A.
MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trường học là nơi học sinh được tiếp thu tri thức khoa học và những kỹ năng
cần thiết để hình thành, phát triển phẩm chất tốt đẹp của con người. Môi trường
giáo dục luôn có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của
trẻ thông qua các mối quan hệ đa dạng. Môi trường giáo dục tốt sẽ đào tạo
những con người có đạo đức, phẩm chất, trí tuệ tốt để sau này đóng góp công
sức vào xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước. Với ý nghĩa đó, Đảng và Nhà
nước ta luôn luôn quan tâm đến giáo dục. Tuy nhiên, giáo dục nước ta hiện nay
chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế. Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc
biệt là yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền
kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục
phải đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng, nhanh chóng góp phần tạo ra đội ngũ
nhân lực chất lượng cao. Nếu không có sự đổi mới trong giáo dục và đào tạo thì
nhân lực sẽ là yếu tố cản trở sự phát triển của đất nước. Mặt khác, nước ta đang
trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng
của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên
nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới. Việc đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục, đào tao; phát triển nguồn nhân lực là vấn đề bức
thiết. Đó vừa là yêu cầu, vừa là giải pháp giúp chúng ta vượt qua khó khăn,
thách thức của thời cuộc và phát triển bền vững. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đã từng được khẳng định trong các văn
kiện của Đảng trước đây, đặc biệt trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung
ương 8, khóa XI đã nêu rõ, đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa”
mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của
cuộc sống. Trong Văn kiện đại hội XII, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ
trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo,
sinh học được “cái gì” và chất lượng dạy học như thế nào để Mô hình tiếp tục
được duy trì và phát triển? Đây là vấn đề tương đối cần thiết và đòi hỏi phải có
nhiều sự đầu tư và tâm huyết của người thầy và sự ủng hộ của toàn xã hội. Để
Mô hình trường học mới Việt Nam tiếp tục được phát triển và thực hiện thành
công hơn, đòi hỏi mỗi cán bộ giáo viên phải giành tâm sức, đúc kết những kinh
nghiệm trong quá trình quản lý chỉ đạo và thực hiện. Từ những lý do trên, với
mong muốn nhà trường thực hiện dạy học theo Mô hình VNEN được tốt hơn, tôi
đã trăn trở, suy nghĩ và nghiên cứu, lựa chọn đề tài mang tính cấp thiết “Một số
biện pháp chỉ đạo của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực dạy học VNEN’
để tích lũy thêm kinh nghiệm trong quản lý chỉ đạo, giúp giáo viên và học sinh
dạy học tốt hơn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số vấn đề quản lý
chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học VNEN.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu, tổng kết biện pháp chỉ đạo của Hiệu trưởng về dạy học
theo Mô hình trường học mới Việt Nam khối 2,3,4,5 trường tiểu học Nga Vịnh,
Nga Sơn.
IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm, bản thân đã áp dụng một số
phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Là các phương pháp thu
thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng
các thao tác tư duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết. Sử dụng phương
pháp này để nghiên cứu cách tổ chức dạy học của giáo viên, cách học của học
sinh; các tài liệu, khái niệm, thuật ngữ; một số văn bản và quan điểm chỉ đạo
liên quan đến đề tài.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Là phương pháp dùng hệ thống câu
hỏi và tư duy logic theo các nội dung xác định nhằm thu thập những thông tin
khách quan nói lên nhận thức và thái độ của người được điều tra, khảo sát để
liên quan mật thiết đến cuộc sống của các em. Giáo viên là người tổ chức, hướng
dẫn và khích lệ các em trong việc tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và
phát triển kĩ năng giao tiếp, ứng xử dân chủ, bình đẳng. Phụ huynh và cộng đồng
cùng tham gia tích cực vào việc chăm sóc và giáo dục con em mình. Trong quá
trình làm việc theo nhóm, học sinh có cơ hội tranh luận và đánh giá lẫn nhau.
