1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Sau chiến tranh, đất nước chuyển từ hoàn cảnh thời chiến sang thời
bình với yêu cầu đổi mới, dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội, các
nhà văn đứng trước cơ hội và thách thức trong việc bộc lộ chính kiến và thể
hiện nỗ lực tìm tòi để làm mới văn học và làm mới chính mình. Sự đổi mới
đó phù hợp với quy luật phát triển khách quan. Đây cũng là thời kỳ văn
xuôi nói chung, tiểu thuyết Việt Nam nói riêng tích cực đào sâu vào nhiều
tầng vỉa của đời sống, nhìn nhận lại nhiều vấn đề về con người và gặt hái
được nhiều thành tựu, trở thành đối tượng hấp dẫn cần được quan tâm
nghiên cứu.
1.2. Tiểu thuyết là thể loại quan trọng bậc nhất trong văn xuôi hiện đại,
có khả năng khám phá cuộc sống ở cả chiều sâu và bề rộng, với nhiều
thành công khi thể hiện số phận con người bởi những ưu thế không một thể
loại nào có được. Sự thay đổi trong cách thể hiện về số phận con người làm
biến đổi mọi bình diện của sáng tác, từ cảm hứng, hệ đề tài, chủ đề, hệ
thống nhân vật, giọng điệu, ngôn từ. Vì vậy, nghiên cứu sự thể hiện số phận
con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 là thực sự cần thiết, giúp
tiếp cận và lí giải yếu tố cơ bản chi phối sự biến đổi nội dung và nghệ thuật
của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.
1.3. Trong tiến trình lịch sử văn học, nhìn chung vấn đề con người và số
phận con người luôn được các nhà văn quan tâm. Tuy nhiên, do hoàn cảnh
lịch sử, xã hội quy định, có những thời kỳ, số phận con người, đặc biệt là
con người cá nhân còn bị xem nhẹ. Sự trở về quan tâm thể hiện số phận con
người trong tiểu thuyết sau 1975 là sự kế thừa, tiếp nối tinh thần nhân bản
của truyền thống văn học dân tộc. Vì vậy nghiên cứu vấn đề thể hiện số
phận con người trong tiểu thuyết sau 1975 cũng sẽ góp phần hiểu hơn quy
luật vận động của lịch sử văn học nói chung, gợi nhiều vấn đề lý thú cho
việc nghiên cứu, phê bình.
1.4. Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 hiện có mặt và ngày càng có vị trí
hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các tiểu thuyết, nhất là những tiểu
thuyết nổi bật sau 1975, đặc biệt là từ 1986 đến nay có ý thức tự giác
trong việc nhìn nhận và thể hiện số phận con người; trong đó chúng tôi
chú ý đến các tác phẩm đã đạt giải thưởng (Hội Nhà văn, Bộ Quốc
phòng...), các tác phẩm được dư luận quan tâm. Khi cần thiết, chúng tôi
cũng tìm hiểu thêm các tiểu thuyết Việt Nam trước năm 1975 (ở khu
vực chính thống) và các tiểu thuyết nổi tiếng của văn học thế giới quan
tâm thể hiện số phận con người.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp
nghiên cứu sau: Phương pháp lịch sử, Phương pháp cấu trúc - hệ thống,
Phương pháp so sánh - đối chiếu, Phương pháp liên ngành... Ngoài ra,
chúng tôi thường xuyên sử dụng các thao tác miêu tả, phân tích, tổng hợp...
3
để làm căn cứ cho kết luận khoa học. Chúng tôi còn cố gắng vận dụng một
số lý thuyết nghiên cứu văn học để giải quyết đề tài như: thi pháp học, tự sự
học, liên văn bản... nhằm đáp ứng tốt hơn mục tiêu của luận án.
6. Đóng góp của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về Sự
thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 trên cả hai
phương diện: nội dung cụ thể của vấn đề số phận con người và hệ thống
phương thức, phương tiện thể hiện số phận con người.
- Góp phần khẳng định sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 ở
một chiều sâu cốt lõi là trình độ tư duy thẩm mĩ về con người.
