và việc sử dụng các
năng lực được tích tụ đó để tác động đến quyền lợi của cá nhân và hộ gia đình. Báo
cáo đánh giá những bước tiến trong các khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, đồng
thời cũng chỉ ra những khía cạnh bất bình đẳng giới còn tồn tại dai dẳng, từ đó lựa
chọn chính sách tập trung giải quyết nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất bình đẳng
giới trong các lĩnh vực ưu tiên.
Trên cơ sở báo cáo phát triển thế giới 2012, Ngân hàng thế giới khu vực
Đông Á và Thái Bình Dương (WB, 2012) đã nghiên cứu chi tiết các khía cạnh bất
bình đẳng giới được đặt ra trong báo cáo phát triển thế giới trong bối cảnh của khu


7

vực Đông Á và Thái Bình Dương từ đó đưa ra cơ sở hoạch định chính sách hướng
tới bình đẳng giới mang tính đặc trưng cho khu vực này.
Bên cạnh các nghiên cứu đánh giá thực trạng bình đẳng giới một cách tổng
quát, có rất nhiều nghiên cứu quốc tế tập trung vào các khía cạnh cụ thể của vấn đề
bình đẳng giới như bất bình đẳng giới trong giáo dục hay bất bình đẳng giới trong
lao động, việc làm. Với khía cạnh bất bình đẳng giới trong giáo dục, các nghiên cứu
cho thấy, ở các nước phát triển đang có xu hướng đổi chiều bất bình đẳng từ bất lợi
với trẻ em gái sang bất lợi đối với trẻ em trai ở tất cả các cấp học dưới góc độ tiếp
cận với giáo dục (Jerry A. Jacobs (1996); Claudia Buchmann, Thomas A. DiPrete,
và Anne McDaniel (2008); OECD (2011)), tuy nhiên ở các nước đang phát triển, trẻ
em gái vẫn bất lợi hơn so với trẻ em trai trong cả khía cạnh tiếp cận và kết quả học

nhân,... các nghiên cứu trên cũng đưa ra ngụ ý chính sách nhằm tăng cường khả
năng tiếp cận nguồn lực cho phụ nữ. Mặc dù vậy các nghiên cứu chưa chỉ ra được
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động để từ đó đưa ra các lựa chọn ưu tiên về
mặt chính sách.
Bên cạnh các nghiên cứu bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực sản xuất
chung, có tương đối nhiều các nghiên cứu đề cập tới bình đẳng giới trong tiếp cận
yếu tố đất đai. Các nghiên cứu của Eve Crowley (1999); Linus Blom (2006);
Nichols, S.; Crowley, E. and Komjathy, K. (1999); Carmen Diana Deere,
Magdalena Leon (2003); Mechthild Runger (2006); Jagero, N et.al (2011); Nitya
Rao (2011); Cheryl Doss et.al (2013); Henri – Ukoha, A. et al. (2014), với việc sử
dụng phương pháp nghiên cứu định tính hay định lượng hoặc kết hợp cả hai, tất cả
đều chỉ ra thực tế có tồn tại vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất, theo đó phụ
nữ có ít khả năng tiếp cận và kiểm soát đất đai hơn nam giới, và nếu có thể tiếp cận
với đất đai thì các mảnh đất cũng có diện tích nhỏ hơn và chất lượng thấp hơn. Các
nghiên cứu trên cũng cho thấy tác động của các quan điểm truyền thống “trọng nam
khinh nữ” trong trao quyền, kiểm soát và thừa kế đất đai (Jagero, N et.al (2011), các
đặc điểm nhân khẩu học của phụ nữ như trình độ học vấn, tuổi, tình trạng hôn nhân
của phụ nữ... (Henri – Ukoha, A. et al. (2014)) hay các yếu tố gắn với thể chế chính
thức (Mechthild Runger (2006)) ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận và kiểm soát đất
đai của phụ nữ. Mặc dù vậy, phần lớn các nghiên cứu này xem xét đất đai với tư
cách là tài sản của hộ gia đình mà chưa xem xét cụ thể đất đai dưới góc độ là nguồn
lực sản xuất. Thêm vào đó nếu nghiên cứu ở phạm vi quốc gia thì chỉ dừng ở việc