Thông qua đó, giáo viên kịp thời phản hồi tới học sinh về quá trình làm việc và
kết quả học tập của các em. Mô hình trường học mới xây dựng mối liên hệ chặt
chẽ, tương tác giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng. Cộng đồng và gia đình
luôn có vai trò quan trọng trong giáo dục và hình thành nhân cách của trẻ. Học
sinh có thể nhờ cha mẹ giúp đỡ để lĩnh hội kiến thức cũng như ứng dụng nội
dung vào cuộc sống hằng ngày. Sự kết nối giữa chương trình học với gia đình và
cộng đồng sẽ hiệu quả hơn nếu khuyến khích gia đình và cộng đồng cùng tham
gia. Từ đó học sinh có cơ hội chia sẻ các hoạt động văn hóa. Mô hình VNEN đã
tăng cường sự hợp tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh,
tạo không khí học tập nhẹ nhàng, thân thiện. Học sinh không thụ động mà bắt
buộc phải trao đổi, tìm tòi kiến thức với giáo viên và các bạn. Mô hình VNEN
đã đáp ứng yêu cầu dạy chữ- dạy người, tăng khả năng giao tiếp và phát triển
toàn diện cho học sinh. Giờ học VNEN, lượng kiến thức quá tải đã được tinh
giản để phù hợp với đặc điểm nhận thức và tâm sinh lý học sinh tiểu học. Tuy
nhiên, VNEN không phải vì thế mà không chú ý đến việc đào tạo, bồi dưỡng
học sinh giỏi. Ngoài việc củng cố vững chắc kiến thức cơ bản, chú trọng giáo
dục đạo đức theo 5 điều Bác Hồ dạy và tăng cường kỹ năng sống, VNEN còn
chú ý đến khả năng phát triển trí tuệ, năng khiếu cho học sinh để các em tiếp tục
học tốt các bậc học sau và hướng tới mục tiêu đào tạo nhân tài cho đất nước.
Đây chính là ưu điểm vượt trội mang tính ưu việt của VNEN.
3
Trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, nội dung giáo
dục sẽ chuyển đổi từ hình thành cho học sinh kiến thức, kỹ năng, thái độ đơn
động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Hoạt động theo chủ đề và các Công cụ hỗ trợ…
để học sinh học tốt, đọc tốt hơn, viết chữ đẹp hơn, bồi dưỡng học sinh giỏi và
phụ đạo học sinh yếu kém hiệu quả hơn. Họ cho rằng dạy VNEN không làm tốt
được vấn đề đó như chương trình hiện hành. Giáo viên còn lạm dụng phần chia
sẻ mục tiêu và Ban học tập khi yêu cầu học sinh thực hiện. Họ còn máy móc vận
dụng khi xem băng dạy mẫu mà chưa có sự sáng tạo khi áp dụng vào tổ chức
dạy học.
- Khi huấn luyện cho Hội đồng tự quản học sinh hoặc trưởng nhóm còn rập
khuôn một chiều, theo một khuôn mẫu chung nên không phát huy hết được sự
năng động, hồn nhiên, nét sáng tạo thông minh riêng của mỗi học sinh.
- Khả năng giao tiếp của học sinh còn hạn chế, một số trưởng nhóm kỹ năng
điều hành, chỉ đạo nhóm chưa tốt. Một số cha mẹ học sinh chưa quan tâm đôn
đốc con em học tập, ý thức hợp tác với nhà trường còn thấp. Giáo viên chưa biết
4
vận động, tuyên truyền, huy động phụ huynh và cộng đồng cùng tham gia và hỗ
trợ tốt cho dạy học VNEN.
- Việc tổ chức Hoạt động tập thể, Hoạt động Giáo dục ngoài giờ lên lớp,
Hoạt động theo chủ đề còn đơn điệu, rập khuôn, ít lôi cuốn, thiếu tự nhiên, hấp
dẫn nên hạn chế sự phát triển toàn diện của học sinh.