- Góp phần khẳng định nỗ lực của các nhà văn Việt Nam sau 1975 trong
việc tạo ra những cách thức biểu đạt mới nhằm đem đến những nhận thức,
Dục Tú... Có thể thấy các tác giả đều tìm hiểu một cách khá kĩ lưỡng vấn
đề số phận con người trong các tác phẩm giai đoạn này. Các nhà nghiên
cứu nhìn chung đều chỉ ra trong văn học giai đoạn này, các nhà văn đã lên
án mạnh mẽ tình trạng con người bị chà đạp, bị đè nén, nhìn thấy những
mặt tốt đẹp ở con người lao động, đề cao các giá trị cá nhân của con người.
Một số công trình quan tâm đến việc thể hiện số phận con người trong văn
học và tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975: Nguyễn Văn Long với Quan niệm
nghệ thuật về con người và những đặc điểm của sự thể hiện con người
trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975; Phùng Ngọc Kiếm với Con
người trong truyện ngắn Việt Nam 1945-1975 (bộ phận văn học cách
mạng)... Nhìn chung các ý kiến đều khẳng định con người trong văn học
giai đoạn này là con người quần chúng, là “con người trong sự gắn bó với
lý tưởng xã hội tốt đẹp và khoa học,với lực lượng cộng đồng, với ý thức tự
giác thực hiện nhiệm vụ cách mạng”... Chúng ta còn có thể thấy vấn đề con
người được quan tâm trong nhiều công trình, bài viết của các tác giả khác
như Trần Đình Sử, Phong Lê, La Khắc Hòa, Vũ Tuấn Anh, Phan Cự Đệ,
Hoàng Ngọc Hiến, Lê Ngọc Trà... Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thường
không đặt vấn đề tìm hiểu sự thể hiện số phận con người trong văn học giai
đoạn này với tư cách là một đối tượng chuyên biệt, mà chủ yếu như một
vấn đề "tạt qua" để so sánh, hay làm dẫn chứng minh họa cho một ý tưởng
nào đó trong mạch lập luận của mình.
5
1.1.2. Nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn xuôi Việt
Nam sau 1975
Nguyễn Minh Châu từ trước 1975 đã có những suy tư về câu chuyện
này và sau 1975 lại là người đầu tiên cật vấn nhiều thiếu sót của nền văn
học, trong đó có cách xử lý của nhà văn về các vấn đề liên quan đến sự thể
hiện con người, về mối quan hệ giữa con người với lịch sử, với hiện thực.
đề hiện thực mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm”. Phát huy cao độ khả năng
hư cấu, tiểu thuyết đã tạo cho nhân vật sự bề thế, đa dạng, phức tạp, nhiều
màu sắc... Con người trong tiểu thuyết là con người “tổng hòa các mối quan
hệ xã hội” cho nên nhân vật có thể được khai thác ở cả chiều rộng và chiều
sâu của không gian, thời gian, ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô của đời sống nhân
vật; từ ngoại hình đến hành động, từ cảm xúc nội tâm đến lý trí...
Nếu văn học lấy con người làm đối tượng khám phá, thể hiện thì tiểu
thuyết, với tư cách là "cỗ máy cái" trong các thể loại, với ưu thế là thể loại
ở “thì hiện tại” (cách nói của M. Bakhtin), luôn tiếp cận đời sống ở cự ly
gần, chính là khu vực giàu tiềm năng nhất trong việc thể hiện số phận con
người. Lịch sử tiểu thuyết, từ một góc độ nào đó, có thể nói, là lịch sử của
các quan niệm về con người, lịch sử của việc đào sâu vào số phận con
người. Với cách nhìn này, không khó để nhận ra sự khác nhau trong quan
niệm về con người, trong cách nhìn và sự thể hiện số phận con người ở
từng thời kỳ văn học qua lịch sử vận động của tiểu thuyết.
2.1.3. Số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam trước 1975
Đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945, xã hội đã xuất hiện
những điều kiện thuận lợi cho con người cá nhân phát triển, tự bộc lộ mình,
mở ra cho văn học cơ hội khai thác, đào sâu vào nhiều số phận đa dạng,
nhiều bi kịch đau thương trong đời sống. Tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn
thường viết về số phận những cô gái mới lớn xinh đẹp, có học thức, khao
8
khát tự do nhưng lại gặp bi kịch, trắc trở trong hôn nhân, không được tự
định đoạt tình yêu, hạnh phúc của mình. Các nhà văn hiện thực phê phán
thường quan tâm đến số phận khốn cùng của người nông dân dưới ách
thống trị hà khắc của chế độ thực dân phong kiến; số phận nghèo khổ, cùng
quẫn của những người trí thức chân chính, với nhiều ước mơ và khát vọng
cống hiến nhưng luôn bế tắc...
nghĩ, quan điểm cá nhân về các vấn đề gai góc của cuộc sống, mạnh dạn
bứt phá, thử nghiệm những tìm tòi, sáng tạo, những cách thức thể hiện mới.
