TS. NGUYỄN THỊ KIM TIẾN
CON NG¦êI
TRONG TIÓU THUYÕT VIÖT NAM
THêI Kú §æI MíI
(Chuyên luận)
NHµ XUÊT B¶N §¹I HäC QuèC GIA Hµ NéI
2
CON NG
I TRONG TI U THUY T VI T NAM TH I K Đ I M I
M cl c
3
M CL C
L i nói đ u ................................................................................................. 7
Ch
ng I
QUAN NIÖM NGHÖ THUËT VÒ CON NG¦êI Vµ CON NG¦êI
TRONG THÓ LO¹I TIÓU THUYÕT
1.1. Quan ni m ngh thu t v con ng
1.2.2. Con ng
i trong ti u thuy t sau 1986 .................................... 34
1.2.2.1. Ti p t c khuynh h ng ca ng i nh ng ph m ch t
con ng i m c đ cao hơn .................................. 35
1.2.2.2. Con ng
i cá nhân g n v i c m h ng bi k ch.......... 37
1.2.2.3. Con ng
i tr
1.2.2.4. Con ng
i trong chi u sâu t nh n th c ................. 42
1.2.2.5. Con ng
i đa nhân cách......................................... 44
1.2.2.6. Con ng
iđ
c nguy cơ tha hóa............................ 40
c khai thác góc b n n ng tính d c ..... 46
2.1.1.2. Con ng
i t nhiên trong cu c s ng đ i th
2.1.2. Ng
ng ..... 74
i nông dân .................................................................... 78
2.1.2.1. Con ng
i mang d u v t “tha hóa” ......................... 79
2.1.2.2. N n nhân c a nh ng ràng bu c l c h u .................. 83
2.1.3. Ng
2.2. Con ng
i trí th c ........................................................................ 86
2.1.3.1. Con ng
i c a l ơng tri và trí tu ............................ 86
2.1.3.2. Con ng
i c a s m u toan, t l i, ích k , hám danh .. 90
id
Ch
ng III
NGHÖ THUËT X¢Y DùNG NH¢N VËT TRONG TIÓU THUYÕT
THêI Kú §æI MíI
3.1. Nh ng cách tân t truy n th ng .................................................... 129
3.1.1. Mô t nhân v t qua ph ơng di n bên ngoài ........................ 130
3.1.2. Miêu t tr c ti p tâm lý qua n i tâm .................................... 136
M cl c
5
3.2. Ti p c n nhân v t v i bút pháp hi n đ i ....................................... 140
3.2.1. Xây d ng nhân v t theo l i “ n danh” ................................. 140
3.2.2. Xây d ng nhân v t qua nh ng m nh v n tâm lý,
ký c r i r c không liên k t ................................................. 147
3.2.3. Xây d ng nhân v t v i ph ơng th c huy n tho i hóa .......... 157
Ch
ng IV
NG¤N NG÷ NGHÖ THUËT TRONG TIÓU THUYÕT VIÖT NAM
THêI Kú §æI MíI
4.1. Ngôn ng có tính l ch s c th ..................................................... 166
4.2. Ngôn ng gi n d , t nhiên, d hi u .............................................. 169
4.3. Ngôn ng mang màu s c dân gian ................................................ 171
hướng đa chiều. Chính vì vậy, cấu trúc thế giới nghệ thuật ở mọi thể
loại văn học, từ đề tài, chủ đề phản ánh, kiểu thức kết cấu cho đến thế
giới nhân vật, đã có những thay đổi sáng tạo, thử nghiệm mới mẻ,
giúp nhà văn đi sâu khám phá thế giới bên trong đầy bí ẩn và phức
tạp của con người.
Tiểu thuyết được xem là một thể loại năng động và linh hoạt
nhất. Với tính chất tổng hợp cao, tiểu thuyết vừa có khả năng bao
8
CON NG
I TRONG TI U THUY T VI T NAM TH I K Đ I M I
quát hiện thực rộng lớn, vừa có khả năng đi sâu khám phá đời tư,
tâm hồn con người một cách toàn diện. Phát huy triệt để mọi khả
năng thể loại, tiểu thuyết có cơ hội đối thoại với cuộc đời, từ “cái hôm
nay bề bộn, ngổn ngang bóng tối và ánh sáng” đến những “âm vang
của tiếng lòng bí ẩn trong con người” qua cấu trúc ngôn từ “động”
của nó.