Qua thực tế khảo sát giờ dạy của giáo viên khối 2, 3, 4,5, bản thân thu được
kết quả như sau:
Tổng số
GV
10
Giờ dạy tốt, vận
dụng sáng tạo hoạt
động Dự án
%
20
SL
42
%
28
SL
75
%
50
Chưa hoàn
thành nhiệm vụ
SL
3
%
2
Kết quả khảo sát Hoạt động của Hội đồng tự quản học sinh, hoạt động nhóm
và khả năng giao tiếp:
Tổng Khả năng giao Khả năng giao Biết giao tiếp, Chưa biết giao
số HS tiếp, điều hành tiếp, điều hành
điều hành
tiếp, điều hành
hoạt động tốt
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Qua nghiên cứu, khảo sát, phân tích thực trạng, bản thân đưa ra các giải pháp
sau giúp giáo viên giải quyết những khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế để
nâng cao chất lượng dạy học VNEN:
1. Tăng cường năng lực dạy học VNEN thông qua việc tổ chức tốt bồi
dưỡng, tập huấn cấp trường và Sinh hoạt chuyên môn nhằm bồi dưỡng
nghiệp vụ chuyên môn và nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên
5
Để thực hiện giải pháp này, ngoài việc tổ chức tốt hoạt động tập huấn do
Bộ quy định vào đầu tháng 8 và một số thời điểm trong năm học, tôi đã tổ chức
bồi dưỡng giáo viên thông qua qua dự giờ, thăm lớp, dạy minh họa, kiểm tra
toàn diện giáo viên, khảo sát chất lượng học sinh, tổ chức sinh hoạt chuyên môn
tổ và trường hàng tuần, hàng tháng để thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm, giải đáp
băn khoăn, vướng mắc…; và yêu cầu giáo viên tự học, tự bồi dưỡng, tích lũy
kinh nghiệm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Nội dung cụ thể như sau:
1.1.Nâng cao năng lực đánh giá Hoạt động dạy học
Việc đổi mới căn bản của Mô hình trường học mới là chuyển hoạt động Dạy
của giáo viên thành hoạt động Học của học sinh, hoạt động quy mô lớp thành
hoạt động của quy mô nhóm, học sinh từ làm việc với giáo viên thành làm việc
với Sách, có sự tương tác với bạn. Do đó, nhóm là đơn vị học tập cơ bản. Nhóm
trưởng là người thay mặt giáo viên điều hành các thành viên trong nhóm: tự
giác, tích cực hoạt động, tự quản, tự học, tự tìm tòi, khám phá phát hiện kiến
thức theo hướng dẫn của sách. Mọi thành viên trong nhóm phải tự nghiên cứu
tài liệu, tự học, chia sẻ với bạn, báo cáo với nhóm kết quả học tập. Các thành
viên trong nhóm trao đổi, thống nhất và báo cáo kết quả học tập với giáo viên.
Do vậy, cần yêu cầu giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài học, hiểu rõ quá trình hình
thành kiến thức để tổ chức lớp học, chuẩn bị đồ dùng dạy học, điều chỉnh nội
dung, yêu cầu bài học cho phù hợp với đối tượng và dự kiến các tình huống khó
thành từng hoạt động trong bài học, đánh giá kết quả đạt được sau mỗi hoạt
động, sau bài học; và đánh giá việc hoàn thành mục tiêu bài học. Đánh giá hoạt
động của nhóm về tinh thần, thái độ, sự tương tác với bạn bè, thời gian và chất
lượng hoàn thành hoạt động học và kết quả các hoạt động học tập. Ngoài ra,
giáo viên cùng Cộng đồng đánh giá học sinh về các mặt: Có thường xuyên trò
chuyện với cha mẹ việc học ở trường; có thực hiện chăm sóc cây cối, vật nuôi,
sức khỏe bản thân và người thân trong gia đình; sự tự tin trong trao đổi, trò
chuyện, giao tiếp; khả năng diễn đạt, đối thoại, tương tác; sự chuyên cần, tiến bộ
trong học tập. Như vậy, có nắm vững cách đánh giá thì mới rút kinh nghiệm,
khắc phục những tồn tại, hạn chế, thiếu sót để điều chỉnh và học hỏi đồng
nghiệp những điểm tốt, những cách làm hay, sáng tạo và khuyến khích, tạo cơ
hội kịp thời để việc dạy học đạt hiệu quả hơn.