9
Các vấn đề về vai trò, chức năng của văn học cũng được xem xét, điều
chỉnh, diễn đạt lại. Văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng tích cực tự làm
mới mình để phù hợp với yêu cầu của thời đại và thị hiếu của công chúng.
Toàn cầu hóa cũng đã mở ra nhận thức mới cho con người Việt Nam. Bên
cạnh việc khẳng định những giá trị thuộc về bản sắc dân tộc, giai cấp, con
người trong văn học còn được nhấn mạnh ở tính nhân loại phổ quát.
Văn học Việt Nam không còn bị khép kín trong tính chất khu vực hay
tính chất “phe” của những nền văn học xã hội chủ nghĩa trước đây mà đã
từng bước mở rộng giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng của nhiều nền văn học
trên thế giới.
2.2.2. Tiền đề văn hóa - thẩm mỹ
Thời kì hòa bình và Đổi mới đã cho phép xuất hiện và phổ biến trong
lòng xã hội Việt Nam những giá trị nhân văn mang tính toàn cầu: quan
niệm chân xác hơn về tự do và bình đẳng; quan niệm về hạnh phúc; sự phổ
biến rộng rãi của lòng yêu thương và khoan dung; sự trung thực; cách xem
xét, lí giải các vấn đề của đời sống cá nhân hay lịch sử đều được cắt nghĩa,
lí giải, nhìn nhận trong mối quan hệ với văn hóa hay các vấn đề của văn
hóa. Đó vừa là đòn bẩy, vừa là môi trường thuận lợi góp phần vào sự khởi
sắc của văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng viết về số phận con người.
Ảnh hưởng của tiểu thuyết hiện đại thế giới và tiểu thuyết thuộc bộ
phận văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 cũng góp phần quan trọng tạo
ra những điểm mới trong sự thể hiện số phận con người của tiểu thuyết Việt
Nam sau 1975. Có thể nhìn nhận những ảnh hưởng ấy ở cả cấp độ quan
niệm và thi pháp.
Mặt khác sự ý thức của các nhà văn về giới hạn của tiểu thuyết trước
dấu ấn trở lại của ý thức cá nhân trong những xúc cảm băn khoăn, tự vấn,
sám hối của nhiều nhân vật. Con người bình tâm hơn trong việc nhìn nhận
lại quá khứ và đưa ra những đánh giá, phán xét nghiêm khắc đối với lịch
sử, rút ra nhiều bài học đau đớn từ những sai lầm ấu trĩ của một thời. Sự thể
hiện số phận con người giai đoạn này gắn với sự đấu tranh để thoát khỏi cái
kén cộng đồng, để nhận thức đúng đắn về giá trị người đã bị bỏ qua, bị bóp
méo, để sống độc lập như nó muốn có. Sự phán xét nghiêm túc này phản
ánh một sự thức tỉnh đáng quý của nhà văn trong hành trình sáng tạo nghệ
thuật. Tiểu thuyết từ 1986 đến những năm đầu của thập kỷ 90 thể hiện
những khám phá tự giác hướng vào chiều sâu bản thể con người, vào số
phận con người. Con người hiện lên với nhiều tầng bậc, bất ngờ mà quyến
rũ. Một số cây bút đã thay đổi hẳn tư duy và cái nhìn về giới. Trong cái
nhìn mới, cởi mở hơn của tinh thần dân chủ, các nhà văn đã chú trọng khai
thác, thể hiện số phận con người trên nhiều phương diện, nhiều tầng bậc.
Đời sống tư tưởng của con người cũng được mở rộng tới nhiều lĩnh vực,
đặc biệt hơn là những chiêm nghiệm về nhân sinh, thế sự, lịch sử, về bản
thể con người, về tôn giáo... Từ giữa những năm 90 đến đầu thế kỷ XXI,
nhiều tác phẩm có những tìm tòi, thể nghiệm đáng mừng trong khám phá,
thể hiện số phận con người. Dấu ấn của con người hiện sinh khá rõ trong
sáng tác giai đoạn cuối thế kỷ XX với sắc thái mới: con người bắt đầu hoài
nghi về tồn tại, mang khát vọng đi tìm bản thể để rồi rơi vào trạng thái
hoang mang rối bời, hoàn toàn thiếu sự chỉ dẫn của lý tính. Rõ ràng, con
người đang được thông hiểu nhưng đồng thời vẫn là những bí ẩn cần được
tiếp tục khám phá.
