Header Page 1 of 166.
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-----------------------------
NGUYỄN THỊ TUYẾN
HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG VÀ
THÂN PHẬN CON NGƢỜI TRONG
TIỂU THUYẾT BẾN KHÔNG CHỒNG
CỦA DƢƠNG HƢỚNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2014
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-----------------------------
NGUYỄN THỊ TUYẾN
HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG VÀ
THÂN PHẬN CON NGƢỜI TRONG
TIỂU THUYẾT BẾN KHÔNG CHỒNG
CỦA DƢƠNG HƢỚNG
Header Page 4 of 166.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của tôi cùng với
sự giúp đỡ của các thầy, cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Tiến sĩ Nguyễn Thị
Tuyết Minh.
Trong quá trình làm khóa luận, tôi có tham khảo những tài liệu có liên
quan đã được hệ thống trong mục Tài liệu tham khảo. Khóa luận Hiện thực
đời sống và thân phận con người trong tiểu thuyết Bến không chồng của
Dương Hướng không có sự trùng lặp với các khóa luận khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5, năm 2014
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Tuyến
Footer Page 4 of 166.
Header Page 5 of 166.
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
6. Đóng góp của khóa luận ................................................................................ 5
KẾT LUẬN .................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................
Footer Page 6 of 166.
Header Page 7 of 166.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng đề tài về chiến tranh vẫn được
các nhà văn thời hậu chiến dành cho nhiều ưu ái. Các nhà văn đã dồn bút lực
của mình để dựng lại cho hậu thế bối cảnh của hiện thực đời sống, xã hội Việt
Nam trong những năm tháng trong và sau chiến tranh cũng như những nỗi
thống khổ của con người thời chiến. Số lượng tác phẩm viết về chiến tranh
ngày càng tăng từ sau năm 1986. Cuộc đời và con người được soi chiếu dưới
những góc nhìn đa dạng, với những cảm hứng mới mẻ.
Dương Hướng là một trong những nhà văn thời hậu chiến có tác phẩm
viết về chiến tranh. Ông thuộc thế hệ nhà văn cùng thời với Ma Văn Kháng,
Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn… Nhưng phải đến
khi ngoài 40 tuổi, danh tiếng của ông mới được bạn đọc biết đến qua tập
truyện ngắn đầu tay “Gót son” (1989). Dường như, ông đến với văn chương
khá chậm nhưng “chậm mà chắc”. Ông sáng tác không nhiều. Tuy nhiên,
bằng tài năng văn chương của mình, Dương Hướng đã có vị trí vững vàng
trong đội ngũ các nhà văn tên tuổi giai đoạn đầu đổi mới. Nhắc đến nhà văn
Dương Hướng độc giả nghĩ ngay tới tác phẩm Bến không chồng. Tiểu thuyết
này đã đem lại cho nhà văn người Thái Bình giải A của Hội Nhà văn Việt
Nam năm 1991. Bến không chồng tái hiện lại khung cảnh làng Đông – vùng
đồng bằng Bắc Bộ. Nơi đó có sông Đình, có cầu Đá Bạc, có những người lính
bước ra từ chiến tranh với bao mất mát, hi sinh và có cả những người phụ nữ
mòn mỏi, cô đơn, chịu nhiều nỗi bất hạnh, gian truân. Những hình ảnh đó,
hấp dẫn của Bến không chồng chính là sự chân thực và cách nhìn cảm thông,
nhân đạo với số phận con người nhất là người phụ nữ của Dương Hướng.
Năm 2009, trên Tạp chí sông Hương số 248, giáo sư Phong Lê cho rằng:
“Bến không chồng, ở thời điểm mở đầu 90, quả đã góp được một cái nhìn mới
về bức tranh đất nước thời chiến và hậu chiến… với gánh nặng không phải chỉ
là chiến tranh, về phía khách quan, mà còn là những lầm lạc của con người
trong bối cảnh có quá nhiều biến động và thử thách, mà tất cả những ai do lịch
Footer Page 8 of 166.