9

mô tả dữ liệu cũng như sơ lược giải thích nguyên nhân trong bối cảnh phân tích so
sánh với các quốc gia khác mà chưa đi sâu vào phân tích vai trò cũng như cơ chế
tác động của các nguyên nhân đó, còn với các nghiên cứu đi sâu phân tích thực
trạng của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai thì cho dù là nghiên cứu

đề giới đó là nghiên cứu của Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ thực hiện với
tên gọi “Phân tích tình hình và đề xuất chính sách nhằm tăng cường tiến bộ của phụ
nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam”(2004) trong đó đề cập tới thực trạng cũng như
các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp chính sách của 4 khía cạnh của vấn đề bình
đẳng giới, đó là vấn đề giới trong việc làm và địa vị kinh tế; giáo dục và phát triển
nguồn nhân lực; sức khỏe và an toàn; và tham gia lãnh đạo và hoạt động chính trị.
Tiếp theo nghiên cứu đó, đã có một số công trình khác cũng nhằm đánh giá tổng
quan thực trạng vấn đề bình đẳng giới, từ đó đưa ra một số khuyến nghị chính sách
như Báo cáo thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam (2005, 2010); “Đánh
giá tình hình Giới ở Việt Nam”(WB, 2006); “Đánh giá Giới ở Việt Nam” (WB,
2012); Chuỗi báo cáo của UNDP (2008) “Việt Nam tiếp tục thực hiện mục tiêu
thiên niên kỷ ” - trong đó có báo cáo Việt Nam thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ thứ
3; Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB, 2008) “Bình đẳng giới trong giáo dục,
việc làm và chăm sóc sức khỏe, nghiên cứu dựa vào số liệu điều tra mức sống hộ
gia đình Việt Nam 2006” hay nghiên cứu của Naila Kabeer, Trần Thị Vân Anh, Vũ
Mạnh Lợi (2005), “Chuẩn bị cho tương lai: Các chiến lược ưu tiên nhằm thúc đẩy
bình đẳng giới ở Việt Nam”. Các nghiên cứu tổng quan này với việc đánh giá bất
bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua các tiêu chí được đưa ra trong 2 chỉ số đánh
giá bình đẳng giới của UNDP là GDI và GEM về cơ bản đã (i) đánh giá thực trạng
bất bình đẳng giới trên nhiều phương diện như giáo dục, y tế, và lao động việc làm,
cũng như vị thế của phụ nữ Việt Nam trong các cơ quan quyền lực; và (ii) so sánh
được vị thế của Việt Nam trong khu vực và quốc tế về vấn đề bình đẳng giới. Tuy
nhiên, theo nhận định của tác giả, bên cạnh việc không đánh giá được hết các khía
cạnh của vấn đề bình đẳng giới, các nghiên cứu này mặc dù cũng đã có sự kết hợp
phương pháp đánh giá định tính và định lượng, các đánh giá dựa vào số liệu điều tra
mức sống hộ gia đình đều là các dữ liệu theo các kỳ điều tra cách thời điểm công bố
khá xa do đó đã bị lạc hậu khi bộ số liệu của các cuộc điều tra mới tiến hành được
công bố, đặc biệt việc sử dụng mô hình kinh tế lượng trong các nghiên cứu này rất ít