11
Sang thập niên đầu thế kỷ XXI, các nhà văn, trong đó có rất nhiều cây
bút trẻ đã đưa tiểu thuyết đến một tầm mức mới trong cách khám phá, thể
hiện số phận con người. Nhiều tác phẩm chỉ ra sự phân rã của con người cá
cách nhìn mới, các thang giá trị mới trong nhìn nhận con người; đề cập tới
khát vọng sống, khát vọng về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa. Các
tác giả đã khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời
thường, của cuộc sống riêng tư, không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình
yêu nhục thể là một lĩnh vực rất riêng tư của mỗi cá nhân; đi sâu vào thế
12
giới nội tâm, tâm linh con người...
Tiểu kết chƣơng 2
Từ mốc lịch sử 1975, và đặc biệt là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam đề
xướng công cuộc Đổi mới, văn học Việt Nam, trong đó có tiểu thuyết đã
thực sự chuyển mình. Sự trở lại với cuộc sống đời thường muôn mặt, việc
mở rộng dân chủ trong đời sống xã hội, sự "cởi trói" trong lĩnh vực sáng tác
văn học đã mở ra cho các nhà tiểu thuyết cơ hội "nhìn thẳng vào sự thật,
nói rõ sự thật" về thân phận con người. Các tiểu thuyết gia đã viết với niềm
day dứt vì những "món nợ" chưa trả được cho văn chương, với sự trăn trở
nghiêm túc về thiên chức của loại hình nghệ thuật này trong khát vọng
khám phá, chia sẻ với con người; kết hợp giữa nội lực của chính mình và
kinh nghiệm tiếp thu từ các khuynh hướng tiểu thuyết hiện đại của thế giới.
Tiểu thuyết đã có bước trưởng thành vượt bậc so với giai đoạn trước đó. Nó
không còn chỉ là những bản tráng ca về lịch sử, về dân tộc và thời đại, mà
là những bản tường trình sâu sắc về số phận con người trong lịch sử. Tiểu
thuyết cũng đã tìm đến những phương thức thể hiện mới, huy động được
mọi khả năng có thể, để khám phá chiều sâu của số phận con người, sử
dụng kĩ thuật viết hiện đại như thủ pháp dòng ý thức, sử dụng huyền thoại
hóa, phi logic hóa; linh hoạt trong tổ chức kết cấu, điểm nhìn và ngôi trần
thuật... Những thành tựu ấy không chỉ nâng tầm của chính thể loại tiểu
thuyết, mà còn vẫy gọi, thôi thúc người đọc trang bị cho mình những cách
tiếp cận mới, tự nâng cao tầm đón nhận của bản thân. Từ đó, người viết và
trong họ, thấy được sự giằng xé, đau đớn của con người trước những sự lựa
chọn khó khăn. Đó là những trang viết giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn nỗi
cơ cực mà con người trong chiến tranh phải gánh chịu bởi chính những lựa
chọn cao cả của họ. Khẳng định sự trỗi dậy của khát vọng bản năng vượt
lên trên những chuẩn mực lý tưởng, các nhà văn sau 1975 đã đem đến
những hình ảnh chân thực như nó vốn có về con người, đồng thời cho thấy
rõ hơn bộ mặt phi nhân tính của chiến tranh. Cái giá đắt nhất mà họ phải trả
chính là sự hi sinh những khát vọng, những đam mê cá nhân, kể cả phần
bản năng thầm kín. Họ - những con người ấy - đã phải gác lại sách bút, gác
lại khát vọng về một sự nghiệp, một tương lai phía sau tuổi thanh xuân để
dấn thân vào lò lửa chiến tranh. Họ đã phải kìm nén những cơn đói khát,
thèm muốn nhục thể để làm một người anh hùng, hay chỉ là một người bình
thường trong cái nhìn, trong sự phán xét thuận chiều của lịch sử. Họ, thay
vì thể hiện cá tính của mình, năng lực và bản ngã cá nhân, lại phải chấp
nhận một cuộc sống "muôn người như một", cùng suy nghĩ, cùng hành
động... Và vì điều đó, sau chiến tranh, nhiều nhân vật đã phải khắc khoải,
đau đớn đi tìm lại ý thức về bản ngã của mình.
