Tiểu luận Ứng dụng Công nghệ Thông tin xây dựng bài văn miêu tả con vật lớp 4 - Pdf 41

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
XÂY DỰNG TƯ LIỆU DẠY HỌC KIỂU
BÀI TẬP LÀM VĂN TẢ LOÀI VẬT LỚP 4

TIỂU LUẬN

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS Trịnh Cam Ly
GV kí xác nhận

Hà Nội, tháng 11 năm 2016

1


MỤC LỤC
Trang phụ bìa…………………………………………………………..
Lời cam đoan…………………………………………………………...
Lời cảm ơn……………………………………………………………...
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………….
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………...
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………...
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
1. Cơ sở lí luận
1.1 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi…………………………………….

4
5
6
7
7
7

8
9
10
10
11
13
13
14
15
16
17
17
18
18
18
19
20
21
21
22
23



Dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ lí luận và kinh nghiệm thực tiễn còn rất hạn
chế, bài nghiên cứu của tôi khó có thể tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp, chỉnh sửa của các thầy cô và các bạn sinh viên để bài tiểu luận
được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Sinh viên

Nguyễn Quốc Tuấn
4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tập làm văn là phân môn có tính thực hành tổng hợp, sáng tạo, thực hành và
mang đậm dấu ấn cá nhân. Trong chương trình Tiểu học, các bài làm văn gắn với một
chủ điểm riêng biệt. Quá trình thực hiện các kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết
đoạn là những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ đề đã học.
Việc tìm ý, lập dàn ý, chia đoạn của các bài kể chuyện, miêu tả,… góp phần phát triển
khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng
được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa khi miêu tả cảnh, tả
người, miêu tả đồ vật, con vật. Bên cạnh đó, học sinh còn huy động vốn sống, huy động
trí tưởng tượng để xây dựng cốt truyện.
Vốn sống và cảm xúc là hai yếu tố rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học nói
chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Nếu có một vốn kiến thức phong phú chắc
chắn học sinh đó sẽ có nhiều điều để viết, để nói trong bài tập làm văn của mình. Sự hòa
quyện với cảm xúc trong đó làm cho bài văn thêm sinh động và có hồn hơn. Tuy nhiên,
để có cả hai yếu tố này không phải chuyện dễ dàng. Hiện nay, phần lớn học sinh thành
phố rất thiếu vốn sống và cảm xúc để làm văn, đặc biệt là kiểu bài miêu tả. Do đó, trang
bị cho học sinh kiến thức và cảm xúc là điều rất cấp thiết mà người giáo viên cần làm

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Khảo sát chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, sách Giáo viên Tiếng Việt



lớp 4.
Tìm hiểu thực tiễn để nắm được những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi dạy
văn miêu tả con vật trong phân môn Tập làm văn lớp 4.

NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
1.1 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh lớp 4
6


Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em
tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt
một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc
sống cá nhân, gia đình. Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát
triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế
giới của mọi mối quan hệ. Quá trình nhận thức của các em có sự phát triển rõ ràng và cụ
thể:
Về tri giác: Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và
mang tính không ổn định. Ở đầu tuổi Tiểu học, tri giác thường gắn với hành động trực
quan. Đến cuối tuổi Tiểu học, tri giác bắt đầu mang tính cảm xúc, trẻ thích quan sát các
sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn. Do đó, khi các em được quan sát các con
vật một cách có bài bản, có hệ thống sẽ giúp các em có thể hoàn thành tốt bài viết của
mình.
Về ghi nhớ: Ở độ tuổi này, hai loại ghi nhớ đều phát triển mạnh. Lớp 1,2,3, học

Giáo dục học Tiểu học nhằm phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học
phát triển tư duy, sáng tạo cho học sinh. Không những vậy học sinh còn được giáo dục
tư tưởng, đạo đức, phát triển thẩm mĩ và lao động. Khi quan sát để làm một bài văn tả
loài vật, ta căn cứ trên các nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học như: nguyên tắc đảm
bảo tính khoa học và giáo dục của dạy học, nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ giữa tư duy
cụ thể và tư duy trừ tượng hay nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ giữa vai trò tự giác, tính
tích cực, độc lập của học sinh và vai trò chủ đạo của người dạy. Với mỗi bài dạy, tiết
dạy giáo viên lại có những phương pháp dạy học khác nhau để phù hợp với trình độ tiếp
thu của học sinh. Qua quan sát trảnh ảnh, vieo clip giáo viên đã áp dụng triệt để phương
pháp dạy học trực quan. Trực quan ở đây bên cạnh những thứ mà học sinh nhìn thấy,
người giáo viên cũng đã kết hợp “ trực quan lời nói” để hỗ trợ cho bài giảng của mình.
Chính vì vậy, có thể dễ dàng tác động đến giác quan của trẻ giúp học sinh nắm bài tốt
hơn.
8


