TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH– KTNN
-------------------
ĐÀO THỊ THAO
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
HÌNH THÁI VÀ THỂ LỰC CỦA HỌC SINH
TRƢỜNG THPT TRUNG GIÃ- SÓC SƠN- HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sinh lý ngƣời và động vật
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Văn Hƣng –
người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong quá trình học tập và nghiên
cứu để hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm, các thầy cô giáo khoa Sinh
– KTNN, tổ bộ môn giải phẫu sinh lý người và động vật đã tạo điều kiện
thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, thầy cô giáo, các em học sinh trường
THPT Trung Giã cùng tất cả những bạn bè và người thân trong gia đình đã
giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
Hà Nội, tháng 04 năm 2016
Sinh viên
Đào Thị Thao
2.4.2. Phương pháp xử lí số liệu ............................................................. 15
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................... 17
3.1. Các chỉ số hình thái của học sinh theo lớp tuổi và giới tính ........... 17
3.1.1. Chiều cao đứng của học sinh ........................................................ 17
3.1.2. Cân nặng của học sinh .................................................................. 21
3.1.3. Vòng ngực trung bình của học sinh ............................................. 25
3.1.4. Vòng eo ........................................................................................... 28
3.1.5.Vòng mông ...................................................................................... 29
3.1.6. Vòng đùi ......................................................................................... 31
3.2. Chỉ số thể lực của học sinh theo lớp tuổi và giới tính ...................... 32
3.2.1. Chỉ số BMI ..................................................................................... 32
3.2.2.Chỉ số pignet .................................................................................... 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 42
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Phân bố học sinh tham gia nghiên cứu ........................................ 12
Bảng 2.2. Chỉ số BMI .................................................................................. 14
Bảng 2.3. Chỉ số Pignet ................................................................................ 15
Bảng 3.1. Chiều cao đứng của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính ...... 17
Bảng 3.2. So sánh chiều cao đứng trung bình của học sinh theo lớp tuổi
và theo giới tính với nghiên cứu của các tác giả khác ................................. 20
Bảng 3.3. Cân nặng của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính ................ 22
Bảng 3.4. So sánh cân nặng của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính
với nghiên cứu của các tác giả khác ............................................................ 24
Bảng 3.5. Vòng ngực trung bình của học sinh theo lớp tuổi và giới tính .... 25
Bảng 3.6. So sánh vòng ngực trung bình của học sinh theo lớp tuổi và giới
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực là công tác nghiên cứu cơ bản,
nhằm cung cấp thông tin khoa học không chỉ cần thiết cho các nghiên cứu y
sinh học phục vụ cho công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân mà nó
còn sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Hình thái thể lực là những đặc điểm phản ánh thực trạng của cơ thể.
Đặc biệt nó liên quan đến khả năng lao động, học tập và thẩm mỹ của con
người. Đến nay các công trình nghiên cứu về các chỉ số về hình thái và thể lực
cho thấy các chỉ số này thường xuyên thay đổi theo thời gian, do thay đổi môi
trường tự nhiên, sinh học và xã hội, đáng kể nhất là chế độ dinh dưỡng, luyện
tập thể dục thể thao, chế độ làm việc và thực trạng ô nhiễm môi trường.Vì
vậy, nếu ta cứ lấy số liệu cũ để đưa vào tài liệu giảng dạy, học tập và ứng
dụng trong cuộc sống là không thực tế. Riêng đối với huyện Sóc Sơn các công
trình nghiên cứu về các chỉ số hình thái thể lực còn rất ít. Do đó, việc nghiên
cứu các số liệu về hình thái và thể lực của người Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ các vấn đề trên chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và thể lực của học sinh trường
THPT Trung Giã- Sóc Sơn- Hà Nội.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định một số chỉ số hình thái và thể lực của học sinh nam và học
sinh nữ tuổi từ 16 - 18 ở trường THPT Trung Giã – Sóc Sơn – Hà Nội.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Xác định thực trạng một số chỉ số hình thái và thể lực của học sinh
THPT Trung Giã.
1
Vòng ngực cũng được coi là một đặc trưng cơ bản của thể lực. Những
người đầu tiên lưu ý đến số đo vòng ngực là các bác sĩ lâm sàng ở đầu thế kỉ
XIX khi họ nhận thấy có sự liên quan giữa các mức độ phát triển của lồng
ngực và các bệnh hô hấp. Gần cuối thế kỉ XIX vòng ngực trở thành chỉ tiêu
quan trọng trong các cuộc thi tuyển chọn binh lính và nhân công lao động
[20].