2
Header Page 9 of 166.
sử để lại không đủ tầm và sức để vượt qua… Bến không chồng lại có được một
vẻ đẹp khác trong khuôn hình cổ điển, mộc mạc và chân phương trong cốt
truyện, trong cách dẫn dắt và ngôn từ - một ngôn từ không lấp lánh tài hoa, mà
giản dị, tự nhiên…” [10, 75 – 80]. Phong Lê cũng lí giải căn nguyên đổ vỡ, khổ
đau của những thân phận người trong tác phẩm là “do lịch sử để lại”, một lịch
sử quá nghiệt ngã với con người làng Đông, bởi tất cả những mất mát, hi sinh,
dữ dằn và khốc liệt của chiến tranh đã chà xát tâm hồn họ, đẩy họ tới tận cùng
của bi kịch, đau thương. Điều đáng chú ý, tác giả đã nhìn nhận, tìm hiểu và
đánh giá về Bến không chồng đặt trong hành trình văn nghiệp của Dương
Hướng, để thấy sự tiếp nối, kế thừa những đặc điểm của tác phẩm này ở những
tác phẩm sau đó của nhà văn.
Cùng thời điểm này, năm 2009, trên website của nhà văn Dương
Hướng duownghuongqn.vnwebblogs.com, tác giả Nguyễn Duy Liễm trong bài
viết: “Dương Hướng người ghi mốc son cho văn học thời kì đổi mới” có bàn
luận: “Viết về Bến không chồng Dương Hướng đã nghiễm nhiên rẽ ngoặt. Tác
phẩm của anh là một nhát gạch chéo vào cái lối mòn rỗng tuếch mà nhàm
những chiếc chìa khóa dẫn dắt, định hướng và gợi mở quan trọng cho chúng
tôi. Từ đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Hiện thực đời sống và thân phận
con người trong tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng”.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là tiểu thuyết Bến không chồng và trong một chừng mực nhất định có
thể có sự so sánh đối chiếu với những tác phẩm khác để làm rõ đối tượng
nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ nội dung cụ thể của đề tài và “tính vừa sức” của một khóa
luận tốt nghiệp Đại học, chúng tôi không tìm hiểu toàn bộ những vấn đề trong
tiểu thuyết Bến không chồng mà chỉ tập trung vào những bình diện cơ bản
sau:
- Tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng trong đời sống văn
xuôi Việt Nam đương đại. Nghĩa là xem xét mối quan hệ, những điều kiện chi
Footer Page 10 of 166.
4
Header Page 11 of 166.
phối, ảnh hưởng, vị trí, ý nghĩa của tiểu thuyết này trong đời sống văn xuôi
Việt Nam đương đại.
- Bức tranh về hiện thực đời sống và thân phận con người trong tiểu
thuyết Bến không chồng.
Chúng tôi xem xét, phân tích và chỉ ra bức tranh xã hội mà Dương
Hướng miêu tả trong tác phẩm và xem xét những yếu tố đó chi phối như thế
nào đến thân phận con người đặc biệt là những người lính trở về sau chiến
tranh và những người phụ nữ nơi hậu phương.
của khóa luận được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Tiểu thuyết Bến không chồng trong đời sống văn xuôi Việt
Nam đương đại
Chương 2: Bức tranh hiện thực đời sống và thân phận con người trong
tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật biểu hiện hiện thực đời sống
và thân phận con người trong tiểu thuyết Bến không chồng
của Dương Hướng
Footer Page 12 of 166.
6
Header Page 13 of 166.
Chƣơng 1
TIỂU THUYẾT BẾN KHÔNG CHỒNG TRONG
ĐỜI SỐNG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
1.1. Quan niệm về tiểu thuyết
Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự
cỡ lớn, có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở giới hạn không gian, thời
gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh sản phẩm của nhiều cuộc đời, những bức
tranh phong tục, đặc điểm xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái
hiện nhiều tính cách đa dạng” [5, 277].