tra hộ gia đình nông thôn 2002 - 2012 do Viện Quản lý Kinh tế Trung Ương


12

(CIEM) hợp tác với Trường Đại học Cô-pen-ha-gen, Viện Chính sách và Chiến
lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (IPSARD) và Viện Khoa học Lao động
và Xã hội (ILSSA) thực hiện đã chỉ ra được thực trạng việc tiếp cận các yếu tố
nguồn lực sản xuất: nhân lực, vốn vật chất, tài chính và vốn xã hội của các hộ gia
đình nông thôn Việt Nam ở góc độ tổng thể, cũng như theo các phân nhóm như
nhóm thu nhập, vùng và đặc biệt đề cập đến sự chênh lệch theo giới. Tuy nhiên
ngoài việc đưa ra được kết quả dưới dạng dữ liệu và mô tả tổng quát dữ liệu thực
hiện theo thời gian, chuỗi báo cáo kết quả này không cho thấy được các nội dung
phân tích thực trạng cũng như định hướng chính sách liên quan đến vấn đề đặt ra cả
trên góc độ tổng thể và theo giới. Mới đây nhất có nghiên cứu của nhóm nghiên cứu
UNDP (2013) về “Tiếp cận đất đai của phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện nay”,
bằng việc sử dụng cách tiếp cận liên ngành, kết hợp với các công cụ nghiên cứu của
sử học, nhân học và xã hội học, thông qua điều tra bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu,
nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiện nay phụ nữ không tiếp cận đất bình đẳng với nam
giới và có 6 rào cản đối với quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ gồm có luật hiện
hành; thực hành dòng họ; tổ hòa giải; thực hành di chúc và chúc thư; tiếp cận với
dịch vụ pháp lý và các thái độ về giới vốn thường ưu tiên nam giới. Mặc dù đưa ra
được bức tranh chi tiết về thực trạng tiếp cận đất đai của phụ nữ Việt Nam hiện nay
dưới góc độ phân tích theo giới tính của chủ hộ, song nghiên cứu này chủ yếu xem
xét đất đai dưới góc độ là tài sản của hộ gia đình, do đó trong nghiên cứu chủ yếu
phân tích các nội dung tiếp cận liên quan đến đất ở của các hộ. Ngoài ra, các kết quả
nghiên cứu được đưa ra dựa số liệu điều tra với quy mô mẫu nhỏ kết hợp với kết
quả phỏng vấn sâu bên cạnh ưu điểm là đưa ra được những phân tích nhận định sâu,
cũng gặp phải vấn đề về tính đại diện mang tính phổ quát chung của cả nước
(nghiên cứu được tiến hành trên các địa phương sau: Hà Nội (huyện Quốc Oai và

nhóm, phỏng vấn sâu) và phương pháp phân tích thống kê mô tả, hầu như có rất ít
nghiên cứu sử dụng mô hình hồi qui kinh tế lượng để phân tích, nếu có cũng chỉ dựa
trên số liệu điều tra với giới hạn đối tượng điều tra trong phạm vi nhỏ.
Các kết quả nghiên cứu đã đạt được:
- Đưa ra được khung lý thuyết phân tích vấn đề bất bình đẳng giới dưới góc
độ kinh tế


14

- Đánh giá thực trạng tiếp cận đất đai của phụ nữ theo đó phụ nữ yếu thế hơn
nam giới trong tiếp cận đất đai dưới các góc độ quyền/ cơ hội sử dụng đất, nguồn
gốc đất và quy mô đất đai nắm giữ
- Chỉ ra được các nguyên nhân của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận
đất đai từ cả phía chính phủ (luật pháp và quá trình thực thi luật pháp…), từ phong
tục tập quán, đặc điểm kinh tế hộ gia đình và cả những rào cản trên thị trường.
- Đưa ra một số chính sách để nâng cao khả năng tiếp cận đất của phụ nữ
Hạn chế và khoảng trống cho nghiên cứu của luận án:
- Về phạm vi nghiên cứu: Hầu hết các nghiên cứu về bình đẳng giới trong
tiếp cận đất đai đều là các nghiên cứu ngoài nước do đó bối cảnh chính sách rất
khác so với Việt Nam.
- Nội dung nghiên cứu:
• Các nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu nghiên cứu tiếp cận đất đai
của phụ nữ và xem việc tăng cường khả năng tiếp cận đất của phụ nữ là
tăng cường bình đẳng giới.
• Đất đai chủ yếu được xem xét dưới góc độ là một tài sản chứ không phải
là một nguồn lực sản xuất, do đó các khía cạnh và tiêu chí đánh giá chưa
phản ánh được hết nội dung của tiếp cận đất với vai trò là nguồn lực sản
xuất trực tiếp.
- Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu:


4.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, các câu hỏi nghiên cứu cụ thể của luận
án là:
(1) Quan điểm thế nào là bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai dưới góc độ là
một yếu tố nguồn lực sản xuất?
(2) Nội dung và các tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản
xuất là gì?
(3) Những yếu tố nào ảnh hưởng tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất?
(4) Việt Nam hiện nay có bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất hay không?
(5) Biểu hiện của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt
Nam hiện nay như thế nào?