1.2. Bồi dưỡng GV về cách điều chỉnh nội dung dạy học, cách chọn thời
điểm khắc chốt kiến thức, khai thác các công cụ hỗ trợ phù hợp, hiệu quả
Tài liệu Hướng dẫn học VNEN là tài liệu đang trong quá trình thử nghiệm
và là tài liệu tác giả viết chung cho tất cả các trường trong cả nước nên còn có
những điểm chưa phù hợp với vùng miền, đối tượng học sinh, điều kiện thực tế
của từng nhà trường và thực tế dạy học. Do vậy, trong quá trình quản lý, chỉ đạo
tập huấn và sinh hoạt chuyên môn tôi yêu cầu giáo viên thảo luận, đưa ra những
bài mà giáo viên còn lúng túng, khó khăn trong dạy học mà chưa biết cách điều
chỉnh, sau đó giúp giáo viên có những điều chỉnh phù hợp để thuận lợi cho dạy
và học nhằm nâng cao chất lượng. Bắt đầu của mỗi hoạt động đều có một hình
vẽ (lo go) cùng với những “Lệnh” thực hiện để HS dễ dàng nhận ra yêu cầu và
các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động học tập (học cá nhân, theo cặp, nhóm
nhỏ hoặc toàn lớp, cụ thể ở trang đầu của TLHD các môn). Trong thiết kế từng
bài ở tài liệu Hướng dẫn học, trước mỗi hoạt động đều có các logo chỉ dẫn. HS
nhìn lo go biết hoạt động đó thực hiện cá nhân, hay nhóm đôi, nhóm lớn hoặc
chung cả lớp. Cần yêu cầu giáo viên hiểu logo hướng dẫn chỉ có tác dụng định
hướng cho các nhóm HS hoạt động, không máy móc mà có thể điều chỉnh và chỉ
dẫn từng việc cụ thể để hoạt động học của học sinh thực hiện dễ dàng, hiệu quả.
viết thành các hoạt động nhỏ hơn (hay việc làm) tương ứng với quá trình hình
thành kiến thức, rèn luyện kĩ năng ở trên. Cần lưu ý, bổ sung những việc làm cụ
thể như: đọc, quan sát, thử nghiệm, nghe, giải toán, đề xuất, ... để HS lĩnh hội tri
thức, rèn luyện kĩ năng và vận dụng vào cuộc sống; với mỗi việc làm nên đặt
câu hỏi việc làm đó nhằm mục đích gì ? Trao đổi trong tổ, nhóm chuyên môn
hoặc khi Sinh hoạt chuyên môn để hoàn chỉnh bài Hướng dẫn học.
Hình ảnh Sinh hoạt chuyên môn và chuẩn bị tập huấn cấp trường
tại trường tiểu học Nga Vịnh
Đối với những bài giáo viên chưa biết dừng hoạt động nhóm ở hoạt động
nào để đưa trước lớp chốt kiến thức thì có thể hướng dẫn giáo viên chuẩn bị
bảng phụ hoặc bảng nhóm, tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm, thảo luận cách
làm rồi ghi kết quả thảo luận vào bảng nhóm. Sau đó, giáo viên dừng hoạt động
nhóm, lấy kết quả học sinh đã ghi vào bảng treo trước lớp, nêu câu hỏi gợi mở
để học sinh nhận xét, chốt kiến thức. Việc chốt kiến thức thường thực hiện ngay
sau hoạt động cung cấp kiến thức mới hay dựa vào Logo cả lớp tổ chức cho học
sinh hoạt động rồi chốt hoặc có thể cứ để học sinh hoạt động nhóm bình thường
8
rồi cuối tiết học, giáo viên dựa vào kết quả yêu cầu học sinh báo cáo, nêu câu
hỏi khái quát để chốt kiến thức. Tuy nhiên, việc chốt kiến thức cần ngắn gọn, rõ
ràng, đi vào trọng tâm cần chốt, không nên đặt nhiều câu hỏi dài dòng, sa vào
phương pháp đàm thoại, hỏi đáp để chốt thì đấy không còn là đổi mới phương
pháp, lạm dụng cách dạy hiện hành thì không đúng với cách dạy học VNEN.