Bằng việc đổi mới tư duy nghệ thuật và quan niệm thể loại, tiểu
thuyết sau Đổi mới 1986, vượt qua khung cấu trúc thể loại, đã đa
dạng hóa các kiểu hình nhân vật, mở rộng khả năng khám phá nhiều
mặt khác nhau trong con người, thể hiện sự đổi mới trong quan niệm
nghệ thuật về con người, nhằm đột phá và kiến giải một “thực tại
mới”. Điều này khiến tiểu thuyết khẳng định được bước tiến của thể
loại với nhiều thành tựu nổi bật hơn cả so với thơ và truyện ngắn,
nhất là ở giai đoạn văn học sau 1986, trong hành trình phát triển của
toàn bộ nền văn học Việt Nam. Với tư cách là “công cụ hữu hiệu của
về con người đều nằm trong phạm vi biểu hiện của văn học. Các
ngành khoa học xem xét con người tùy thuộc vào mục đích khoa học
của những lĩnh vực đó. Đặc biệt với triết học, người ta nhìn nhận con
người trong mối quan hệ với tự nhiên để tìm hiểu bản chất con
người. Lão Tử coi con người là yếu tố của thiên - địa - nhân, nên con
người phải gắn, hòa hợp với vũ trụ. Tuy nhiên, mọi thành tựu của các
ngành khoa học đều được văn học triệt để khai thác khi biểu hiện, lý
giải về con người, thể hiện trình độ tổng hợp của nhận thức về thế
1
Donhieporop. V (1961), Những mưu toan đổi mới trong nền tiểu thuyết hiện đại
(Nhiều người dịch), NXB Văn học, tr. 32.
2
Trần Đình Sử (2005), Tuyển tập Trần Đình Sử, Tập 2, NXB Giáo dục, tr. 750.
10
CON NG
I TRONG TI U THUY T VI T NAM TH I K Đ I M I
giới nghệ thuật của nhà văn. “Văn học là phương tiện quan trọng
giúp con người trở thành con người vì nó mở ra những bí mật của
con người, giúp con người hiểu thêm về chính mình, trở nên phong
phú hơn và một phần từ chỗ hiểu mình, từ sự phong phú của chính
mình, con người hiểu thêm về thế giới, về sự phong phú của thế
giới”1. Vì vậy, tầm vóc của một nền văn học thể hiện ở cách đặt vấn
2
Phong Lê (1994), Văn học và công cuộc đổi mới, NXB Hội nhà văn, tr. 132.
Ch
ng I. Quan ni m ngh thu t v con ng
i và con ng
i…
11
cuối cùng của mọi sáng tạo. Toàn bộ thế giới nghệ thuật trong văn học
bộc lộ một quan niệm thẩm mỹ về con người. Một tác phẩm văn học có
thể không có nhân vật người nhưng nó luôn phải là câu chuyện về
cõi nhân sinh. Có như vậy, văn học mới làm cho con người lương
thiện hơn, nhân ái hơn và cũng làm cho con người đa dạng, phong
phú, từng trải và hiểu biết hơn.
1.1.2. Quan niệm nghệ thuật về con người - một phạm trù thi pháp học
Quan niệm là một điều cốt lõi của sáng tạo nghệ thuật. Phải có
một quan niệm, nhà văn mới có thể lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo
ra hình tượng nghệ thuật, thậm chí có thể biến đổi hình dạng sự vật
hoặc miêu tả “không chính xác” về đời sống. Theo D.X. Likhachiev,
quan niệm nghệ thuật gắn với sự miêu tả con người, cái nhìn nghệ
thuật về con người trong sự miêu tả đó. Cho nên quan niệm nghệ
thuật về con người như là cơ sở trung tâm đưa văn học vào đúng quỹ
đạo “nhân học” của nó.
vậy quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học cũng sẽ khác
với quan niệm về con người trong các hình thái ý thức xã hội khác.
