TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
***************
TRẦN THỊ HƢƠNG
HIỆN THỰC CHIẾN TRANH
VÀ SỐ PHẬN CON NGƢỜI TRONG
TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN TRÍ HUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới cô giáo, TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
khóa luận. Xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các
thầy, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Mặc dù có nhiều cố gắng song với trình độ và kiến thức còn hạn chế của
ngƣời viết, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong nhận đƣợc sự góp ý chân thành của thầy cô và các bạn sinh viên để
khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn.
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên
TRẦN THỊ HƢƠNG
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác ................................................................................ 15
CHƢƠNG 2: HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ SỐ PHẬN CON NGƢỜI 19
TRONG TIỂU THUYẾT CUẢ NGUYỄN TRÍ HUÂN - NHÌN TỪ NỘI
DUNG PHẢN ÁNH ........................................................................................ 19
2.1. Bức tranh hiện thực .................................................................................. 19
2.1.1. Hiện thực chiến trƣờng.......................................................................... 19
2.1.2. Hiện thực đời thƣờng ............................................................................ 24
2.2. Số phận con ngƣời.................................................................................... 28
2.2.1. Số phận ngƣời lính ................................................................................ 28
2.2.2. Số phận ngƣời phụ nữ ........................................................................... 34
2.2.3. Số phận trẻ em ....................................................................................... 37
CHƢƠNG 3: HIỆN THỰC CHIẾN TRANH VÀ SỐ PHẬN CON NGƢỜI
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN TRÍ HUÂN -NHÌN TỪ HÌNH
THỨC NGHỆ THUẬT ................................................................................... 41
3.1. Nghệ thuật kể chuyện ............................................................................... 41
3.2. Ngôn ngữ .................................................................................................. 44
3.3. Giọng điệu ................................................................................................ 49
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chiến tranh - cho đến nay vẫn là một đề tài lớn mang tầm vóc nhân loại.
Nó từng có bề dài và bề dày trong tiến trình của lịch sử văn học thế giới.
Chiến tranh âm vang trong bản trƣờng ca Iliat và Ôđixê của Homerơ, trong bộ
tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hòa bình của Tolstoi… và gần hơn, trong
Chuông nguyện hồn ai của Hemingway, trong Cái trống thiếc của Gunter
và Chim én bay. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn đƣợc đánh dấu bằng hai giải
thƣởng lớn: giải thƣởng Văn học Bộ Quốc phòng 1985-1989 và giải thƣởng
Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990 với tác phẩm Chim én bay. Đồng thời, năm
2007, ông cũng đạt giải Nhà nƣớc về Văn học nghệ thuật.
Tiếp nối mạch nguồn của dòng tiểu thuyết hậu chiến về đề tài chiến
tranh cách mạng, tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân luôn đƣợc nhắc đến cùng với
Chu Lai, Nguyễn Minh Châu, Khuất Quang Thụy, Thái Bá Lợi, Bảo Ninh…
nhƣ một thế hệ nhà văn mặc áo lính tiêu biểu nhất cho thể loại tiểu thuyết viết
về chiến tranh nói riêng và văn học sau năm 1975 nói chung. Dẫu không sở
hữu một khối lƣợng tác phẩm đồ sộ nhƣ Chu Lai với Phố, Nắng đồng bằng,
Ăn mày dĩ vãng, Vòng tròn bội bạc, Ba lần và một lần, Cuộc đời dài lắm,
Khúc bi tráng cuối cùng…; cũng chƣa có một tác phẩm gây tiếng vang lớn
nhƣ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh nhƣng cả hai tiểu thuyết Năm 1975,
họ đã sống như thế và Chim én bay của Nguyễn Trí Huân luôn xuất hiện
trong các bài báo, bài phê bình hay nghiên cứu về tiểu thuyết giai đoạn này.