3.1.3. Sự tiêu mòn nhân tính trong chiến tranh và vì chiến tranh
Số phận con người trong tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 được
miêu tả thông qua sự soi chiếu lại quá khứ ấy không còn màu sắc tươi đẹp,
cao cả như những tiểu thuyết trước đó. Tính chất bi kịch thể hiện ở cái đói
khổ, thiếu thốn, chết chóc mà con người phải chịu đựng trong chiến tranh,
thể hiện ở sự tàn ác của con người kể cả phía địch lẫn phía ta, sự dửng
14
dưng, vô cảm, đánh mất cảm xúc nhân tính của một số thành phần xã hội
khác. Nhưng sự tàn ác, vô cảm ấy, nhất là ở phía địch, đã được lí giải, cắt
nghĩa trên một tinh thần khách quan và chia sẻ hơn. Một số nhà tiểu thuyết
phát hiện thấy cái phần người vẫn còn day dứt trong lương tâm của những
của hiện tại. Sự kém thích ứng còn thể hiện ở những “thắng lợi tạm thời” và
“thất bại vĩnh viễn” của cuộc “thích ứng” thiếu chuẩn bị nghiêm túc. Đó là
sự thích ứng nhanh nhạy nhưng theo kiểu thỏa hiệp, đánh đổi nhân cách để
lấy tiền bạc, danh vọng, chà đạp lên lợi ích người khác. Như vậy, tiểu
15
thuyết sau 1975 đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong quan niệm về con
người với sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, về chiều sâu của nhân cách và sự
phức tạp của quá trình tha hóa nhân cách. Thêm vào đó, sự sụp đổ của các
nguyên tắc ứng xử nhân văn cũng tạo nên những bi kịch trên hành trình số
phận của các nhân vật. Tất cả những điều đó tạo nên nhiều dạng bi kịch của
số phận con người sau chiến tranh. Tiểu thuyết sau 1975 đã thể hiện một
quan niệm không đơn giản xuôi chiều về con người, từ khát vọng khám phá
con người ở nhiều thang bậc giá trị, đến những tọa độ ứng xử khác nhau, ở
nhiều chiều kích khác nhau.
3.2.3. Bi kịch của sự nhầm lẫn trong đi tìm và xác lập bảng giá trị mới
Trong tiểu thuyết sau 1975, sự tự ý thức của nhân vật phức tạp hơn bởi
lẽ cuộc sống thời bình phức tạp so với thời chiến. Nhiều giá trị được điều
chỉnh bổ sung, chẳng hạn nhu cầu tâm linh - tôn giáo, nhu cầu hưởng thụ,
đời sống bản năng... Tuy nhiên, việc xác lập bảng giá trị mới đã gặp những
yếu tố cản trở. Đó là hoàn cảnh xã hội bề bộn và sự thay đổi quá nhanh của
cuộc sống. Nhiều người trong đó có người lính vẫn còn nặng lòng với quá
khứ, không dễ thích ứng hay thỏa hiệp. Con người cá nhân thiếu kiến thức,
kỹ năng sống để thích ứng với hoàn cảnh như thiếu trình độ, bằng cấp,
thiếu sự nhanh nhạy, từ đó tự chuốc lấy những bi kịch hết sức đau đớn.
Những “trả giá” cho việc truy cầu bảng giá trị mới còn được thể hiện qua
việc con người cá nhân đi tìm hạnh phúc đích thực thì lại thường gặp phải
sai lầm, bất hạnh...