Triết học luôn giải quyết vấn đề bản chất của con người, xem xét
vị trí và vai trò của con người đối với thế giới như thế nào. Khổng Tử,
Lão Tử, Mạnh Tử… xem xét tính đa dạng và phong phú về vấn đề
con người được đặt trong mối quan hệ với chính trị, đạo đức. Trong
khi đó triết học phương Tây, ở Hy Lạp cổ đại, con người được xem là
điểm khởi đầu của tư duy triết học. Con người và thế giới xung
quanh là tấm gương phản chiếu lẫn nhau. Đến thời Phục Hưng, con
người mới được nhìn nhận như một thực thể cá thể. Sang triết học cổ
điển Đức, Hegel đã khẳng định vai trò chủ thể của con người đối với
lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch sử. Còn Fuerbach
đã xem con người là kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên.
Sau này Marx - Engles đã khẳng định con người hiện thực là sự
thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. Chính những lý giải
về con người của triết học theo quan điểm nhận thức đã giúp văn học
có cơ sở để cắt nghĩa con người thông qua cái nhìn bằng nghệ thuật.
Con người cũng là đối tượng mang tính chủ thể thẩm mỹ của
mỹ học. Đó là những con người xã hội có khả năng thưởng thức,
đánh giá và sáng tạo thẩm mỹ. Thông thường mỹ học nhìn nhận con
người với giá trị của những phạm trù thuộc về cái đẹp, ứng với thị
hiếu thẩm mỹ hoặc lĩnh vực của sự phán đoán thẩm mỹ từng thời kỳ,
từng giai đoạn. Ngược lại, đạo đức học nhìn con người trong sự thể
hiện với các chuẩn mực, lấy những lời nói việc làm, hành động của
con người theo khung của nguyên tắc xử thế. Văn học không quy mọi
tính cách con người vào những chuẩn mực đạo đức một cách trọn
vẹn. Điều này cũng có nghĩa, mọi chuẩn mực của con người trong
văn học, được xây dựng từ những tình huống đơn giản đến phức tạp,
nhằm bộc lộ tính cách, dựa trên những lập trường xã hội khác nhau,
chiếm lĩnh riêng. Con người được văn học phản ánh sinh động, có
chiều sâu mang tính toàn vẹn, giàu sắc thái thẩm mỹ ở cả tầm vi mô
lẫn vĩ mô trong đó có cả những khía cạnh mà khoa học, lịch sử, tôn
giáo, triết học ít quan tâm.
1.1.2.2. Khi nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong
tác phẩm văn học, chúng ta cũng thấy điểm nhìn khác nhau về con
người của các nhà văn trong từng giai đoạn, từng thời kỳ. Trong thực
tế sáng tác và tiếp nhận văn học, người sáng tác có cách giải mã con
người theo ý đồ riêng mình, người tiếp nhận cũng đã dễ dàng nhận
ra. Bởi vì, những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật qua các chặng
đường sáng tác văn học, thể hiện ý thức của nhà văn về việc miêu tả
con người, cho thấy sự biến đổi mô hình nghệ thuật về con người,
được người nghệ sĩ cụ thể hóa trong các kiểu nhân vật.
Trong quá trình tư duy sáng tạo nghệ thuật, nhà văn bao giờ
cũng mang những quan niệm suy ngẫm về nhân sinh, về mọi điều
trong quan hệ với con người. Vì thế để những hình tượng trong thế
giới nghệ thuật chứa đựng tính khái quát, người sáng tác cần một cái
nhìn, một lối nhìn về đối tượng nhận thức trên cơ sở của tình cảm xã
hội thẩm mỹ về đời sống, số phận con người qua từng thời kỳ. Tức là
yếu tố thời đại có ảnh hưởng đến quan niệm thẩm mỹ của nhà văn
khiến quan niệm nghệ thuật của nhà văn thay đổi. Văn học trung đại
14
CON NG
I TRONG TI U THUY T VI T NAM TH I K Đ I M I
chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, văn chương phải “tải đạo”.
phận. Nhà văn say sưa nói đến lòng quyết tâm, ý chí, sức mạnh của
con người, “làm ngơ” trước nỗi cô đơn của con người trong mọi tình
huống. Vì vậy kiểu sáng tác chủ yếu dựa trên cảm hứng lịch sử - xã
Ch
ng I. Quan ni m ngh thu t v con ng
i và con ng
i…
15
hội để phản ánh cuộc sống mới, con người mới. Con người lúc này
buộc phải đứng khuất sau sự kiện, phong trào, trở thành phương tiện
để trình bày lịch sử.