Cuốn 150 thuật ngữ văn học khẳng định “Tiểu thuyết là tác phẩm tự
sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình
hình thành và phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây được triển khai trong
không gian, thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của
nhân cách (…). Tiểu thuyết trình bày được đời sống cá nhân và đời sống xã
hội như những tố chất có tính độc lập tương đối, không làm cạn kiệt được
sức khám phá những nguồn mạch biện chứng của tâm hồn, động chạm tới
những góc khuất sâu tối nhất của mỗi cá nhân cũng như có khả năng bao quát
một mảng hiện thực rộng lớn, tạo nên một bức tranh toàn cảnh của một giai
đoạn, một thời kì lịch sử. Tiểu thuyết là mạch nguồn trong mát của biển cả
văn chương. Tuy vậy nó không cố định mà luôn có những sự sáng tạo, tìm tòi,
cách tân đổi dòng liên tục để làm mới mình sao cho phù hợp với thời đại và
thị hiếu của độc giả.
1.2. Thể loại tiểu thuyết trong đời sống văn xuôi Việt Nam đƣơng đại
Văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực chân thực nhất. Mỗi nhà
văn là những tên mật thám của tâm hồn sẵn sàng băng qua các đường biên để
tìm cái mới. Điều đó dẫn tới một chân lí “Thời đại nào thì văn học đó”. Quả
vậy, sau năm 1986 đất nước bước vào công cuộc đổi mới. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định: “Đổi mới đất nước ta, đổi mới có
ý nghĩa sống còn”. Đời sống sau hòa bình với những khó khăn, bề bộn đòi hỏi
các nhà văn phải sáng tác được những tác phẩm giá trị, phản ánh được hơi thở
Footer Page 14 of 166.
8
Header Page 15 of 166.
của thời đại. Với tinh thần “cởi trói”, “dân chủ” mà Đảng ta khuyến khích,
các nhà văn không còn bị gò bó theo những quy phạm, những khuôn khổ của
giai đoạn trước mà được thỏa sức sáng tạo, trải nghiệm. Họ luôn trăn trở, chủ
động tìm cho mình một hướng đi mới thích hợp với sự vận động của xã hội –
thời đại và xu hướng vận động của bản thân văn học.
Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng lần thứ VI, các nhà văn thực sự đã tìm
ra được con đường đi cho sáng tác của mình. Điều đó góp phần làm cho văn
học có sự chuyển mình sâu sắc và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
có điều kiện cân bằng lại trạng thái tâm lý con người. Dòng tiểu thuyết hướng
nội tập trung khám phá những bí ẩn, những gì tinh tế nhất trong con người đã
xuất hiện. Nhà văn Nguyên Ngọc ghi nhận “văn học chăm chú quan tâm hơn
đến con người với tư cách là một thế giới cá nhân phong phú, phức tạp, đa
dạng, đa chiều, đa tầng trong nhiều mối quan hệ cũng hết sức phức tạp và đa
dạng với toàn xã hội và với chính mình” không loại bỏ xu hướng “hướng
ngoại” và quan tâm hơn đến xu hướng “hướng nội”, tiểu thuyết giai đoạn này
đã đi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, đối thoại với đời sống, đối thoại
với cuộc đời để nắm bắt được “cái hôm nay bề bộn, ngổn ngang bóng tối và
ánh sáng” (Nguyễn Khải), đồng thời lặn sâu vào tâm hồn con người để lắng
nghe tất cả những âm vang của tiếng lòng bí ẩn trong con người: có tiếng yêu
thương, có lời giận hờn, có cả những quanh co, những tính toán ngấm
ngầm…
Có thể nói, chưa bao giờ những vấn đề về đời sống xã hội mà văn học
quan tâm hiện lên chân thực, sống động mà xót xa nhức nhối đến như thế ở
trong tiểu thuyết. Các nhà văn đã khai thác đến tầng vỉa của hiện thực đời sống
qua số phận con người, có khi qua những mảnh vỡ từ bi kịch làm người. Vì
vậy, ta gặp trong tiểu thuyết hôm nay cái chật hẹp của “cõi nhân gian” và cái
rộng lớn và cái mênh mông, sâu thẳm của cõi lòng nhỏ bé, qua số phận của
những con người. Ngòi bút của các nhà văn đã lột ra mọi sự thật của đời sống
dù cho điều đó làm cho họ cay đắng đến đâu chăng nữa. Đồng thời, thấm vào
từng dòng chữ lại là một tình yêu thương, một niềm tin và sự đòi hỏi rất cao đối
Footer Page 16 of 166.