Chúng đƣợc đánh giá nhƣ những tiểu thuyết xuất sắc viết về cuộc chiến tranh
chống Mỹ cứu nƣớc anh hùng của toàn dân tộc. Với hai tiểu thuyết này,
Nguyễn Trí Huân đã nói “bao điều bão tố ở bên trong” mà một thời ông chƣa
kịp nói. Cùng với độ lùi của thời gian, nhà văn đã viết về chiến tranh với sự
thấu đáo và từng trải hơn. Chiến tranh và số phận con ngƣời đƣợc nhà văn
2
“tái bút” trên nhiều bình diện và cấp độ. Đó là những trăn trở, những chiêm
nghiệm đầy suy tƣ về hiện thực và con ngƣời. Hiện thực chiến tranh tàn khốc
cùng sự giằng xé trong cuộc sống thời bình và số phận con ngƣời với những
nỗi đau, thƣơng tổn về nhân tính và hạnh phúc… tất cả đã hằn in và ám ảnh
trong tâm khảm bạn đọc bao thế hệ. Đó chính là lí do, động lực khiến chúng
tôi lựa chọn đề tài: Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu
gian dài đi đâu hẳn, thoát ra mọi sự vụ thì mới có thể viết được”. Vậy nhƣng,
sau khi từ chiến trƣờng trở về, học xong khóa I trƣờng viết văn Nguyễn Du,
ông liên tục vƣớng bận vào công việc, nên thời gian dành cho văn chƣơng trở
nên eo hẹp dần.
Trên báo điện tử Tổ quốc, tác giả Đức Đan có bài viết Nguyễn Trí Huân:
làm báo phải có bản lĩnh. Trong bài viết này, nhà văn đã thể hiện quan điểm
của mình về phẩm chất quan trọng của nhà báo nói riêng và ngƣời viết nói
chung, đó là bản lĩnh: “Để có một bài báo hay thì nhà báo, nhà văn phải sống
trong sự thật mà mình viết, phải trải. Nếu chỉ nghe kể thôi để lấy tư liệu viết
lại thì không thể hay được” [8].
Thứ đến là những bài phê bình, đánh giá về các sáng tác của Nguyễn Trí
Huân, trong đó tập trung chủ yếu vào tiểu thuyết. Với tiểu thuyết Năm 1975,
họ đã sống như thế, tác giả Hoài Anh có bài viết Tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân
- Một cách nhìn chiến tranh xác thực trên website o. Tác
giả đánh giá tiểu thuyết này “không chỉ dự báo những cuộc chiến tranh xảy ra
trong tương lai” mà “còn dự báo về sự lan rộng của những hiện tượng tiêu
cực ở Miền Bắc”. Bên cạnh đó, bài viết còn tổng kết một số thành tựu nghệ
thuật đặc sắc của tác phẩm nhƣ lối kể chuyện chính xác, sinh động, nghệ thuật
xây dựng, miêu tả tâm lí nhân vật chân thực.
Sau khi đoạt giải thƣởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988-1989,
tiểu thuyết Chim én bay đã nhận đƣợc sự chú ý của đông đảo dƣ luận cũng
nhƣ giới nghiên cứu, phê bình. Tiêu biểu trong số đó là hai bài viết Chim én
4
bay - Một cách nhìn về chiến tranh của tác giả Phạm Hoa đăng trên báo Văn
nghệ năm 1989 và Đồng hiện - Một thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả trong
tiểu thuyết Chim én bay của Ngô Vĩnh Bình đăng trên báo Văn nghệ năm 1990.
Tác giả Phạm Hoa cho rằng Nguyễn Trí Huân đã thể hiện nhận thức về
đến nhiều khía cạnh khác nhau trong tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân. Chƣa có
một đề tài nào đề cập đến hiện thực chiến tranh và số phận con ngƣời. Vì thế,
tiếp thu gợi ý của những nhà nghiên cứu đi trƣớc, đề tài chúng tôi sẽ đi sâu
tìm hiểu: Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu thuyết của
Nguyễn Trí Huân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu
thuyết của Nguyễn Trí Huân, tác giả khóa luận mong muốn làm rõ những
đóng góp mới mẻ của Nguyễn Trí Huân về hiện thực chiến tranh và con ngƣời
trong tiểu thuyết Năm 1975, họ đã sống như thế và Chim én bay. Từ đó càng
nhận thức rõ hơn vị trí văn học sử của nhà văn trong đời sống văn học Việt
Nam sau 1975.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết của thể loại tiểu thuyết sau năm 1975
với những đổi mới trong quan niệm về hiện thực và con ngƣời.