Đại thắng mùa xuân 1975, mười năm sau đó là thời gian kịp cho
nhà văn có khoảng cách để cách nhìn thi vị nhường chỗ cho tính chất
tỉnh táo, sâu lắng. Con người giờ được nhìn nhận, xem xét, lý giải
theo nhiều hướng, nhiều chiều, nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời
sống tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng
cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con
người trong tính nhân loại phổ quát. Đâu chỉ là con người của những
anh hùng, khí phách, tràn đầy ý chí mà nay còn là con người có ý
thức biết trầm tĩnh, chấp nhận sự hy sinh lớn nhất có trong cuộc đời
mà chiến tranh để lại. Đã đến lúc tác phẩm của các nhà văn có xu
hướng đi sâu, tăng cường ý thức về nhân cách con người dưới nhiều
góc độ khác nhau, đa diện, đa trị, lưỡng phân, trong con người có cả
sáng đích thực của nó. Con người không chỉ khẳng định phẩm chất
tư tưởng xả thân mà điều quan trọng là được thể hiện ở các mối quan
hệ lịch sử, trên phương diện xã hội và với thiên nhiên.
Từ sau 1975, cuộc sống đã dần trở lại với quy luật bình thường
của nó cùng lúc con người đối mặt với những biến động, đổi thay của
xã hội. Guồng quay xã hội gián tiếp cho ý thức cá nhân thức tỉnh, họ
quay về đối diện chính mình với những đòi hỏi riêng của mỗi người,
mỗi số phận. Khi “văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà
tâm điểm của nó là con người” (Nguyễn Minh Châu), nhà văn phải
có một cái nhìn đặc sắc, đầy xác thực về con người, mới có thể kiến
giải có ý nghĩa về cuộc sống và xã hội. Ý thức cá nhân con người ngày
càng có những khát vọng mạnh mẽ, chúng ta càng phải đặt ra vấn đề
chống chủ nghĩa cá nhân dưới một cái nhìn đa diện hơn, trên tất cả
các mặt của cuộc sống một cách quyết liệt. Đó cũng là lý do sáng tác
của các nhà văn không chỉ đơn thuần phê phán các tàn dư của xã hội
cũ, các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, quan liêu bảo thủ... mà còn
đặc biệt lưu ý đến những hiện tượng vi phạm chuẩn mực đời sống xã
hội và đạo đức như trong các tác phẩm Cù lao Tràm của Nguyễn
Mạnh Tuấn, Sao đổi ngôi của Chu Văn, Đất trắng của Nguyễn Trọng
Oánh, Mưa mùa hạ của Ma Văn Kháng... Không còn cách nào khác,
“chúng ta phải đào bằng ngòi bút cho đến cùng đáy cái thật chứa đầy
bí ẩn, đầy nỗi niềm nguồn cơn của con người đất nước mình thì sẽ
gặp con người nhân văn, sẽ gặp cái nhân bản của nhân loại”1. Đường
hướng ấy chính là khởi điểm cho các nhà văn mải miết đi tìm cái “con
người trong con người” bằng tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu
con người. Họ đi sâu vào các ngóc ngách mà ở đó có sự chen lẫn, giao
tranh của mặt nhân cách và phi nhân cách. Một khi thói hư tật xấu đã
1
từ bên trong.
Văn học của chúng ta hôm nay vẫn hướng đến việc phản ánh
con người theo quan điểm của K. Marx, “con người là thực thể tự
nhiên có tính người”, là “thực thể sinh học - xã hội”, “trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”3. Sự
đổi mới và sáng tạo không ngừng của các nhà văn là minh chứng rõ
rệt thúc đẩy sự đổi mới phát triển của văn học, trong đó đổi mới và
đa dạng trước hết trong quan niệm nghệ thuật về con người. Mặt
khác, nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người giúp chúng ta
thâm nhập vào cơ chế tư duy văn học, khám phá quy luật vận động
phát triển của hình thức văn học, góp phần chứng tỏ tầm vóc một
nền văn học.