10
Header Page 17 of 166.
với con người, một con mắt thấu suốt làm những cái bình thường hàng ngày
Header Page 18 of 166.
Tác phẩm đã dấy lên ở bạn đọc yêu văn những rung cảm, phá toang ở họ sự
thật về chiến tranh nghiệt ngã. Dư luận xôn xao và cái tên Dương Hướng
nhanh chóng gây được thiện cảm và vị trí trong lòng độc giả Việt Nam. Tiểu
thuyết Bến không chồng đã đánh dấu bước thành công đầu tiên của nhà văn.
Đồng thời, nó cũng ghi danh nhà văn trên đỉnh cao của văn học Việt Nam thời
kì đầu đổi mới. Không bằng lòng với những gì mình có, Dương Hướng tiếp
tục thể hiện tài năng văn chương của mình với việc cho ra đời cuốn tiểu
thuyết Trần gian đời người vào năm sau đó. Tuy nhiên, do cái bóng của Bến
không chồng quá lớn nên tác phẩm này không được nhiều bạn đọc chú ý.
Công việc ở cơ quan trở nên bận rộn hơn, nên mãi đến năm 1995 nhà văn
người Thái Bình ấy mới có điều kiện xuất bản tập truyện ngắn Người đàn bà
trên bãi tắm. Ba năm sau cuốn tiểu thuyết Bóng đêm mặt trời được khai sinh
nhưng cũng giống như những tác phẩm trước, nó cũng bị chìm đi dưới cái
bóng của Bến không chồng… Thời gian sau đó Dương Hướng dường như “im
hơi lặng tiếng” trên văn đàn. Bạn đọc ngỡ như sẽ không còn thấy bóng dáng
những tác phẩm – đứa con tinh thần của ông xuất hiện nữa. Nhưng không, sau
chín năm lặng lẽ “ấp ủ”, “thai nghén” ông cho ra mắt tiểu thuyết Dưới chín
tầng trời. Cuốn tiểu thuyết này làm bạn đọc ngỡ ngàng bởi sự bứt phá tài
năng văn chương ở Dương Hướng. Không giống như hai cuốn tiểu thuyết
trước, Dưới chín tầng trời đã rẽ sang một lối khác và được đông đảo bạn đọc
đón nhận. Cuốn tiểu thuyết Dưới chín tầng trời xuất bản năm 2007, đã chứng
tỏ độ chín của một cây bút tài năng.
Ngoài ra Dương Hướng còn sáng tác ba truyện vừa Đàn chim két bay
ngang trời, Quãng đường còn lại và Người mắc bệnh tâm thần. Tuy nhiên
bạn đọc chỉ thực sự biết đến ông trên lĩnh vực truyện ngắn và tiểu thuyết mà
thôi.
Có thể nói từ thành công đầu tiên với tác phẩm Bến không chồng nhà
Bến không chồng ở thời điểm mở đầu những năm 90 đã đem lại cho
bạn đọc một cái nhìn mới về chiến tranh đất nước trong thời chiến và hậu
chiến. Cuộc chiến tranh trong Bến không chồng kéo dài hơn 40 năm với
những gánh nặng không phải chỉ là chiến tranh mà còn là những lầm lạc,
những tăm tối của con người trong đêm trước Đổi mới. Với phương châm
Footer Page 19 of 166.
13
Header Page 20 of 166.
sáng tác: “Tôi luôn cố đặt vấn đề một cách thẳng thắn, trực diện, không né
tránh hiện thực cho dù hiện thực nghiệt ngã nhất, quan trọng là tấm lòng
người cầm bút gửi vào đâu?” đã giúp tiểu thuyết Bến không chồng của
Dương Hướng trụ vững trong trái tim của độc giả.