Tìm hiểu về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Trí Huân.
Làm rõ hiện thực chiến trƣờng và hiện thực đời thƣờng, lý giải số phận
ngƣời lính, ngƣời phụ nữ và trẻ em trong hai tiểu thuyết Năm 1975, họ đã
sống như thế và Chim én bay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu khóa luận là Hiện thực chiến tranh và số phận
con người trong tiểu thuyết của Nguyễn Trí Huân.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Triển khai đề tài Hiện thực chiến tranh và số phận con người trong tiểu
1.1. Thể loại tiểu thuyết sau 1975
Năm 1975 khép lại một thời kỳ lịch sử vinh quang của dân tộc, cũng là
năm mở ra một thời kỳ mới cho sáng tác văn học trong yêu cầu tái tạo lại thời
kỳ lịch sử này. Đƣợc coi là chiếc “máy cái” trong nền văn học hiện đại, thành
tựu và những quy luật vận động của tiểu thuyết có ý nghĩa rất quan trọng đối
với việc nghiên cứu văn học sử. Ở nƣớc ta, tiểu thuyết chỉ thực sự đƣợc khẳng
định nhờ tài năng của các cây bút Tự lực văn đoàn và các nhà văn hiện thực
giai đoạn 1930-1945. Trên những kinh nghiệm khá phong phú đó, tiểu thuyết
Việt Nam sau năm 1945 tự điều chỉnh để trở thành một vũ khí đa dạng trƣớc
yêu cầu phục vụ kháng chiến và công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các tác
phẩm mang tính sử thi trở thành dạng thức tiểu thuyết điển hình trong hai giai
đoạn kháng chiến vệ quốc. Tiểu thuyết từ 1975 đến nay không cắt lìa truyền
thống đã có nhƣng ý thức “làm mới”, “làm giàu”, “làm khác” truyền thống đã
và đang trở thành khát vọng, nhu cầu mạnh mẽ của ngƣời cầm bút. Với những
nỗ lực đổi mới, bốn thập kỉ qua đã tạo ra không ít tiểu thuyết có giá trị, bên
cạnh sự đông đúc của đội ngũ tác giả, sự dồi dào về số lƣợng tác phẩm là sự
đa dạng về bút pháp, sự phong phú về đề tài và chủ đề. Áp lực cạnh tranh từ
các phƣơng tiện giải trí - truyền thông, lối sống và nhịp độ sống hiện đại vừa
là yếu tố kích thích vừa là nguy cơ làm hao mòn tình yêu văn chƣơng. Ngƣời
viết bây giờ buộc phải đối diện với đòi hỏi: mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu
thuyết phải sáng tạo ra một hình thức riêng, một nội dung phong phú, xác thực.
Tiếp thu những thành tựu từ văn học giai đoạn 1945-1975, tiểu thuyết từ
sau năm 1975 vẫn tiếp tục khơi sâu vào mảng đề tài chiến tranh vốn là thế
8
mạnh này. Nhiều ngƣời gọi tiểu thuyết ngay sau năm 1975 là chặng đƣờng
chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học của
thời kì hậu chiến để đi tới công cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc, đồng bộ với
thực đang cố đƣợc gột tẩy. Phạm vi hiện thực đƣợc mở rộng, có sự bổ sung
những miền hiện thực mới, những góc khuất, những vùng cấm địa mà trƣớc
đây chƣa có hoặc ít đƣợc nói đến. Nếu nhƣ hiện thực trong chiến tranh đề cập
đến những gam go, khốc liệt nhƣng rất hào hùng của dân tộc thì sau chiến
tranh, bộ mặt thật của hiện thực đã hiện ra với tất cả sự khốc liệt của nó,
không còn giản đơn, xuôi chiều nhƣ tiểu thuyết trƣớc đây.