Thể lực là thước đo sức khỏe, khả năng lao động và làm việc của con
người. Chính vì vậy, các nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu hình thái và thể
3
lực được phổ biến rộng rãi trên nhiều lĩnh vực như: tuyển sinh, tuyển quân,
tuyển lao động, giám định y khoa…
Thể lực của con người là một chỉ tiêu phức hợp. Một trong những biểu
hiện cơ bản của thể lực là những số đo kích thước của cơ thể trong đó chiều
cao đứng, cân nặng, vòng ngực của cơ thể là ba chỉ số phản ánh thể lực của
con người. Từ ba chỉ số này có thể tính thêm một số chỉ số khác thể hiện mối
liên quan giữa ba chỉ số đó như chỉ số Pignet, BMI.
Công trình nghiên cứu về thể lực cho thấy sự khác nhau về thể lực giữa
trẻ em thành phố và trẻ em nông thôn, có sự khác nhau về tốc độ phát triển
thể lực giữa nam và nữ. Trên thực tế, sự phát triển thể lực của cơ thể phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố và kết quả sự tác động qua lại giữa cơ thể và môi
trường.
1.2. Lƣợc sử nghiên cứu về hình thái – thể lực
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về hình thái - thể lực trên thế giới
Sinh học cơ thể là một môn khoa học cổ điển ra đời từ rất sớm trong sự
hình thành xã hội loài người và đang ngày càng phát triển. Nghiên cứu hình
thái thể lực con người được xem như là một bộ phận của sinh học cơ thể, nó
cũng có lịch sử tồn tại và phát triển hết sức phong phú thể hiện trên nhiều lĩnh
Montbeilard thực hiện nghiên cứu dọc trên con trai mình từ 1759 – 1777. Đây
là phương pháp tốt và được sử dụng cho đến nay. Sau đó còn nhiều công trình
khác của Edwin Chadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.P. Bowditch ở Mỹ…
Năm 1977 hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu một
bước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu hình thái- thể lực ở Việt Nam
Hình thái thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào
năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em. Vào những năm 30 của thế kỉ
20 tại viện Viễn Đông Bắc cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa Đông
Dương (1936 - 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề
này. Tác phẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông
Dương” của P. Huard, A. Bigot và “ Hình thái học Người và giải phẫu thẩm
mỹ học” của P.Huard và Đỗ Xuân Hợp [17] được xem là những công trình
nghiên cứu đầu tiên về hình thái người Việt Nam. Tuy số lượng chưa nhiều,
5
nhưng tác giả này đã nêu được đặc điểm nhân trắc của người Việt nam đương
thời.
Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh
và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một
số trường Đại học và viện nghiên cứu. Các hội nghị về lĩnh vực này đã được
tổ chức nhiều lần đặc biệt là vào các năm 1967 và 1972, nhiều chương trình
cấp quốc gia và địa phương được thực hiện. Đó là công trình “ Hằng số sinh
học người Việt Nam” năm 1975 do GS. Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên [18].
Đây cũng là công trình đầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực của
người Việt Nam ở mọi lứa tuổi trong đó có lớp tuổi từ 16 đến 18 tuổi. Đây
mới chỉ là các chỉ số sinh học của người miền Bắc song nó thực sự là chỗ dựa
đáng tin cậy cho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam. Sau này cũng
đã có một số công trình nghiên cứu về các đặc điểm sinh thể con người Việt
các lớp tuổi sau đó kích thước vòng ngực giảm dần . Các số liệu về vòng ngực
trung bình của các tác giả cũng không hoàn toàn giống nhau. Theo dự án 90
[12] vòng ngực trung bình của nam ở tuổi 25 là 82,03 ± 4,34 cm và của nữ
cùng tuổi là 79,82 ± 5,31 cm. Ở cả nam và nữ vòng ngực trung bình đều giảm
dần khi ở tuổi 41 trở đi.
“Át lát nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do Võ
Hưng chủ biên đã trình bày các công trình nghiên cứu nhân trắc ngươi Việt
Nam trên cả ba miền của đất nước. Qua công trình này, tác giả đã nêu lên
được các quy luật phát triển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người Việt
Nam [7].