16

(6) Những nguyên nhân nào gây ra tình trạng bất bình đẳng giới trong tiếp
cận đất sản xuất ở Việt nam?
(7) Những chính sách nào cần hoàn thiện để thực hiện bình đẳng giới trong
tiếp cận đất sản xuất ở VN trong thời gian tới?

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản
xuất, cụ thể là quyền/ cơ hội ngang nhau trong khả năng sử dụng đất làm đầu vào
trực tiếp cho quá trình sản xuất giữa hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ và hộ gia
đình do nữ giới làm chủ hộ.
Dưới góc độ nghiên cứu của luận án, đất sản xuất là nguồn lực hữu hình,
không do sản xuất mà có, được sử dụng làm đầu vào trực tiếp sản xuất ra hàng hóa
và dịch vụ. Do đó, đất sản xuất đồng nghĩa với đất nông nghiệp trong phân loại đất

cận đất sản xuất ở Việt Nam (trước đây các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương
pháp định tính và phương pháp phân tích thống kê mô tả, hầu như có rất ít nghiên cứu
sử dụng mô hình hồi qui kinh tế lượng để phân tích, nếu có cũng chỉ dựa trên số liệu
điều tra với giới hạn đối tượng điều tra trong phạm vi nhỏ).
(iv) Với các mô hình hồi quy, bên cạnh phương pháp hồi quy Probit thông
thường, luận án sử dụng phương pháp hồi quy với thủ tục Heckman 2 bước để đảm
bảo tính không chệch và vững của các giá trị ước lượng. Ngoài ra Mô hình ước
lượng phân rã Oaxaca - Blinder cũng được sử dụng để giải thích sự khác biệt trong
tiếp cận đất sản xuất giữa hộ gia đình chủ hộ nam giới và chủ hộ nữ giới
- Về mặt thực tiễn:
Dựa vào dữ liệu thống kê có tính đại diện cho cả nước (số liệu điều tra mức
sống dân cư – VHLSS 2012) và bằng phương pháp phân tích định lượng, luận án
chỉ ra rằng:
(i) Trên phạm vi cả nước, có sự tồn tại bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất
sản xuất với lợi thế thuộc về các hộ gia đình có chủ hộ là nam giới trong cả 2 góc độ,
trong đó bất bình đẳng giới trầm trọng hơn trong khía cạnh sử dụng đất sản xuất để
thu lợi.
(ii) Sự khác biệt giới trong tiếp cận đất sản xuất có sự khác biệt theo vùng và
dân tộc: bất bình đẳng giới ở các vùng phía nam lớn hơn so với các vùng ở khu vực
phía bắc. Đặc biệt, ở vùng miền núi phía Bắc và nhóm dân tộc thiểu số có hiện


18

tượng bất bình đẳng giới “ngược” trong khía cạnh có đất sản xuất với bất lợi thuộc
về các hộ gia đình chủ hộ nam giới.
(iii) Trong các yếu tố tác động tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, các
yếu tố thuộc về phong tục tập quán, văn hóa, nhận thức (thể chế phi chính thức), cơ
chế chính sách (thể chế chính thức) và thị trường (các yếu tố bên ngoài) có tác động
lớn hơn so với các yếu tố thuộc về đặc điểm hộ gia đình (các yếu tố bên trong).