Sự đổi mới quan hệ nhà văn với hiện thực hậu chiến phải chăng bắt
nguồn từ nhu cầu đƣợc nói thật “phương châm nhìn thẳng vào sự thật làm
nhà văn nhận rõ những non yếu của văn học thời kì trước” [25, 12]. Hiện
thực chiến tranh lúc này đƣợc nhận thức là cái chƣa biết, không thể biết, cái
phức tạp cần phải khám phá. Chính vì vậy, hiện thực trong các sáng tác đƣợc
ngƣời nghệ sĩ lựa chọn, chắt lọc, khái quát và tái tạo. Ngay cả ở các tiểu
thuyết mà cảm hứng sử thi vẫn giữ vai trò chủ đạo thì hiện thực đều đƣợc
miêu tả trên một bình diện mới. Chiến tranh trong Đất trắng, Chim én bay, Ăn
mày dĩ vãng… đã đƣa độc giả khám phá với một bộ mặt mới của chiến tranh,
ở đó không phải lúc nào cũng có màu đỏ của chiến thắng mà nhiều khi là màu
xám của thất bại và chết chóc. Có thể nói, thời gian càng lùi xa thì nhà văn
càng có cái nhìn kĩ hơn, sâu hơn về cuộc chiến và cách viết của họ cũng đa
chiều hơn, toàn diện hơn. Những tổn thƣơng của ngƣời lính đƣợc phản ánh
trên tinh thần trung thành tuyệt đối với lịch sử, không bỏ sót một ai và không
bỏ sót điều gì.
Bên cạnh việc hƣớng ngòi bút tới những thời điểm khốc liệt, bi quan của
chiến tranh, các nhà văn hậu chiến còn mở rộng phạm vi hiện thực về thời
điểm hiện tại - nơi chiến tranh đã đi qua nhƣng không phải bình yên đã thực
sự trở lại. Đó là lúc những con ngƣời trở về sau chiến tranh vẫn không ngơi
10
nghỉ, tiếp tục cuộc chiến đấu tranh để đứng vững trong hoàn cảnh mới. Ở
nhiều hơn. Cùng với hiện thực đa chiều, con ngƣời đƣợc nhìn nhận trong
nhiều bình diện và nhiều tầng bậc. Đặc biệt, nếu giai đoạn trƣớc, văn học
dùng con ngƣời làm phƣơng tiện để biểu đạt lịch sử thì giờ đây, văn học qua
thăng trầm lịch sử mà khắc họa số phận con ngƣời.
Cùng với sự xuất hiện hình ảnh ngƣời lính - hình ảnh quen thuộc của tiểu
thuyết chiến tranh, trong sáng tác thời kì này còn nổi bật lên bức chân dung
những con ngƣời thời bình. Vẫn là những hình ảnh đẹp, song bƣớc ra từ cuộc
chiến, những ngƣời lính chĩu nặng suy tƣ, với ám ảnh sâu sắc về quãng thời
gian đã qua, với bộn bề suy nghĩ, dằn vặt và một tâm hồn mang đầy thƣơng
tích nhƣ Quy (Chim én bay), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh)… Mỗi nhân vật
trong tiểu thuyết hậu chiến đều có một số phận riêng, một cảnh ngộ riêng
song họ gặp nhau ở một điểm đó là những thƣơng tổn tinh thần.
Không chỉ khắc họa hình ảnh ngƣời lính với niềm say mê lí tƣởng nhiều
tác phẩm còn lột trần bộ mặt đớn hèn, tham sống sợ chết, háo sắc và phản bội.
Bên cạnh đó, tiểu thuyết hậu chiến còn đặc biệt chú ý khai thác và tô đậm
hình ảnh ngƣời lính với những đổ vỡ của tâm hồn, mang thƣơng tật vĩnh viễn.