“ Các chỉ tiêu nhân trắc hình thái thể lực người miền Bắc Việt Nam
trưởng thành trong thập niên 90” do Trịnh Văn Minh và cộng sự [13] thực
hiện cho thấy, ở lớp tuổi thanh niên sau tuổi dậy thì, các kích thước vẫn tiếp
7
tục phát triển và đạt đỉnh cao vào lúc 20 - 21 tuổi (ở nữ) và 22 tuổi (ở nam).
Nam giới có chiều cao, cân nặng và các kích thước có liên quan đến thể lực,
cụ thể là hoạt động của cơ bắp luôn cao hơn so với nữ giới. Trong khi đó, các
chỉ số khác có liên quan đến dinh dưỡng, khối mỡ, chỉ số pignet thì của nữ lại
cao hơn so với nam.
Cuối năm 1996, Thẩm Hoàng Điệp và cộng sự đã nghiên cứu về sự
phát triển chiều cao, vòng ngực của trên 8000 người Việt Nam tuổi từ 1 - 55
tại cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Các tác giả đã nhận xét rằng chiều cao trung
bình của nam là 163 cm và ở nữ là 158 cm. Chiều cao của nam tăng nhanh
đến 18 tuổi, còn nữ tăng nhanh đến 14 tuổi. Vòng ngực trung bình của người
nam trưởng thành là 70 - 80 cm, còn ở nữ tương ứng là 79 cm. Cũng tác giả
này năm 1990 khi nghiên cứu các tiêu chí nhân trắc trên học sinh THCS Hà
Nội cho rằng, chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 12 tuổi ở nữ và 13 - 15 tuổi
ở nam, còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam.
kết quả nghiên cứu của mình với một số tác giả khác đã đưa ra một số nhận
xét rằng, thanh niên Việt Nam lớp tuổi 14 - 18 ở nữ và 16 - 18 ở nam lớn
chậm hơn so với các lớp tuổi trước đó.
Theo Nguyễn Hữu Chỉnh và cộng sự [2], ở sinh viên lớp tuổi 18 - 25
khu vực Kiến An Hải Phòng vẫn có sự tăng trưởng, song sự khác biệt theo các
chỉ số nghiên cứu giữa các lớp tuổi kế tiếp nhau không có ý nghĩa thống kê.
Cũng theo Nguyễn Hữu Chỉnh và cộng sự [1], dân cư khu vực Kiến An Hải
Phòng có chỉ số nhân trắc tốt hơn so với “Hằng số sinh học, 1975”. So sánh
giữa nam và nữ tác giả cho rằng từ 10 đến 11 tuổi, nữ phát triển nhanh hơn
nam nhưng từ 14 - 15 tuổi các kích thước của nam bắt kịp và vượt trội nữ.
Sau tuổi 25 chiều cao không tăng nữa, cân nặng tăng đến tuổi 30 - 39 tuổi sau
đó ổn định rồi suy giảm, trong đó nam chậm hơn nữ.
9
Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây về hình thái thể lực thanh thiếu
niên Việt Nam đều cho thấy sự tăng lên đáng kể so với số liệu nghiên cứu từ
nhiều năm trước. Đặc biệt từ sau năm 1975 đến nay khi tình hình văn hóa,
kinh tế, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến
tầm vóc, sức khỏe con người Việt Nam [4]. Thanh niên thành phố thường có
các chỉ số nhân trắc tốt hơn thanh niên nông thôn. Để giải thích sự khác biệt
này, có tác giả [8] cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là do
chất lượng cuộc sống. Do điều kiện sống ở thành phố được cải thiện nhiều
hơn nên thanh niên thành phố có chiều cao, cân nặng tốt hơn thanh niên cùng
lứa tuổi ở nông thôn.
Sự khác biệt về mặt chủng tộc, điều kiện sống , quá trình rèn luyện thân
thể cũng là những yếu tố có tác động đến thể lực của thanh niên [14]. Năm
1998, Nguyễn Quang Mai và cộng sự [11] đã nghiên cứu trên nữ sinh các dân
tộc ít người và cho thấy, đến 18 tuổi chiều cao, cân nặng trung bình của nữ
11
CHƢƠNG 2.
ĐỐI TƢỢNG – PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một số đặc điểm hình thái, thể lực của học
sinh THPT (nam, nữ) đang theo học tại trường THPT Trung Giã – Sóc Sơn –
Hà Nội.