1
Trần Thị Mai Nhi (1994), Văn học hiện đại - Văn học Việt Nam giao lưu - gặp gỡ, NXB
Văn học, tr. 158.
2
Nhiều tác giả (1997), Văn học 1975 - 1985, tác phẩm và dư luận, NXB Hội nhà văn,
tr. 507 - 508.
3
Phạm Minh Hạc (cb) (2001), Nghiên cứu con người: đối tượng và những hướng chủ
yếu, NXB Khoa học xã hội, tr. 331.
18
xung đột - hành động. Còn con người tiểu thuyết là con người tổng
hợp. Cho nên nhân vật có thể được khai thác ở cả chiều sâu và chiều
rộng của không gian, thời gian, ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô của đời
sống nhân vật; từ ngoại hình đến hành động, từ cảm xúc nội tâm
đến lý trí…
1
Nhiều tác giả (2008), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, tr. 242.
Ch
ng I. Quan ni m ngh thu t v con ng
i và con ng
i…
19
1.2.1. Con người trong tiểu thuyết trước 1986
1.2.1.1. Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945
Sự xuất hiện của con người vũ trụ, tự nhiên và tâm linh ở văn
học trung đại cho thấy một quan niệm con người không ngừng phát
triển từ trừu tượng đến cụ thể. Văn học thế kỷ XVIII gắn với quan
niệm nhân đạo chủ nghĩa về con người, nhà văn quan tâm đến số
phận và quyền sống của con người, hạnh phúc và sự giải phóng con
người, từ truyện Nôm bình dân như Phạm Tải Ngọc Hoa đến Cung
oán ngâm khúc, Truyện Kiều. Sang đến đầu thế kỷ XX, quan niệm con
CON NG
I TRONG TI U THUY T VI T NAM TH I K Đ I M I
nét, nhưng chí ít các nhà văn đã lấy lịch sử như một cái nền để đi sâu
miêu tả cuộc sống đời tư của cá nhân, của con người cụ thể không có
thật trong lịch sử, với mục đích khơi gợi truyền thống anh hùng và ý
chí đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, văn hóa phương Tây và
văn hóa Pháp xâm nhập đã có tác động không nhỏ đến tư tưởng và
tình cảm, quan điểm triết học thẩm mỹ ở nhiều người, trong đó thế hệ
những nhà văn (chủ yếu là trí thức tiểu tư sản) chịu ảnh hưởng tương
đối sâu sắc. Giai đoạn văn học 1930 - 1945 với sự xuất hiện của tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn, Thơ Mới và văn học hiện thực phê phán đánh
dấu việc chuyển biến của văn học dân tộc từ trung đại sang hiện đại
với trung tâm là sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người.
Bên cạnh sự phát triển của truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết được
xem là một thể loại có cấu trúc hết sức linh hoạt. Nó luôn là “hiện
thân cho một kiểu nhận thức mang tính “phức hợp” giúp con người
hiểu được sự phức tạp khôn cùng của cuộc sống”1. Ưu thế của tiểu
thuyết giai đoạn này được đánh dấu bởi sự xuất hiện của “cô gái
mới” (Phong Lê) Tố Tâm. Trong đó, nó đã “khẳng định vị trí của cá
nhân, quyền sống của con người trước uy quyền còn khá kiên cố của
lễ giáo phong kiến khắc nghiệt”2.
Theo Lê Thị Dục Tú, dấu hiện đầu tiên trực tiếp nhất cho sự hiện
diện của con người cá nhân trong Tự lực văn đoàn là xung đột của
con người cá nhân với gia đình truyền thống. Nhân vật Loan trong
Đoạn tuyệt, Mai trong Nửa chừng xuân, Hồng trong Thoát ly, đã tự
mình lên tiếng bảo vệ cuộc đời mình, khẳng định quyền con người
trụy lạc trong sự hưởng thụ có tính chất giải phóng triệt để của tự do
cá nhân như Hiền (Trống Mái), Nam (Đẹp), thậm chí rơi vào chủ
nghĩa cá nhân cực đoan và chủ nghĩa vô luân như Trương (Bướm
trắng), Cảnh (Thanh Đức).