Tiểu thuyết Bến không chồng mở đầu bằng hình ảnh Nguyễn Vạn
khoác ba lô về làng sau những năm tháng chiến đấu ở chiến trường Điện
Biên. Làng Đông – quê hương của Nguyễn Vạn là một vùng đất có những câu
chuyện kì lạ, bí ẩn và hoang đường như chuyện: “mắt tiên”, “gò ông Đổng”,
“con ma mặt đỏ chuyên đi hiếp đàn bà góa chồng…”. Ở làng lại có một bến
sông với “vẻ quyến rũ kì lạ” mà các cụ gọi đó là Bến không chồng. Bây giờ,
người ta lại gọi đó là bến Tình. Cũng chính vì sự “quyến rũ kì lạ” của bến
Tình mà biết bao chuyện đau lòng đã xảy ra. Bi thảm nhất là câu chuyện của
hai dòng họ Nguyễn và họ Vũ. Chuyện là cô con gái rượu của cụ tổ dòng họ
Nguyễn bị chàng trai dòng họ Vũ hãm hiếp trên bến Tình. Cụ tổ đã khắc một
lời thề độc đối với họ Vũ. Éo le thay những thế hệ sau như: Nguyễn Vạn,
Nghĩa, Hiệp của dòng họ Nguyễn lại đem lòng yêu thương những người phụ
nữ bên dòng họ Vũ. Đau đớn và bi kịch nhất vẫn là tình yêu giữa Nghĩa và
Hạnh. Họ không giống như chú Vạn và chị Nhân yêu thương nhau nhưng
Vạn. Vạn hối hận, ăn năn bởi đau khổ đã gây ra cho Hạnh nên đã tự vẫn ở bến
Tình. Đám tang Nguyễn Vạn không hề có tiếng khóc. Mọi người lặng lẽ tiễn
đưa linh hồn Nguyễn Vạn ra cánh mả Rốt. Hạnh dắt con gái đi bên Nghĩa. Giữa
tiếng kèn réo rắt bên tai, chị vẫn nghe rõ lời chú Vạn cứ vẳng lên: “Đừng
thương hại tao… Hãy về với thằng Nghĩa”.
Xen vào giữa truyện là biết bao éo le, đau khổ của những người phụ nữ
như: Cúc, Thắm, Dâu, Thủy… Và nỗi buồn chiến tranh luôn ám ảnh Thành.
Tất cả, đã tạo ra bức tranh nông thôn miền Bắc đầu những năm 90 đầy tăm
tối, ê chề bởi chiến tranh cùng với những sự hủ lậu chưa thể nào thay đổi
được trong một xã hội nông nghiệp manh mún, lạc hậu và tâm lí làng, xã lưu
cữu từ ngàn đời.
Footer Page 21 of 166.
15
Header Page 22 of 166.
Chƣơng 2
BỨC TRANH HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG VÀ THÂN PHẬN
CON NGƢỜI TRONG TIỂU THUYẾT BẾN KHÔNG CHỒNG
CỦA DƢƠNG HƢỚNG
2.1. Hiện thực đời sống
2.1.1. Đời sống nông thôn thời hậu chiến
Trong tác phẩm Bến không chồng, nhà văn Dương Hướng đã đặt câu
chuyện của mình trong bối cảnh làng Đông – một làng quê được đặc tả với
những đường nét văn hóa điển hình của Bắc Bộ. Không gian bao trùm trong
tác phẩm là không gian của làng Đông với ngôi đình làng Đông, cây quéo,
cầu đá bạc, sông Đình. Cảnh quê hồn hậu ấy đã chắp cánh thành những câu
hát ru con trẻ: “À ơi… chẳng to cũng gọi đình Đông - có cầu Đá Bạc bắc qua
tố ấy diễn ra trong không khí khẩn trương hăng hái của dân làng: “Tùng –
tùng – tùng tiếng trống dậy lên khắp các nẻo đường làng. Từ cụ già lọm khọm
chống gậy, đến các chị con thơ tay bồng, tay bế dắt díu nhau cơm đùm, cơm
nắm đổ dồn về sân đình làng Đông. Thanh thiếu niên giương cờ, biểu ngữ
khẩu hiệu đi trong dòng người luôn miệng hô vang:
- Đả đảo địa chủ Hào gian ác đầu sỏ
- Đả đảo – đả đảo – đả đảo” [8, 49].