Ví dụ: Khi dạy bài 19: Rễ cây có đặc điểm gì ? (tiết 2), TNXH lớp 3, giáo
viên yêu cầu học sinh thực hiện theo logo và việc 1, việc 2, việc 3,… trong từng
hoạt động, nhóm trưởng yêu cầu các bạn trả lời câu hỏi để chốt về chức năng và
ích lợi của rễ cây. Giáo viên theo dõi các nhóm hoạt động và hỗ trợ nếu nhóm
nào gặp khó khăn và yêu cầu học sinh báo cáo kết quả hoạt động của nhóm với
Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho các ban phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
và khả năng của học sinh. Chẳng hạn, Ban Thư viện phụ trách lấy đồ dùng, sách
vở cho các nhóm hoạt động, Ban Sức khỏe kiểm tra vệ sinh cá nhân hoặc phát
hiện những bạn bị ốm để báo với cô giáo trước khi vào học, Ban Văn nghệ cho
các bạn hát múa, chơi trò chơi khởi động hoặc giải lao giữa tiết học, Ban Học
tập giúp bạn làm bài khó hoặc hỗ trợ nhóm khác tìm hiểu bài học, nhận xét,
9
đánh giá các bạn,... Tuy nhiên, yêu cầu giáo viên không lạm dụng việc sử dụng
các Ban mà phải giành thời gian cho học sinh hoạt dộng và học tập, tuyệt đối
không để học sinh làm thay giáo viên đi kiểm tra quá nhiều hoặc thay giáo viên
giảng giải, nhận xét đánh giá trước lớp.
- Không gian lớp học VNEN được đầu tư trang trí xanh sạch đẹp, thân thiện,
công phu và tốn kém nhiều kinh phí với nhiều bảng biểu, tủ giá, sản phẩm…
được trưng bày trong các Góc và xung quanh lớp học nhưng không chỉ có ý
nghĩa “làm cho đẹp”. Do vậy, cần chỉ dẫn giáo viên biết vận dụng khai thác các
công cụ hỗ trợ đó vào bài học đê tăng thêm sự tác dụng, tính phong phú, hỗ trợ
tốt cho tiết học. Chẳng hạn: Khi bài dạy có nội dung kiến thức Địa lý, có thể vận
dụng cho học sinh liên hệ chỉ vị trí trường học, nhà em ở trên bản đồ cộng động
hoặc bảng Con đường đến trường. Có thể nêu câu hỏi từ nhà đến trường em phải
đi qua con sông hay ngã ba, ngã tư, đường quốc lộ nào… để lưu ý học sinh đảm
bảo an toàn khi đi trên đường và giáo dục an toàn giao thông, vị trí địa lý... Hay,
khi bài dạy có nội dung về sản vật của quê hương thì có thể liên hệ đến Góc
cộng đồng có trưng bày sản phẩm nông nghiệp, làng nghề… của bố mẹ, ông bà
để liên hệ giáo dục tình cảm, hành vi đạo đức biết yêu lao động và trân trọng
những sản phẩm lao động, quí trọng, thương yêu người thân trong gia đình, yêu
quê hương, đất nước, thiên nhiên và con người.
Hình ảnh trang trí lớp học VNEN của trường tiểu học Nga Vịnh, Nga Sơn
cân đối lượng kiến thức trong mỗi tiết học cho hợp lý dự vào mục tiêu và nội
dung bài học, tránh tình trạng việc phân cắt tiết trong mỗi bài không cân xứng,
tiết thì chia nhiều hoạt động, nặng kiến thức, có tiết lại ít hoạt động quá, kiến
thức thì quá đơn giản khiến học sinh nhàm chán, không hoàn thành mục tiêu
bài học. Chẳng hạn: Trong thiết kế tiết dạy minh họa, tôi đã giúp giáo viên
phân chia thời lượng từng tiết trong bài 8: Nước nhà bị chia cắt, Bến Tre đồng
khởi (Lịch sử lớp 5) như sau:
Tiết 1: Giáo viên tổ chức cho Hội đồng tự quản học sinh tổ chức chơi trò chơi
khởi động, sau đó giáo viên dẫn dắt vào bài học. Yêu cầu học sinh chia sẻ Mục
tiêu, chuyển Hoạt động cơ bản (chỉ thực hiện hoạt động 1: Tìm hiểu tình hình
nước ta sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954), cho học sinh xem phim tư liệu sau
đó chuyển Hoạt động thực hành (làm bài tập 1 và chơi trò chơi Rung chuông
vàng).