3.3. Số phận con ngƣời trong việc khẳng định những gì thuộc về bản thể
mặt tư tưởng
Tiểu thuyết sau 1975 không chỉ đi sâu vào thân phận con người mà còn
chú ý đến sự xác lập niềm tin riêng, quan niệm riêng về lối sống, về hạnh
phúc, về quan hệ cá nhân - tập thể. Ngày càng xuất hiện một cách da diết
hơn những trăn trở về mối tương quan giữa con người cá nhân và con
người cộng đồng. Trong tương quan mới mẻ ấy, mỗi người đều có thể đặt
ra cho mình những lựa chọn riêng về mặt tư tưởng. Tuy nhiên, đấy là quá
trình đầy khó khăn, thậm chí, con người hoàn toàn có thể rơi vào hoàn cảnh
phải đối diện với những bất trắc, nếm trải khổ đau bên cạnh viễn cảnh vẫn
có thể gặt hái những hạnh phúc, những niềm vui. Điều này có thể phụ thuộc
vào khả năng tính toán, lựa chọn của mỗi người, cũng có thể bởi những áp
lực từ ngoài bản thân, do môi trường, hoàn cảnh, do những vấn đề của hệ
thống hành chính hay sức trì kéo của những tiếng vọng quá khứ về mặt tư
duy, về mặt ý thức hệ. Đặt nhân vật trong tương quan với đời sống mới,
trong những lật trở khẳng định những lựa chọn riêng về mặt tư tưởng, cũng
là một cách để các nhà văn miêu tả, thể hiện, khám phá hành trình số phận
con người.
Tiểu kết chƣơng 3
Tiểu thuyết sau 1975, trong cái nhìn mới, cởi mở hơn của tinh thần dân
chủ, với sự đổi mới nội dung phản ánh và những lý giải về số phận con
người, đã chú trọng khai thác, thể hiện số phận con người trên nhiều
phương diện, nhiều tầng bậc: giữa những lựa chọn khó khăn của đời sống
chiến tranh, giữa muôn mặt phức tạp của đời thường và trong việc khẳng
định những gì thuộc về bản thể. Đời sống tư tưởng của con người cũng
được mở rộng tới nhiều lĩnh vực, đặc biệt là những chiêm nghiệm về nhân
17
sinh, thế sự, lịch sử, về bản thể con người. Với cái nhìn toàn diện hơn, các
nhà văn đã nhìn số phận con người trong mọi khả năng và giới hạn của nó.
trong "lưu đày” được xây dựng trong tiểu thuyết đã giúp nhà văn phân tích
sự tồn tại, cấu trúc của xã hội hiện đại, cấu trúc đời sống tâm hồn con người
18
một cách chính xác và sâu sắc.
4.1.2. Tô đậm xung đột giữa con người với hoàn cảnh
Tiểu thuyết sau 1975 đã mạnh dạn đi thẳng vào bên trong của các sự
kiện và biến cố, không né tránh tính chất gay cấn, khốc liệt và phức tạp của
chiến tranh hoặc của đời thường. Nhân vật được đặt vào những hoàn cảnh
thử thách cao độ, không loại trừ những tình huống bi kịch, phải chịu sự cọ
xát, va đập từ nhiều phía. Xung đột giữa con người với hoàn cảnh khốc liệt
của chiến tranh, xung đột giữa con người và hiện thực cuộc sống đời
thường sau chiến tranh, trong những chịu đựng, những âu lo, trong sự dồn
ép bởi đói nghèo, bởi sự phàm tục và cái xấu được tiểu thuyết giai đoạn này
quan tâm thể hiện. Cùng với những xung đột của con người với cái hiện tại,
cái đời thường phàm tục ở đời sống thời bình, con người trong tiểu thuyết
Việt Nam sau 1975 còn phải đối mặt với những xung đột văn hóa, xung đột
về lí tưởng thẩm mĩ...
Trên đại thể, việc phân loại xung đột trong các tiểu thuyết sau 1975 có
thể được khái quát trên nhiều cách khác nhau: xung đột bên trong và xung
đột bên ngoài, xung đột bi kịch và xung đột hài kịch, xung đột cá nhân và
xung đột xã hội, xung đột đơn tuyến và xung đột đa tuyến... Càng có nhiều
cách phân loại càng chứng minh một cách rõ ràng hơn về những nỗ lực của
tiểu thuyết trên hành trình miêu tả, khám phá số phận con người.
4.1.3. Xoáy sâu vào xung đột giữa các bộ phận cấu thành nhân cách
Ở tiểu thuyết sau 1975, các nhà văn đã đi sâu vào khám phá nhân vật
bằng cách xoáy sâu vào xung đột giữa các bộ phận cấu thành nhân cách.
Mẫu nhân vật đơn trị đã thay bằng loại nhân vật đa trị, tính cách nhân vật
không ổn định mà luôn biến động, thay đổi. Đây là điểm rất nổi bật cho
cho người đọc những phán đoán khác nhau. Đấy là điều tạo nên ám ảnh, tính
chất đa thanh về nội dung và kết cấu mở về hình thức của thể loại.