Học sinh được lựa chọn không bao gồm những em dị tật về hình thái,
bị mắc các bệnh mãn tính.
Sự phân bố học sinh tham gia nghiên cứu có thể thấy ở bảng sau:
Bảng 2.1. Phân bố học sinh tham gia nghiên cứu
Tuổi
Nam
Nữ
Chung
16
45
41
86
17
Nơi đo đạc phải đầy đủ tiện nghi và điều kiện cho người đo, người
được đo (rộng rãi, thoáng mát, đủ ánh sáng, nhiệt độ thích hợp, phòng đo nam
nữ riêng).
12
Trước khi đo dụng cụ phải được kiểm tra kĩ, người đo được tập huấn kĩ
về nhân trắc.
- Chiều cao đứng: Đơn vị đo là cm, dùng thước dây gắn lên tường. Đo
theo phương pháp cổ điển của Martin (ba điểm nhô ra nhất về phía sau của
lưng, mông, vai chạm thước; đầu để thẳng sao cho đuôi mắt và điểm giữa bờ
trên lỗ tai ngoài nằm trên đường thẳng ngang vuông góc với trục cơ thể).
Người được đo ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót chân sát nhau sao
cho 4 điểm chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo.
- Trọng lượng: Đơn vị đo là kg. Dụng cụ đo là cân đồng hồ có độ chính
xác đến 0,1 kg. Cân được điều chỉnh chính xác trước khi cân, được đặt trên
nền cứng, độ phẳng cao. Cân vào buổi sáng, trước bữa ăn. Khi cân phải bỏ cả
giày, dép, mặc quần áo mỏng.
- Vòng ngực trung bình (VNTB): Đơn vị đo là cm, dụng cụ đo là thước
dây vải 1,5m , không co giãn của Trung Quốc có đọ chính xác đến ±1mm, đo
ở tư thế đứng thẳng, vòng trước vây quanh ngực, vuông góc với cột sống đi
qua xương bả vai ở phía sau và mũi ức ở phía trước, hít thở bình thường. Đo 1
lần hít vào và 1 lần thở ra sau đó lấy trung bình cộng.
- Vòng eo (VE): Đơn vị đo là cm. Đo bằng thước dây vải 1,5m, không
co giãn của Trung Quốc có độ chính xác đến ± 1mm. Đo vòng eo vào cuối
mỗi kì thở ra. Vòng eo đo bằng 1 trong 2 cách: Ngang qua rốn hoặc ngang
qua trung điểm giữa xương sườn cuối và mào chậu. Sai số không quá 0,5 cm.
- Vòng mông (VM): Đơn vị đo là cm. Đo bằng thước dây vải 1,5m,
không co giãn của Trung Quốc có độ chính xác đến ± 1mm. Đo ở tư thế đứng
thẳng vòng qua phần giữa cánh xương chậu, vuông góc với cột sống. Vòng
3
17 18,45
Suy dinh dưỡng độ 1
4
18,5 24,99
Bình thường
5
25 29,99
Béo phì độ 1
6
30 39,99
Béo phì độ 2
7
40
Béo phì độ 3
29,0 34,9
Khỏe
4
35,0 41,0
Bình thường
5
41,1 47
Yếu
6
47,1 53,0
Rất yếu
7
>53,0
Cực yếu
2.4.2. Phương pháp xử lí số liệu
CHƢƠNG 3.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Các chỉ số hình thái của học sinh theo lớp tuổi và giới tính
3.1.1. Chiều cao đứng của học sinh
3.1.1.1. Chiều cao đứng của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính
Chiều cao đứng là một trong những tiêu chí cơ bản, phản ánh sự phát
triển chiều dài của xương ống. Chiều cao dùng để đánh giá sức vóc của trẻ
em, tầm vóc của người lớn. Ở học sinh chiều cao đứng thay đổi theo lứa tuổi,
giới tính và môi trường sống. Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học
sinh trường THPT Trung Giã được thể hiện qua bảng 3.1 và hình 3.1.
Bảng 3.1. Chiều cao đứng (cm) của học sinh theo lớp tuổi và theo giới tính
Chiều cao đứng trung bình (cm)
Tuổi
Nữ (2)
Nam (1)
n
X SD
Mức
n
X SD
tăng
11,19 P