Đối với ngƣời lính trong Ăn mày dĩ vãng, Chim én bay, Nỗi buồn chiến tranh,
Bến không chồng… Chiến tranh nhƣ một định mệnh nghiệt ngã, một “nhát
dao phạt ngang” cuộc đời. Thể hiện hình ảnh ngƣời lính trong tâm trạng đầy
bi kịch này, dƣờng nhƣ các nhà văn đã nhận thức rõ đƣợc sự chi phối mạnh
mẽ của hoàn cảnh chiến tranh đến số phận con ngƣời. Ngƣời lính giờ đây
không còn là những con ngƣời vĩ đại có thể thay đổi lịch sử mà đôi khi họ còn
yếu đuối, bất lực, thƣờng xuyên rơi vào bi kịch cô đơn, lạc lõng.
Cùng với việc mạnh dạn khai thác những bi kịch sâu sắc trong cuộc đời
mỗi con ngƣời. Các nhà văn “gửi gắm những câu hỏi nghiêm túc về con
người, về cuộc vật lộn giữa con người với hoàn cảnh để tìm kiếm chính mình”
[2, 51]. Có thể coi đây là hƣớng đi mới của tiểu thuyết chiến tranh trên con
12
ông đã viết truyện ngắn đầu tiên đƣợc in trên tạp chí Văn nghệ quân đội. Năm
1971, sau khi học xong lớp bồi dƣỡng nhà văn khóa 4, khóa đặc biệt dành cho
chiến trƣờng, ông đƣợc điều vào khu V làm phóng viên và biên tập viên tạp
chí Văn nghệ quân đội miền Trung Trung Bộ. Mặt trận khu V nói chung và
mặt trận Quảng Đà nói riêng thời kì này vô cùng ác liệt. Ông đã cùng đồng
nghiệp xuống tận cơ sở, bám trụ và viết.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Nguyễn Trí Huân tham gia đội
hình của sƣ đoàn 3 - Sao vàng vào giải phóng Đà Nẵng, Phan Rang, Bà Rịa,
sau đó ra tiếp quản Côn Đảo. Sau này, hình ảnh sƣ đoàn 3 đã in đậm và trở
thành không gian chính trong các sáng tác của nhà văn.
Sau năm 1975, đất nƣớc hoàn toàn thống nhất, Nguyễn Trí Huân về trại
sáng tác văn học thuộc quân khu V. Cuối năm 1979, ông trở lại Hà Nội và học
khóa I trƣờng viết văn Nguyễn Du. Tốt nghiệp khóa học, Nguyễn Trí Huân
đƣợc tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đều về tạp chí Văn nghệ
quân đội làm biên tập viên rồi làm trƣởng ban văn xuôi. Ít lâu sau, ông đƣợc
đề bạt làm Phó tổng biên tập rồi Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ quân đội.
Ông đƣợc bầu làm ủy viên ban chấp hành khóa VII, ủy viên Đảng đoàn Hội
Nhà văn Việt Nam. Hiện nay, Ông là Phó tổng thƣ kí Hội Nhà văn Việt Nam
kiêm Tổng biên tập tuần báo Văn nghệ.
Cũng nhƣ bao ngƣời lính trên khắp đất nƣớc Việt Nam, cuộc đời của
Nguyễn Trí Huân cũng bị chiến tranh gây nên những thƣơng tổn nặng nề. Đất
nƣớc hòa bình nhƣng ngƣời anh trai của ông nằm lại nơi chiến trƣờng. Vành
khăn tang nhƣ vòng kim cô siết chặt trên đầu mỗi thành viên trong gia đình.
Có lần ông tâm sự: Tôi là ngƣời lính, cũng nhƣ nhiều gia đình Việt Nam khác,
gia đình tôi đã bị cuộc chiến tranh xâm lƣợc của Mỹ xé rách. Cho đến nay đã
ba mƣơi năm trôi qua, cái chết của anh tôi đối với cha mẹ tôi, chị tôi vẫn
khủng khiếp nhƣ vừa mới xảy ra hôm qua. Có chăng số phận may mắn hơn
15
Dù viết ít song tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân có một vị trí nhất định trong
bức tranh chung của tiểu thuyết giai đoạn hậu chiến và làm phong phú thêm
mảng tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kì này. Với hai cuốn tiểu thuyết
nhƣng nhà văn Nguyễn Trí Huân đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng
độc giả và thành công trong sáng tác của ông cũng đƣợc giới lí luận, phê bình
ghi nhận. Có thể nói, nếu Đất trắng làm nên Nguyễn Trọng Oánh, Ăn mày dĩ
vãng làm nên Chu Lai, Nỗi buồn chiến tranh nổi danh cùng tên tuổi Bảo
Ninh, Lê Lựu gắn với Thời xa vắng, Dƣơng Hƣớng đi cùng Bến không chồng
thì nhắc đến Năm 1975, họ đã sống như thế hay Chim én bay là nhắc tới nhà
văn - nhà báo Nguyễn Trí Huân.