4.2.3. Quan tâm tới tính phiêu lưu, trải nghiệm của nhân vật
Quan tâm đến tính phiêu lưu, trải nghiệm của nhân vật, tiểu thuyết Việt
Nam sau 1975 không chỉ chú ý mô tả các tình huống phiêu lưu của nhân
vật trong những hành trình kì thú, những tình huống li kì kiểu tiểu thuyết
phiêu lưu, trinh thám, với mong muốn khám phá thế giới, hoàn cảnh mà
còn phiêu lưu trong tư tưởng, trong chủ ý hướng đến khám phá, phát hiện
những vấn đề của đời sống bên trong con người.
Trải qua mỗi phiêu lưu, nhân vật không còn đứng yên ở đó, với một
hằng số tính cách, mà nó luôn khác đi trong mỗi trải nghiệm. Trên cơ sở
đó, nó mang trong mình những vò xé của kẻ nhìn thấy trong mình một kẻ
khác, một tha nhân. Điều này góp phần tô đậm thêm tính chất dang dở của số
phận nhân vật, số phận con người và tính bất khả tri, vô thường của thế giới.
4.3. Nghệ thuật tổ chức hệ thống điểm nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ
4.3.1. Đa dạng hóa hệ thống điểm nhìn về số phận con người
Quan sát tiểu thuyết sau 1975 trên phương diện nghệ thuật trần thuật,
chúng ta nhận thấy các nhà văn đã sử dụng nhiều điểm nhìn, đặc biệt kết
hợp linh hoạt điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài như một cách thức
hữu hiệu giúp nhà văn khám phá nhân vật trong chiều sâu của nhân cách.
Trong nhiều tiểu thuyết sau 1975, các nhà văn còn linh hoạt kết hợp
điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời gian, sử dụng nhiều thủ pháp như
20
đồng hiện thời gian, “lắp ghép” không gian và thời gian… để góp phần tạo
ra cái nhìn nhiều chiều về con người.
4.3.2. Linh hoạt trong việc phối trí các sắc thái giọng điệu khi miêu tả số
phận con người
Trong tiểu thuyết sau 1975, cách thức trần thuật đã có nhiều thay đổi. Ý
có những tìm tòi, cách tân thể hiện ở một số phương diện: tổ chức xung đột,
21
xây dựng nhân vật, tổ chức hệ thống điểm nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ.
Khảo sát tiểu thuyết sau 1975, chúng tôi hướng sự chú ý đến những
cách tân cơ bản trong nghệ thuật thể hiện số phận con người. Các nhà tiểu
thuyết sau 1975 đã có tư duy mới trong việc tổ chức xung đột trong tiểu
thuyết, chú ý đan xen nhiều tuyến xung đột, đặc biệt xoáy sâu vào xung đột
giữa các bộ phận cấu thành nhân cách. Về xây dựng nhân vật, các nhà văn
luôn chú ý biệt loại hóa các nhân vật, nhấn mạnh sự chưa hoàn kết của số
phận nhân vật. Vì thế, nhân vật trong tiểu thuyết sau 1975 không nằm trong
thế khép kín, được định sẵn về số phận mà luôn mang tính bất ngờ, tính
không thể dự báo về số phận. Ngoài ra, các nhà văn cũng thể hiện sự đa
dạng, linh hoạt trong phối hợp, dịch chuyển điểm nhìn trần thuật: điểm nhìn
bên trong và điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn nhân vật và điểm nhìn tác giả,
điểm nhìn khách quan và điểm nhìn chủ quan…; kết hợp nhiều giọng điệu
trần thuật: lạnh lùng, khách quan và trữ tình, xúc động, suy tư chiêm
nghiệm và khái quát triết lý, bi quan, lo âu và lạc quan tin tưởng… Sự đa
dạng của các phương thức, phương tiện trần thuật nhằm khám phá, thể hiện
số phận con người đã chứng minh một cách rõ ràng hơn về những nỗ lực
đổi mới và những thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975.
KẾT LUẬN
1. Văn học, nhất là tiểu thuyết, bao giờ cũng quan tâm miêu tả con
người, trong đó đặc biệt chú ý đến câu chuyện số phận. Ba mươi năm chiến
tranh cách mạng, vấn đề số phận con người, nhất là con người cá nhân có
lúc đã bị lãng quên trong tiểu thuyết Việt Nam do yêu cầu của lịch sử. Sau
ngày đất nước thống nhất, đặc biệt là từ khi công cuộc Đổi mới được đề
xướng, những điều kiện xã hội - thẩm mĩ mới đã mở rộng con đường để thể
với tất cả sự phong phú, đa dạng, phức tạp, bí ẩn và đầy biến hóa của nó.