Tiết 2: Thực hiện 3 hoạt động còn lại của Hoạt động cơ bản, chuyển Hoạt động
thực hành: làm bài tập và chơi trò chơi.
Giúp giáo viên hiểu việc phân cắt tiết như trên đảm bảo yếu tố vừa sức đối với
học sinh. Bài 8 có 2 nội dung rõ ràng, đó là tình hình nước ta khi nước nhà bị
chia cắt và nội dung kiến thức kỹ năng thứ 2 là Phong trào Đồng khởi ở Bến
Tre. Như vậy, mỗi tiết tìm hiểu về một nội dung và số lượng các hoạt động(các
bài tập) của mỗi tiết phục vụ cho nội dung của từng tiết, có ôn lại kiến thức tiết
trước và củng cố toàn bài ở cuối tiết 2(cuối bài). Có giáo viên lúng túng khi
phân cắt tiết nên chia đều số bài tập cho mỗi tiết nên có tiết lại phải tìm hiểu 2
nội dung kiến thức cùng trong một tiết học, tiết thứ 2 chỉ ôn tập lại. Do đó lượng
kiến thức không đồng đều, nặng ở tiết này mà nhẹ ở tiết khác, không phù
11
hợp. Từ cách phân cắt thời lượng này, giáo viên hiểu và rút kinh nghiệm,
áp dụng cho những bài khác được dễ dàng hơn. Chẳng hạn :
Khi dạy bài 19 : Rễ cây- TNXH lớp 3 gồm 2 tiết. Tiết 1 chỉ thực hiện 3 hoạt
mạng tháng tám, quốc khánh 2.9 và giờ phút thiêng liêng Bác Hồ đọc Tuyên
ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).
12
Hình ảnh tiết dạy minh họa Lịch sử lớp 5
tại trường tiểu học Nga Vịnh, Nga Sơn
Ví dụ 2: Hoạt động giáo dục Mỹ thuật lớp 2, bài Thường thức mỹ thuật: Xem
tranh dân gian. Yêu cầu giáo viên chuẩn bị một số hình ảnh về tranh dân gian
và tư liệu làng tranh Đông Hồ để trình chiếu giới thiệu cho học sinh vào đầu tiết
học để học sinh quan sát, nhận xét để có hiểu biết thêm về tranh dân gian và
hiểu biết mỹ thuật nhằm phát triển toàn diện.
Trong dạy học các môn khác, tùy theo nội dung của từng bài để vận dụng
trình chiếu tranh ảnh minh học, cảnh đẹp, tư liệu, nội dung kiến thức kỹ năng để
học sinh cảm nhận khi viết văn hoặc cảm thụ văn học, củng cố kiến thức mà
không thể diễn tả hết bằng lời, bằng minh họa.
2. Nâng cao chất lượng dạy học VNEN thông qua việc phát huy hiệu
quả dạy học 2 buổi/ngày. Tổ chức tốt và đa dạng các hoạt động GDNGLL,
Hoạt động tập thể và Hoạt động giáo dục theo chủ đề, hoạt động của các
Câu lạc bộ trong nhà trường để tăng cường bồi dưỡng học sinh giỏi, học
sinh năng khiếu và phụ đạo học sinh yếu, giúp học sinh phát triển toàn
diện.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục thì việc tổ chức dạy 2 buổi/ngày ở các
trường tiểu học là một yêu cầu không thể thiếu. Làm thế nào để nâng cao chất
lượng giảng dạy và hoạt động 2 buổi/ngày mà vẫn đảm bảo được phương châm
của giáo dục Tiểu học là "Học nhẹ nhàng - tự nhiên - hứng thú - hiệu quả" ?