Đối lập với không khí sung sướng, mãn nguyện ấy của dân làng là sự
im lặng, cúi đầu của địa chủ Hào: “Địa chủ Hào đứng dưới hố, tóc trắng phơ,
mặt già khọm cúi gằm xuống đất” [8, 50]. Ở tác phẩm Dưới chín tầng trời,
Dương Hướng cũng xây dựng một cảnh đấu tố tương tự, người dân hăm hở
đấu tố địa chủ Hoàng Kì Bắc: “Ngoài đường già trẻ, gái trai rùng rùng
chiêng trống, giương khẩu hiệu, biểu ngữ, hô vang… khí thế cách mạng dâng
tràn. Của cải nhà ông bà bố mẹ Nam bị thu sạch sành sanh. Hoàng Kì Bắc bị
quy những năm tội lớn. Tội thứ nhất: đi xe ngựa học đòi tư sản, tội thứ hai:
nhiều ruộng đất nhất làng Đoài, tội thứ ba: bóc lột tầng lớp bần cố nông, tội
thứ tư: nghi vấn cấu kết với bọn Việt gian phản động phá hoại cách mạng, tội
Footer Page 23 of 166.
17
Header Page 24 of 166.
thứ năm là nhà to nhất làng Đoài”… [9, 86]. Trên trường bắn, Hoàng Kì Bắc
bị dân quân bịt mắt trói giật hai cách tay đứng trước rừng người sục sôi căm
thù. Những lời lẽ trong bản tố trạng Hoàng Kì Bắc, ta thấy chỉ có tội thứ ba:
“bóc lột tầng lớp bần cố nông” là đáng trách còn lại những tội trạng khác của
y đều không đáng tội và chưa rõ ràng. Tuy vậy đặt trong bối cảnh lịch sử ấy y
thật đáng tội chết.
Tại sao con người ta lại có thể mông muội đến thế? Họ hăm hở đấu tố, kết tội
địa chủ và sẵn sàng giết cả người thân của mình để thể hiện sự trung thành và
trong sạch. Chính những lầm lẫn, ấu trĩ ấy đã che mắt họ, họ không nhận ra kẻ
thù nguy hiểm, gián tiếp đẩy họ vào đau thương, mất mát, chà đạp, bóc lột họ
không phải là địa chủ, Việt gian mà chính là thực dân Pháp. Dương Hướng
không ngần ngại nhìn thẳng vào sự thật, phơi bày hiện thực đời sống của nông
thôn Việt Nam nói chung và làng Đông nói riêng thời hậu chiến đầy đau
thương và tăm tối.
Bến không chồng không chỉ xây dựng hiện thực đời sống của nông
thôn thời hậu chiến mà còn tập trung khắc họa nên những mảnh đời đau khổ,
bất hạnh sau lũy tre làng. Chiến tranh đã lùi vào quá vãng, những tưởng con
người sẽ được sống yên bình trên mảnh đất, quê hương của họ. Nhưng dường
như hiện thực đời sống đầy “sóng ngầm và gió xoáy” không buông tha cho
những mảnh đời bé nhỏ ấy. Nguyễn Vạn bị thương nặng trong kháng chiến.
Bước ra khỏi cuộc chiến đấu trường kì và gian khổ, Nguyễn Vạn hiện lên đầy
kiêu hùng và lẫm liệt: “Đố ai còn dám coi thường Nguyễn Vạn: Hãy nhìn
những tấm huân chương rung rinh, lấp lánh trên ngực Vạn” [8, 5]. Con người
ấy xông xáo, nhiệt tình với tất cả những công việc của làng, xã lại không thể
có được một phút giây sống thảnh thơi, hạnh phúc cho riêng mình. Chị Nhân
– người phụ nữ sẵn sàng để chồng, con xông pha nơi trận mạc để rồi chị lặng
lẽ, cạn khô nước mắt đau khổ cùng cực khi cả chồng và hai đứa con song sinh
là Hà và Hiệp đều hi sinh. Đó là ông bà Khiên nhân đức, hiền từ thì cuối cùng
ông Khiên cũng chết vì thương nhớ con, vì danh dự. Bà Khiên mang theo ước
nguyện có đứa cháu nội vào miền đất lạnh. Ông Xung, bị điên vì đau khổ, tiếc
thương hai đứa con trai. Hạnh đau khổ, bế tắc vì không làm tròn bổn phận làm
Footer Page 25 of 166.
19