Bằng việc “xây dựng được một loại tiểu thuyết có kết cấu và cốt
truyện chặt chẽ, lối kể chuyện có duyên, ngôn ngữ trong sáng và tinh
tế, các đoạn tả cảnh, tả tâm lý, đối thoại, độc thoại xen nhau rất sinh
động”1, Tự lực văn đoàn đã có đóng góp trong việc phản ánh sự
“đoạn tuyệt” với đại gia đình phong kiến để hướng đến ý thức cá
nhân của con người muốn tự giải phóng mình, đấu tranh cho tự do,
cho hạnh phúc lứa đôi. Cho nên “con người của Tự lực văn đoàn
không chỉ trẻ về tuổi đời mà quan trọng hơn là họ đã: “không cùng
một quan niệm về cuộc đời” với thế hệ cũ, họ là đại diện cho xã hội
mới và quan niệm mới về đời sống”2. Tuy còn mang tính chất lãng
mạn nhưng chí ít tiếng nói “phong hóa” của Tự lực văn đoàn đã
vươn tới giá trị tinh thần mới mẻ của con người cá nhân.
Nhìn chung, văn học lãng mạn đã khẳng định được chủ thể sáng
tạo độc đáo trong nghệ thuật khi nói lên được “một nhu cầu lớn về tự
do và phát huy bản ngã” (Tố Hữu). Nhưng do những hạn chế về vốn
sống và thế giới quan, các nhà văn Tự lực văn đoàn chưa đi sâu được
vào tâm lý xã hội của các giai cấp cũng như xem nhẹ việc miêu tả
hoàn cảnh xã hội khách quan. Bên cạnh sự xuất hiện của những Nhất
Linh, Khái Hưng…, người được mệnh danh là “lão tướng tiểu
thuyết” Lan Khai đã chọn địa hạt tiểu thuyết lịch sử để bộc lộ một
tiếng nói nhất định về số phận con người qua cách bộc lộ bình diện
tâm lý và tính cách nhân vật đa dạng. Trong Cái hột mận, Ai lên phố
1
Phan Cự Đệ (2000), Sđd, tr. 88.
không khí ngột ngạt của một xã hội đang quằn quại, đang tự chuyển
mình. Địa chủ quan lại gian tham, dâm tục, tàn ác. Trí thức tiểu tư sản
nghèo lại đang “mốc lên, rỉ đi, mòn ra, mục ra” (Nam Cao). Người nông
dân thì bị đẩy đến đường cùng, méo mó, vật vã tội nghiệp trong một xã
hội đầy rẫy những điều vô nhân đạo, chà đạp lên nhân phẩm con người
một cách trầm trọng.
So với tiểu thuyết lãng mạn của Tự lực văn đoàn, tiểu thuyết hiện
thực phê phán đã khám phá con người cá nhân ở một cấp độ mới hơn.
Đó là con người xã hội và con người cá nhân kết hợp. Bức tranh cuộc
sống trong tiểu thuyết hiện thực phê phán là một nông thôn đói nghèo
và bế tắc, bất công và nghịch cảnh, nông thôn của những con người
khốn khó, vất vả, cực nhọc bên cạnh những kẻ bóc lột thương luân bại
lý. Những anh Pha, chị Dậu, Thứ… bắt đầu đã lên tiếng đòi hỏi về
quyền sống, quyền làm người. Tiếp tục từ đó, sau thành công của Cách
mạng tháng Tám, tiếng nói về nhân quyền dưới chế độ mới đã giúp
các nhà văn mở ra con đường sáng hướng đến một nhận thức lạc quan
hơn về con người trong chế độ xã hội chủ nghĩa.