Trước yêu cầu trên, thầy, cô, những người làm công tác sư phạm phải hiểu và
phải tìm kiếm những giải pháp giáo dục sao cho phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi
Hình ảnh Hoạt động ngoại khóa của trường tiểu học Nga Vịnh, Nga Sơn
nhân dịp 22/12
Qua đó, các em được thoải mái vui chơi có tổ chức, các em còn được hiểu
biết thêm về Đội, rèn luyện kỹ năng sống, những kỹ năng giao tiếp, những kiến
thức về Nghi thức Đội và quan trọng là cường độ học tập giãn ra. Đây cũng
chính là một hoạt động sinh hoạt vui chơi có tổ chức, hỗ trợ rất nhiều cho việc
xây dựng "Môi trường học thân thiện với trẻ" và "Môi trường lớp học tích cực"
theo yêu cầu đổi mới phương pháp "Học mà chơi- Chơi mà học", tạo điều kiện
để giáo viên có thời gian gần gũi , gắn bó với học sinh hơn. Nhà trường phải đổi
mới hình thức, phương pháp tổ chức, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
"dạy cách học” cho học sinh, biết tổ chức đa dạng và phong phú các hoạt động
dạy học và giáo dục để các em luôn thấy rằng "Trường học là ngôi nhà đáng yêu
14
của các em", “Ở nhà là con ngoan, ở trường là trò giỏi” và "Mỗi ngày đến
trường là một ngày vui”…
Việc tổ chức tốt các Câu lạc bộ(CLB) trong nhà trường hỗ trợ tốt cho nâng
cao chất lượng dạy học. Muốn vậy, yêu cầu giáo viên lập kế hoạch hoạt động cụ
thể. Chẳng hạn: Xây dựng thời khóa biểu cụ thể cho các Câu lạc bộ hoạt động:
Thứ hai
CLB Toán
Thứ ba
CLB T.Việt
Thứ tư
CLB T.Anh
thành bản tin treo trước cổng ra vào trường để phụ huynh cùng mọi người tham
khảo. Cách làm này có tác dụng nâng cao nhận thức của mọi người về Mô hình
VNEN và được sự ủng hộ rất lớn hỗ trợ nhà trường thực hiện hoạt động của Dự
án tốt hơn và bản thân CBGV dạy học hiệu quả hơn. Việc tổ chức các hoạt động
tuyên truyền được tiến hành ngay từ đầu năm học. Ban giám hiệu nhà trường
tham mưu với Địa phương tổ chức cuộc họp với Thường vụ đảng ủy, HĐND,
UBND và các ban ngành đoàn thể trong xã về lĩnh vực giáo dục. Tại cuộc họp
này, các đại biểu đã được giới thiệu các văn bản chỉ đạo thực hiện Mô hình
trường học mới và kế hoạch tổ chức thực hiện và chất lượng giáo dục của nhà
trường để tranh thủ ý kiến chỉ đạo đồng thời tuyên truyền sâu rộng đến các lực
lượng xã hội và đưa vào chương trình hành động theo từng tháng, từng giai đoạn
để tiếp tục được sự ủng hộ, đầu tư CSVC, trang trí lớp học, hỗ trợ các hoạt động
và kết hợp cùng nhà trường tham gia vào các hoạt động giáo dục. Mỗi thầy cô
giáo trong nhà trường phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh trong việc giáo dục
con cái. Sự kết nối, đồng lòng của nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội thúc
đẩy sự thành công các hoạt động Dự án.
4. Tăng cường kiểm tra, giám sát, giúp đỡ giáo viên dạy tốt Mô hình
VNEN. Phát động các phong trào thi đua, biểu dương người tốt việc tốt, tạo
động lực và không khí vui tươi, phấn khởi để CBGV, HS phấn đấu hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ.