1.3 Cơ sở văn học
Văn miêu tả con vật ở lớp 4 là kiểu bài mới trong phân môn Tập làm văn. Tuy
nhiên, các văn bản về con vật đã được SGK Tiếng Việt đưa vào khá nhiều trong các
phân môn Tập đọc, Kể chuyện hay chính tả. Ngay từ lớp 2, các em đã làm quen với cách
viết một đoạn văn nói về loài vật mà các em yêu thích. Sau đó, các em đã được học một
số các tác phẩm có liên quan đến các loài vật như: Bạn của nai nhỏ, Gọi bạn, Con sẻ,…
Qua những văn bản trên học sinh có thể nắm được cách thức thực hiện để miêu tả một
con vật sao cho phù hợp. Đó là những vốn kiến thức cơ bản giúp cho học sinh có thể biết
cách miêu tả một loài vật sao cho hợp lí và sinh động nhất.
1.4 Cơ sở ngôn ngữ học
Tri thức Tiếng Việt có quan hệ mật thiết với hoạt động viết một bài văn. Các bộ
phận của ngôn ngữ học ( bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách) có vai trò
thiết yếu trong việc xác định nội dung của bài Tập làm văn. Ở các lớp dưới các em đã
được củng cố rất nhiều về ngôn ngữ, diễn đạt, cách dùng từ, viết câu, sử dụng các biện

công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác… Nhiều học sinh ở
thành phố chưa hề được nhìn thấy con gà đang gáy, con trâu đang cày ruộng hay con
mèo bắt chuột. Một học sinh lớp 4 đã tả chú gà trống như sau: “Chú gà nhà bà em nặng
tới 6 kg. Sáng sớm chú nhảy tót lên đống rơm nhà bà gáy một hồi dài kéc…ke….ke….” .
Rõ ràng, đây là tiếng gáy của một chú trống choai chứ không phải tiếng gáy của một chú
gà trống nặng hơn 6 ki-lô-gam. Qua đó có thể thấy, khi làm bài, nhiều HS không hề nắm
được đặc điểm đối tượng mình đang tả và đã viết không chân thực. Do vậy bài văn khó
có thể truyền cảm hứng cho người đọc. Việc học tập trên lớp, vì thiếu tập trung và chưa
có phương pháp học nên cũng có những hạn chế nhất định. Có HS khi đọc đề bài lên,
không biết mình cần viết những gì và viết như thế nào, viết cái gì trước, cái gì sau,...
10


Như vậy có thể thấy rằng việc quan sát đối tượng miêu tả của học sinh là chưa tốt,
các em khó có cơ hội tiếp xúc với các loài vật một cách thường xuyên. Phần lớn, những
loài vật học sinh quan sát được là trên sách báo, trên Tivi hay do người thân miêu tả lại.
Trên lớp, giáo viên cũng chưa thật sự chỉnh chu trong việc soạn giáo án, bài giảng liên
quan đến kiểu bài tả con vật. Tất cả chỉ dừng lại ở việc cho học sinh quan sát tranh, ảnh
tĩnh. Như vậy học sinh khó có thể có vốn từ và cảm xúc để viết được một bài văn miêu
tả một con vật hay và hấp dẫn. Từ cơ sở lý luận và thực tế trên, để khắc phục những hạn
chế trong việc dạy và học Tập làm văn trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu tiểu
luận: “ Ứng dụng CNTT xây dựng tư liệu dạy học kiểu bài tập làm văn tả loài vật lớp
4”
Tiểu kết:
Ở chương này, tôi đã tôi đã tóm lược một số nét chính về cơ sở lí luận và thực tiễn
của đề tài. Đây sẽ là cơ sở để tôi có thể xây dựng cho mình những sản phẩm có sử dụng
CNTT, giúp học sinh có cái nhìn tổng quan nhất về những con vật gần gũi, thân thiết
với cuộc cuộc sống con người nói riêng và thế giới động vật nói chung.