Tiểu thuyết Năm 1975, họ đã sống như thế lấy cảm hứng từ chiến thắng
của chiến dịch Hồ Chí Minh với tâm điểm là khoảng thời gian gần ngày giải
phóng 30 tháng 4 năm 1975. Trong tiểu thuyết không có nhân vật nào là nhân
vật trung tâm, các nhân vật Thư, Thức, Thiết, Mạc, Nhã… xuất hiện rải rác,
đan xen nhau. Mỗi con ngƣời một quê hƣơng, một tính cách nhƣng họ luôn
sát cánh cùng nhau và chia sẻ khó khăn trong lúc bom rơi, đạn nổ nơi chiến
trƣờng. Bằng việc tạo ra sự đa dạng về điểm nhìn, Năm 1975, họ đã sống như
thế đã đem lại những góc nhìn đa diện về cuộc chiến tranh. Việc sử dụng nhật
kí của một tên sĩ quan ngụy chết trƣớc cuộc tổng tiến công mùa xuân năm
1975 ở ngay những trang đầu tiên trong tiểu thuyết, bản chất chiến tranh từ
phía địch đƣợc lộ rõ: “Chiến tranh cần thiết hay vô ích? Nó nâng cao con
người hay hủy hoại con người? Thật ra, cho đến giờ phút này ta cũng chưa
thể đưa ra một kết luận nào chắc chắn” [16, 8]. Với ngƣời lính ở phe ta, tham
gia cuộc chiến tranh chính là một sự tự nguyện, là sự cống hiến hết mình cho
Tổ quốc. Nhƣng với sĩ quan ngụy, chiến tranh chỉ là “Một đống sự phi lí, méo
mó” trong cái tập thể “ung thối”. Chiến tranh đã hủy hoại cả một thế hệ trẻ,
đã tạo ra sự đối lập nghiệt ngã giữa số phận trẻ em và chiến tranh. Chiến tranh
đã cắt những vết thƣơng lên tâm hồn và thể xác những em nhỏ - đội viên đội
17
Chim én, khi chƣa hiểu thế nào là qui luật của chiến tranh thì các em đã bị nó
cuốn vào guồng quay khốc liệt nhƣ mọi sinh linh khác. Quy trở thành trẻ mồ
côi khi chƣa tròn 12 tuổi, 15 tuổi trở thành đàn bà và mất vĩnh viễn quyền làm
mẹ. Có lẽ, không ở đâu nhƣ trên đất nƣớc Việt Nam, thứ “đồ chơi” duy nhất
đầy sức ám ảnh với tuổi thơ Quy, Dũng, Thêm, Dũng nhỏ và những con én bé
nhỏ khác là cây Ru-lô, khẩu K54, quả lựu đạn… những thứ vũ khí đen ngòm
và vô tình của chiến tranh. Không ở đâu mà “trò chơi” duy nhất trong tuổi thơ
của các em lại là việc đi tìm diệt những kẻ phản bội đã gây nên tội ác với gia
đình và đồng bào mình. Chim én bay không chỉ đặc tả đƣợc những khuôn mặt
dị dạng và gớm ghiếc của chiến tranh mà còn đặt ra vấn đề nhân đạo. Đặc
biệt, với việc xây dựng kết cấu theo dòng kí ức, sử dụng đắc địa thủ pháp
đồng hiện Nguyễn Trí Huân đã tạo đƣợc một hiệu ứng đặc biệt trong cảm xúc
của độc giả.