và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội (luật bình đẳng giới của Việt Nam, 2006).
Chính vì vậy, Giới là một thuật ngữ xã hội để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã
hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ [41]. Giới đề cập tới sự phân công
lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội
cụ thể. Giới được hình thành do học hỏi từ gia đình, nhà trường, giao tiếp xã hội, nó
khác nhau giữa các nước, các địa phương, thay đổi theo thời gian và quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Nói cách khác, khi đề cập tới mối quan hệ giới là nói đến cách
thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến các vấn đề thuộc về
thể chế, văn hóa và xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới
hay phụ nữ nào đó. Đây là một sản phẩm của sự suy luận mang đậm tính chất chủ
quan của con người từ sự khác biệt mang tính tự nhiên về mặt sinh học sang sự khác
biệt về mặt xã hội, văn hóa giữa phụ nữ và nam giới. Do đó, quan niệm về giới có
thể khác nhau tùy theo từng nền văn hóa có những phong tục tập quán riêng và có
thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của xã hội.
Với khái niệm giới được đề cập tới ở trên, có thể nhận thấy quan điểm về
giới gắn chặt với một phạm trù, đó là vai trò giới. Vai trò giới: Là tập hợp các hành


20

vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính
và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai
hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể nào đó [33]. Vai trò
giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội, phụ nữ và nam giới
thường có 3 vai trò giới như sau:
- Vai trò sản xuất là các hoạt động làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc dịch vụ
để tiêu dùng và trao đổi thương mại. Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, được
trả công. Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất,
tuy nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như
nhau và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau. Xã hội coi

không tương xứng về giới ở các mức độ khác nhau, đòi hỏi cần có sự can thiệp để
đảm bảo bình đẳng giới.

1.1.1.2. Bình đẳng giới
Xuất phát từ quan điểm về giới và vai trò về giới nói trên, bình đẳng giới
được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Atkinson. B (1975), đại diện cho trường phái kinh tế học phúc lợi, cho rằng,
bình đẳng giới là sự thụ hưởng phúc lợi như nhau giữa nam và nữ, trong đó ông
nhấn mạnh về vấn đề thu nhập.
Phê phán quan điểm này của trường phái kinh tế học phúc lợi, Amartya Sen
(Sen 1985, 1987, 1992, 1995, 1998) cho rằng vấn đề bất bình đẳng giới nên quan
tâm tới việc so sánh giữa hai giới về các vấn đề bên trong như chức năng hay năng
lực hơn là chỉ quan tâm tới mỗi vấn đề thụ hưởng phúc lợi: “vấn đề bất bình đẳng
giới cuối cùng chỉ là sự khác biệt về quyền tự do” [49, tr. 125].
Cách tiếp cận này có thể thấy là phù hợp nhất với quan điểm về phát triển kinh
tế đã được sử dụng rộng rãi, theo đó những hạn chế về lựa chọn được phản ánh trong
những hạn chế về quyền lợi và do đó nó được phát triển thành định nghĩa về bình
đẳng giới được đưa ra trong Công ước về xóa bỏ mọi loại hình thức phân biệt đối xử
với phụ nữ - CEDAW. Cụ thể, bình đẳng giới được định nghĩa là tình trạng (điều kiện
sống, sinh hoạt, làm việc...) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như
nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích
cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát
triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó [33].


22

Đồng nhất với quan điểm được đưa ra trong công ước quốc tế, Luật bình đẳng
giới của Việt Nam năm 2006 (chương 1, điều 5), định nghĩa “Bình đẳng giới là việc
nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực

số quyền của phụ nữ. Do đó, có thể nói rằng, cách tiếp cận này đã khôi phục những
khuôn mẫu giới mang tính bất lợi cho phụ nữ.
- Tiếp cận thực chất: Theo cách tiếp cận này, sự khác biệt về mặt giới và giới
tính giữa nam giới và phụ nữ được thừa nhận và xem xét để từ đó đưa ra các biện
pháp nhằm bảo đảm sự bình đẳng nam nữ trong cả pháp luật và trên thực tế, trong
đó trọng tâm là làm thay đổi những bối cảnh và điều kiện xã hội có tính chất bất lợi
cho giới yếu thế hơn.
Như vậy, bình đẳng giới không có nghĩa và không đòi hỏi sự bằng nhau về
số lượng nam và nữ trong tất cả các hoạt động, đồng thời nó cũng không có nghĩa
trong mọi trường hợp đối xử giống nhau giữa phụ nữ và nam giới [103]. Mục tiêu
cụ thể của cách tiếp cận này là tạo ra một môi trường mà trong đó phụ nữ được bình
đẳng với nam giới trên cả ba phương diện: (i) Cơ hội tiếp cận các hoạt động kinh tế
xã hội, tức là nam, nữ bình đẳng trong việc được trang bị các năng lực phát triển
con người (trí lực, thể lực,tài chính); (ii) Cơ hội sử dụng, tức là không có sự phân
biệt nam hay nữ trong việc sử dụng họ vào trong các hoạt động kinh tế - xã hội; (iii)
Hưởng thụ các kết quả hay lợi ích xã hội, tức là không có sự phân biệt nam hay nữ
trong quá trình phân chia các kết quả lao động. Thể hiện cao nhất của bình đẳng
giới là qua việc đánh giá ngang nhau tiếng nói của nam giới và nữ giới trong những
quyết định của gia đình và xã hội.
Với định nghĩa và cách tiếp cận thực chất về bình đẳng giới được nêu ra ở
trên, tác giả luận án cho rằng: bất bình đẳng giới tồn tại khi có sự khác biệt trong so
sánh tương quan về vai trò, vị trí và tiếng nói của nam và nữ giới. Giá trị gắn cho
vai trò của giới nam hoặc giới nữ được xã hội thừa nhận chính là cơ sở quyết định
khả năng tiếp cận tài sản và nguồn lực của gia đình và xã hội, cũng như tiếng nói
khác nhau của nam và nữ

1.1.2. Các khía cạnh của bình đẳng giới
Xuất phát từ cách tiếp cận thực chất trong vấn đề bình đẳng giới, Ngân hàng
thế giới (WB) trong nghiên cứu chính sách “Đưa vấn đề giới và phát triển” [41] đã
xem xét “bình đẳng giới theo nghĩa là bình đẳng về luật pháp, về cơ hội- bao gồm

trong các bộ máy điều hành của chính phủ.
Kể từ năm 2001, trên phạm vi toàn thế giới đã có những tiến bộ vượt bậc về
bình đẳng giới, đặc biệt, trong khía cạnh bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ và


25

nam giới theo luật pháp trong những lĩnh vực như sở hữu tài sản, thừa kế, hôn nhân,
khi đã có tổng cộng 136 nước trên thế giới hiện có quy định công khai bảo vệ quyền
bình đẳng giữa mọi công dân và chống phân biệt đối xử nam nữ trong hiến pháp
[109]. Do đó, trong nghiên cứu gần đây nhất của Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát
triển thế giới 2012, bình đẳng giới được tập trung xem xét theo 3 khía cạnh phúc lợi
chính, đây là các khía cạnh được xác định bởi cả nam giới và phụ nữ từ Ba Lan đến
Apganistan và Nam Phi cũng như bởi các nhà nghiên cứu [109], đó là: (i) sự tích tụ
năng lực của con người (nguồn vốn con người và nguồn lực sản xuất); (ii) sử dụng
năng lực đó để nắm bắt các cơ hội kinh tế và tạo thu nhập (việc tham gia và nhận
thu nhập từ nền kinh tế); và (iii) tính đại diện: việc sử dụng các năng lực tích lũy
được để tác động đến lợi ích của cá nhân và cộng đồng (tiếng nói và ảnh hưởng của
phụ nữ trong các lĩnh vực đời sống ở cấp độ cá nhân và cộng đồng).
Theo các khía cạnh đó, trong các nghiên cứu phân tích đánh giá về bình đẳng
giới thường tập trung vào các nội dung cụ thể sau:
(i) Sự tích tụ năng lực của con người: Đánh giá kết quả của giáo dục và y tế
theo tất cả các tiêu chí đối với cả nam và nữ; cơ hội tiếp cận các yếu tố
nguồn lực sản xuất như đất đai, tín dụng và các đầu vào cho sản xuất của
nam giới và phụ nữ
(ii) Nắm bắt cơ hội kinh tế: đánh giá khả năng tham gia vào thị trường lao
động và sự khác biệt trong tiền lương nhận được trong công việc giữa
nam giới và phụ nữ
(iii) Tính đại diện: Được xem xét dưới các góc độ cụ thể đó là sự khác biệt về
quyền ra quyết định của phụ nữ và nam giới thể hiện trong việc tham


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status