CHƯƠNG 2

còn các nhà kiến trúc, các nhà thiết kế thời trang miêu tả ý tưởng của mình bằng những
hình vẽ, hình khối,…
Trong nghiên cứu khoa học, miêu tả không chỉ là một công việc phổ biến mà còn
trở nên bắt bắt buộc, bởi khoa học rất cần đến sự miêu tả khi dựng lại các đối tượng
nghiên cứu một cách cụ thể, khách quan, chân thực và chính xác trước khi khám phá bản
chất và quy luật hoạt động của chúng. Nhà sinh học miêu tả đặc điểm của các giống bò,
12


lợn, gà lai.; nhà dược học miêu tả các cây thuốc, vị thuốc; nhà ngôn ngữ học miêu tả
hoạt động của các từ ngữ trong đời sống giao tiếp; nhà tâm lí học mô tả biểu hiện của
các trạng thái tâm lí, trạn thái tinh thần,… Nói chung, miêu tả là công đoạn đầu tiên, bắt
buộc và hết sức cơ bản của quá trình nghiên cứu.[3; trang 6].
1.2.2 Miêu tả trong văn học
Miêu tả trong văn học ( văn miêu tả ) là một trong những hình thức miêu tả của
nghệ thuật. Văn miêu tả hoạt động dựa trên quy luật của cái đẹp. Nó không đặt ra nhiệm
vụ miêu tả sao cho thật chính xác, khách quan, càng tỉ mỉ càng tốt,… như cách miêu tả
trong khoa học. Trái lại người viết văn miêu tả phải lựa chọn được các chi tiết đặc sắc
sao cho với một số ít chi tiết đối tượng miêu tả phải được hiện lên một cách sinh động và
có hồn.
Khác với miêu tả trong các loại hình nghệ thuật khác, văn miêu tả sử dụng ngôn
từ làm chất liệu nên có những đặc điểm riêng biệt. Nếu như hội họa sử dụng các đường
nét, màu sắc,…; âm nhạc sử dụng âm thanh; điêu khắc sử dụng hình khối thì văn
chương lại sử dụng ngôn ngữ để miêu tả. Vì sử dụng ngôn ngữ nên “ bức tranh” miêu tả
mà người viết vẽ ra nên không thể được người đọc nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, sò
mó thấy,… một cách trực tiếp như các bức tranh, các bản nhạc hay các pho tượng. Tuy
nhiên trong văn miêu tả từ ngữ cũng có thể gợi ra tất cả các biểu hiện vật chất của đối
tượng một cách cụ thể và sinh động. Một dáng điệu “ thướt tha” của thiếu nữ, một đám
mây trôi “ lững lờ”, một động tác “ nhanh như cắt”,…
Có thể nói, chất liệu của ngôn từ nghệ thuật có khả năng tạo dựng hình tượng văn

cách chân thực và sinh động như đang ở ngay trước mắt người đọc, người nghe.
Đặc điểm thứ ba của văn miêu tả là ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh.
Chỉ có như vậy ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn đạt cảm xúc của người viết, vẽ
14


được sinh động, tạo hình đối tượng miêu tả. Ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu động từ,
tính từ thường hay sử dụng các biện pháp nhân hóa, so sánh, ẩn dụ. Do sự phối hợp của
các tính từ, động từ và các biện pháp tu từ, ngôn ngữ miêu tả gợi lên trong lòng người
đọc, người nghe những tình cảm, cảm xúc, ấn tượng về sự vật được miêu tả. [4; trang
11].
Để miêu tả một chú mèo, chúng ta có thể sử dụng biện pháp nghệ thuật như so
sánh, nhân hóa để câu văn thêm mượt mà và hấp dẫn. Chúng ta có thể miêu tả hình dáng
của một con mèo như sau: “Mi Mi có bộ lông mới đẹp làm sao! Đó là một màu trắng
tinh khiết như bông tuyết đầu mùa. Đầu nó tròn như quả bóng sờ vào rất thích, trên đỉnh
đầu mọc ngay ngắn hai cái tai hình tam giác xinh xinh. Hai con mắt to tròn, xanh biếc,
trong trẻo như nước biển. cái mũi hồng xinh xắn, ướt nhẹp. Bốn chân của cô dài và thon
thả. Mỗi bước đi đều nhẹ nhàng, lanh lẹ như lướt trên mặt đất. Cái đuôi dài trông thật
thướt tha, duyên dáng”.
1.4 Yêu cầu chung của văn miêu tả
1.4.1 Bài văn miêu tả phải có tính chân thực
Miêu tả là sự tái hiện lại một cách có chủ đích của người viết về đối tượng được
tả. do vậy bài văn miêu tả trước tiên cần có tính chân thực ( đúng thực tế, đúng với bản
chất đối tượng).[2; trang 4]. Dạy cho học sinh Tiểu học miêu tả chân thực một đối
tượng, phải đi từ yêu cầu tả đúng thực tế nghĩa là thông qua việc quan sát trực tiếp, bằng
nhiều giác quan, chọn từ ngữ thích hợp, diễn tả đúng đối tượng, không làm cho người
đọc hiểu sai hoặc không hình dung được nó.
1.4.2 Bài văn miêu tả phải có trình tự hợp lí
Để giúp người đọc, người nghe tái hiện được đối tượng miêu tả một cách chân
thực, sinh động, bài văn miêu tả phải được tuân theo một trình tự hợp lí. Trình tự hợp lí