Là một nhà văn không có nhiều sáng tác, song Nguyễn Trí Huân đã có
những đóng góp quan trọng vào sự đổi mới văn học sau 1975, đặc biệt là ở
thể loại tiểu thuyết. Qua nhiều thế hệ, các sáng tác của ông luôn đƣợc bạn đọc
đón nhận với niềm yêu mến và trân trọng.
Tiểu kết: Tiểu thuyết hậu chiến tiếp nối mạch nguồn của đề tài chiến
tranh từ văn học chống Pháp, chống Mỹ nhƣng đã tạo dựng đƣợc một diện
mạo hoàn toàn mới thông qua việc thay đổi cách tiếp cận hiện thực và phản
ánh con ngƣời. Hòa vào dòng chảy chung của tiểu thuyết sau 1975, tiểu
thuyết Nguyễn Trí Huân không chỉ góp phần làm phong phú thêm bức tranh
chung của tiểu thuyết hậu chiến mà còn tạo đƣợc những nét chấm phá trong
bức phác họa về chiến tranh ấy.
19
khí sử thi hừng hực khí thế trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh
Châu, ngay từ đầu tiểu thuyết đã mở ra một khung cảnh tan tác khi D3 để mất
cao điểm 174. Súng nổ, lựu đạn liên tiếp ném xuống, anh em thƣơng vong
gần hết “ba người ngồi nép vào nhau trong căn hầm sụt lở giữa đỉnh đồi.
Thỉnh thoảng một mảng trời méo mó lại lộ ra sau màn khói đạn dày đặc” [16,
33], “Sau mỗi loạt pháo (…) đầy khói đạn cứ loang lổ dần, thăm thẳm trên
đỉnh đầu” [16, 34]. Mất cao điểm 174, cuộc chiến liên tiếp rơi vào những tình
huống vô cùng khó khăn. Đặc biệt, càng đến những ngày cuối cùng của chiến
dịch, trận tuyến giữa ta và địch càng co hẹp lại. Ở bên này, Phác, Duật và cả
sƣ trƣởng Khâm dù muốn hay không vẫn phải nhắm bắn thẳng về phía bên kia
trong đó có em, anh và con mình. Chiến tranh đã len lỏi vào mỗi gia đình và họ
nghiễm nhiêm phải đối mặt nhau, trở thành kẻ thù của nhau trên chiến tuyến.
Bối cảnh chính của tiểu thuyết diễn ra ở Hoài Châu, Hoài Nhơn nhƣng
chiến trƣờng đã bị thu hẹp đến cùng cực. Có những lúc ranh giới giữa ta và
địch chỉ cách nhau một con đƣờng, một ngôi nhà, thậm chí một bức tƣờng đổ.
Rõ ràng, dù vẫn mang âm hƣởng sử thi khi miêu tả chiến tranh nhƣng nhà văn
đã hƣớng ngòi bút của mình đến gần sát hơn với hiện thực. Ở đó, ngƣời đọc
nhƣ đƣợc nhìn vào cận cảnh với “đạn nổ choang chác, veo véo ở xung quanh”
[16, 211]. Đối với vùng bắc Bình Định, bom đạn đã in dấu trên những căn
nhà, những thửa ruộng, gần nhƣ không đâu là không có hố bom, hố đạn.
Những ngôi mộ nằm kề sát những ngôi nhà, những căn hầm. Không né tránh
những thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh, Nguyễn Trí Huân đã cho
ngƣời đọc thấy đƣợc diễn biến chân thực nhất của nó. Có những lúc cả ba tiểu
đoàn, chỉ sau trận đánh đầu tiên, quân số còn lại quá ít ỏi. Tiểu đoàn pháo
binh của Phác, tiểu đoàn công binh của Khải liên tục đƣợc tăng cƣờng nhƣng
cũng liên tục gặp phải thất bại. Phƣơng án vƣợt sông không thành, đến cuộc
hành quân đƣờng bộ thì ngƣời nào cũng mệt nhoài “càng đi càng có cảm giác