3. Tiểu thuyết sau 1975 mang đến những phản ánh và lý giải mới về số
phận con người, điển hình là những lựa chọn khó khăn của đời sống chiến
tranh, những phức tạp của cuộc sống đời thường, sự khẳng định những gì
thuộc về bản thể... Dưới sự tác động của tinh thần đổi mới, đi cùng sự thay
đổi về quan niệm hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con người, tiểu thuyết
sau 1975 viết về số phận con người đã đào sâu hơn vào những yếu tố cá
nhân, đời tư, đào sâu hơn vào bi kịch của con người. Điều này như một sự
bổ sung cho tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn trước đó.
Viết về số phận con người giữa những lựa chọn khó khăn của đời sống
chiến tranh, các nhà văn đã cho người đọc thấy được sự giằng xé giữa cái
cao cả và cái thấp hèn, giữa cái tốt và cái xấu, giữa khổ đau và sung sướng,
giữa nụ cười và nước mắt. Những con người này đã tự đấu tranh, tự lộn trái
mình... để bảo vệ phẩm giá, để hướng tới bảo vệ những giá trị của cộng
đồng, của dân tộc và đất nước. Số phận con người giữa muôn mặt phức tạp
của đời thường sau chiến tranh được các nhà văn lý giải từ bi kịch của việc
kém thích ứng, bi kịch của việc thích ứng vội vàng mà thiếu hụt căn bản
văn hóa, bi kịch loay hoay xác lập bảng giá trị mới. Qua những trang viết
của các nhà văn, chúng ta thấy mỗi con người là một nẻo số phận. Trong
chiến tranh, họ phải chịu đựng bao mất mát hy sinh, thế nhưng khi hòa bình
lập lại, những hạnh phúc, niềm vui trong cuộc sống với họ cũng chẳng đơn
23
giản, dễ dàng chút nào. Với việc đi sâu phản ánh về khía cạnh này trong số
phận con người với niềm cảm thông, chia sẻ sâu sắc, dường như các nhà
văn muốn nói rằng: sự nghiệp giành độc lập, thống nhất đất nước là vô cùng
khó khăn, nhưng sự nghiệp xây dựng đất nước, đem lại hạnh phúc, no ấm, tự
do cho con người lại càng phức tạp, gian nan bội phần.
Vấn đề số phận con người còn được tiểu thuyết sau 1975 làm nổi bật
phải ngẫu nhiên mà người ta đã cảm nhận thời bây giờ là “thời của tiểu
thuyết” (Nguyễn Huy Thiệp), thời của dân chủ và sáng tạo trong tiếp nhận.
24
Tiểu thuyết, với ưu thế riêng của mình, sẽ là thể loại đáp ứng yêu cầu nhận
thức, phân tích con người và xã hội thời hiện đại. Nghiên cứu tiểu thuyết
sau 1975, luận án của chúng tôi muốn góp phần đem lại cái nhìn hệ thống
về sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam ở một thời kỳ
phát triển mới, từ đó góp phần làm rõ hơn quy luật vận động nội tại của văn
học nói chung và tiểu thuyết nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và
giao lưu văn hóa hiện nay.
25
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Lê Thị Hằng, Sự biến đổi của ý thức nghệ thuật trong tiểu thuyết và
truyện ngắn Việt Nam sau 1985 (nhìn từ một số phương diện của trần
thuật), Tạp chí Khoa học,Trường Đại học Vinh, tập 41, số 2B, 2012
(trang 25 - 30).
2. Lê Thị Hằng, Cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ trong văn xuôi Việt Nam
1975-1985 viết về chiến tranh, Tạp chí Văn hoá Nghệ An, số 228, 2012
(trang 27 - 28).
3. Lê Thị Hằng, Những lựa chọn khó khăn của con người trong đời sống
chiến tranh - một phương diện của sự thể hiện số phận con người trong
tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học
Vinh, tập 42, số 2B, 2013 (trang 21 - 26).
4. Lê Thị Hằng, Bi kịch đời thường của số phận con người thời hậu chiến
trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học