1.4.5 Bài văn miêu tả phải diễn đạt bằng lời văn sinh động, gợi tả - gợi cảm
Để làm cho đối tượng miêu tả hiện lên rõ nét và sinh động, lời văn miêu tả phải cụ
thể, từ ngữ miêu tả phải gợi cảm, giàu hình ảnh. so với câu kể, câu văn tả thường được
sử dụng nhiều từ tượng hình, từ tượng thanh hay từ láy nói chung đê tăng sức gợi hình,
gợi cảm. Đó là những câu văn cấu tạo không chỉ có những thành phần chính ( chủ ngữ vị ngữ ) mà còn có nhiều thành phần phụ ( trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ,… ) nhằm diễn
tả sinh động đối tượng được nói đến.[2; trang 7].
2. Văn miêu tả con vật trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
Kiểu bài tả loài vật ở lớp 4 có đối tượng là những con vật mà học sinh có dịp tiếp
xúc gần gũi như con lợn, con trâu, con mèo, con gà,… So với tả đồ vật, tả cây cối có
điểm khó hơn là: ngoài việc làm rõ những nét tiêu biểu về hình dáng còn phải nêu bật
được những đặc điểm về sinh hoạt của con vật, bộc lộ được mối quan hệ tình cảm của
người tả với con vật đó. Khi miêu tả loài vật cần chú ý các điểm sau đây:
- Tả loài vật không nhất thiết phải nêu đầy đủ các bộ phận, không cần theo một công
thức máy móc ( đầu, mình, chân,… ). Cần chú ý đến các bộ phận nổi bật của con vật để
tả trước, tả kĩ. Khi tả các bộ phận, có thể xen lẫn tả hình dáng, tính nết và sự hoạt động
làm cho bài văn hấp dẫn linh hoạt, không bị gò bó.
- Khi tả loài vật nên tả các hoạt động chính gắn liền với loài vật đó như: con mèo rình
bắt chuột, con chó trông nhà, con bò kéo cày hay kéo xe, con gà trống đang gáy,…
- Khi tả nhiều con vật cùng loại ( đàn bò, đàn trâu, đàn gà,… ) cần tả bao quát những nét
nổi bật chung của cả đàn: màu sắc, hình dáng, hoạt động,… Sau đó tả hình dáng hoạt
động của từng giống, từng lứa. Tả xong cả bầy có thể dừng lại tả vài con có hình thù,
màu sắc, tính nết khác hẳn so với các con còn lại.
- Trình tự cơ bản của một bài văn tả loài vật:
17


Mở bài : Giới thiệu con vật định tả
Thân bài: Tả chi tiết về con vật
+ Đặc điểm hình dáng bên ngoài.

có những kiến thức ban đầu về loài vật cần miêu tả, học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc
tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và viết bài văn miêu tả. Những câu văn, bài văn miêu tả hay,
có hồn và sinh động là câu văn, bài văn của người biết quan sát, chịu khó quan sát và có
tài quan sát. Chỉ cần các em chịu khó quan sát thì loài vật của các em miêu tả sẽ trở nên
rất chân thực và gần gũi với cuộc sống của mình.
4. Một số sản phẩm ứng dụng
4.1 Tranh, ảnh tĩnh
- Tranh ảnh về các loài mèo.
- Tranh ảnh về các loài chó.
- Tranh, ảnh về con gà.
- Tranh ảnh về con trâu, bò.
4.2 Ảnh động
- Ảnh động về mèo, chó, gà, thỏ, …
Video clip
- Video về các loài vật xung quanh em.
- Video về các hoạt động của con mèo ( ngủ, chơi đùa, phơi nắng, bắt chuột,…)
- Video về hoạt động của con gà ( gà gáy, gà ăn, gà mẹ và con,…)
- Video về hoạt động của con chó ( ngủ, ăn, trông nhà,…)
4.3

19


- Video về hoạt động của con trâu ( ăn, cày ruộng,…)

20


KẾT LUẬN
Có thể nói, phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài miêu tả loài vật ở

tả, NXB Đại học Quốc gia Việt Nam.
[3] Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Phạm Minh Diệu, Văn miêu tả trong nhà trường
phổ thông, NXB Giáo dục.
[4] Nguyễn Trí, Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả, NXB Giáo dục.
[5] Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Hoàng Cao Cường, Đỗ Việt Hùng, Trần Thị
Minh Phương, Lê Hữu Tỉnh, Tiếng Việt lớp 4 – tập 2, NXB Giáo dục.

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status