Ch
ng I. Quan ni m ngh thu t v con ng
i và con ng
i…
23
1.2.1.2. Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975
bỏ trách nhiệm đối với sự nghiệp chung. Không chỉ là những con người
của hợp tác xã, ngay cả Chiến sĩ sau này, Nguyễn Khải vẫn tiếp tục ca
ngợi những người lính can đảm, ý thức kỷ luật cao, như Đang, Hân,
24
CON NG
I TRONG TI U THUY T VI T NAM TH I K Đ I M I
Bảng. Những chiến công của họ trên mặt trận trở thành niềm vui, trở
thành lý tưởng, biểu tượng chung cho tinh thần yêu nước như đã gặp ở
Cửa sông của Nguyễn Minh Châu. Tất cả đã dấy lên tinh thần quả cảm,
sẵn sàng hy sinh đưa đất nước đi xa hơn nữa trên con đường đấu tranh
vì chủ nghĩa xã hội. Trên con đường kháng chiến chống Mỹ, con
người sử thi được nâng lên tầm thời đại. Một mặt tiểu thuyết “làm
đầy” lên con người quần chúng của văn học thời chống Pháp, mặt
khác đưa văn học xã hội chủ nghĩa với con người mang vẻ đẹp tâm
hồn của chủ nghĩa anh hùng.
Ở tiểu thuyết hiện thực phê phán, nhà văn quan niệm con người
tổng thể, là một thế giới chứ không phải là con người chức năng.
Sang giai đoạn 1945 - 1975 kiểu nhân vật được mô tả là những con
người nhận thức được quy luật vận động của lịch sử - xã hội, hành
động và lôi cuốn mọi người hành động để cải biến cuộc sống. Tiểu
thuyết thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thể hiện một
quan niệm mới về con người: con người gắn bó với đồng chí, đồng
đội, con người vượt lên hoàn cảnh, hướng tới tương lai. Với tư cách là
con người xã hội, những Kha, Sản, Độ (Xung kích), Tài, Bá (Vùng mỏ),
Núp, Liêu (Đất nước đứng lên), Tiệp, Vượng (Bão biển), Chị Sứ, Hai Thép
1.2.1.3. Con người trong tiểu thuyết giai đoạn 1975 - 1985
Văn học trước 1975 được xem là “một tấm gương tinh thần của
cuộc sống đất nước, có chung vận mệnh và đồng hành cùng dân tộc
qua những thăng trầm của lịch sử”1, nay với thắng lợi ghi dấu vào
ngày 30/4/1975 đã mở ra cho văn học những thách thức mới. Ba mươi
năm chiến tranh khói lửa, cũng là ba mươi năm của một dòng tiểu
thuyết sử thi, của những con người chiến đấu vì lý tưởng xã hội cao
đẹp. Khi đất nước thống nhất, mười năm sau đó là khoảng thời gian để
thử thách con đường đi tiếp theo của văn học trong một vận hội mới.
Văn học 1945 - 1975 đã thể hiện một sự nhất quán trong ý thức
nghệ thuật văn học thời kỳ này: miêu tả dòng chảy của lịch sử trong
đó số phận của cá nhân gắn liền với số phận của dân tộc và cộng
đồng. Sau 1975, một trạng thái tinh thần mới xuất hiện, điều này đã
tác động sâu sắc đến sự chuyển biến về tư duy ý thức nghệ thuật, sự
vận hành của các phương diện thể hiện trong việc khám phá và xây
dựng nội dung nghệ thuật.
Điểm thay đổi thứ nhất là sự xuất hiện dòng cảm hứng hiện thực
bên cạnh cảm hứng ngợi ca. Thứ hai, âm vang chiến thắng rồi cũng
nguôi ngoai, thay vào đó văn học đã có điểm chững để đánh giá lại.
Vì thế cảm hứng phê phán dần dần được định hình như là một cảm
hứng chủ đạo. Thứ ba, một khi toàn dân được hưởng không khí của
hòa bình thực sự, nhà văn đã nhận ra được nhiều điều thực tế hơn
với thời kỳ “tô hồng” trước đây. Đã đến lúc nhà văn cần có một tư
duy phát hiện nhạy bén hiện thực xã hội. Đây là thời điểm đánh dấu
sự xuất hiện tư duy phân tích và cái nhìn đời tư bắt đầu len lỏi, soi
chiếu ở nhiều góc độ khác nhau của cuộc sống.
1
Nguyễn Văn Long (2003), Tiếp cận và đánh giá văn học Việt nam sau cách mạng tháng