Công tác kiểm tra, giám sát vừa là điều tra xem xét hoạt động sư phạm vừa là
tự kiểm tra, đánh giá các quyết định của người cán bộ quản lý. Chức năng kiểm
tra, giám sát không chỉ tiến tới việc xếp loại, bình bầu mà còn xác định phương
hướng, mục tiêu, đánh giá kết quả giáo dục, điều chỉnh kế hoạch nhằm động
viên, giúp đỡ giáo viên, học sinh nâng cao chất lượng dạy học. Việc kiểm tra,
giám sát là hoạt động bình thường thông qua dự giờ, thăm lớp, qua lắng nghe
giáo viên chia sẻ băn khoăn, vướng mắc…, qua sinh hoạt chuyên môn hoặc
trong tổ chức các hoạt động nhà trường,… được thực hiện thường xuyên theo
từng tuần, từng tháng trong năm học để phát hiện những hạn chế, khó khăn,
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, biểu dương người tốt việc
tốt theo từng tháng. Bằng lồng ghép trong các tiết học và sinh hoạt ngoại khóa.
Cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, giáo viên, công nhân viên,
học sinh tích cực tham gia các phong trào thi đua do ngành và địa phương phát
động, đặc biệt là phong trào thi đua Hai tốt, phong trào phấn đấu trở thành chiến
sỹ thi đua, giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi các cấp. Tổ chức cho cán bộ giáo
viên nắm vững tiêu chuẩn của các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng
được qui định tại Luật thi đua khen thưởng năm 2005 và Thông tư 12/2012/TTBGDĐT ngày 03/4/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn
công tác thi đua, khen thưởng ngành giáo dục. Trên cơ sở đó tổ chức cho cán bộ
giáo viên đăng ký thi đua một cách công khai, dân chủ để có hướng phấn đấu.
Nhà trường cùng Liên đội phát động đến tất cả các em học sinh và các lớp thực
hiện tốt các hoạt động thiết thực để chào mừng các ngày lế trong từng tháng và
trong năm. Tổ chức các hội thi, các buổi giao lưu, kể chuyện truyền thống, các
hoạt động ngoại khóa ... và yêu cầu các lớpvà nhà trường tổ chức bình xét
gương người tốt việc tốt, điển hình tiên tiến để nêu gương trong buổi chào cờ
của tuần cuối mỗi tháng và đề ra kế hoạch phấn đấu cho tháng tiếp theo. Nhà
trường đã tổ chức các hoạt động bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù
17
hợp với lứa tuổi học sinh, mang lại hiệu quả giáo dục sâu sắc. Sau đây là hình
ảnh Hoạt động biểu dương Người tốt Việc tốt của trường tiểu học Nga Vịnh:
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ
TRƯỜNG.
Sau khi áp dụng các giải pháp đã trình bày trên, tôi thấy giờ học VNEN
đã thực sự cuốn hút học sinh. Các em chủ động tìm tòi và nắm vững kiến thức.
Khả năng giao tiếp và hợp tác tốt hơn. Khả năng điều hành của nhóm trưởng
được nâng cao, hoạt động nhóm được phát huy hiệu quả. Chất lượng giáo dục
SL
%
SL
%
4
40
0
40
Kết quả khảo sát chất lượng giáo dục học sinh:
Tổng
số HS
Hoàn thành
Hoàn thành tốt
xuất sắc nhiệm
nhiệm vụ
vụ
Hoàn thành
nhiệm vụ
Chưa hoàn
thành nhiệm vụ
18
150
SL
tiếp, điều hành
hoạt động tốt
SL
%
81
54
Khả năng giao
tiếp, điều hành
hoạt động khá
SL
%
39
26
Biết giao tiếp, Chưa biết giao
điều hành
tiếp, điều hành
hoạt động
hoạt động
SL
%
SL
%
30
20
0
0
Từ kết quả trên cho thấy chất lượng dạy của giáo viên và chất lượng học của
trường để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh
Với kinh nghiệm trên, bản thân mong rằng đồng nghiệp có thể tham khảo tích
lũy thêm kinh nghiệm để dạy học và quản lý giáo dục đạt hiệu quả hơn. Bản thân
19
tiếp tục học hỏi, tích lũy kinh nghiệm nâng cao trình độ năng lực trong quản lý, chỉ
đạo, đưa nhà trường vững bước trên con đường phát triển.
II. KIẾN NGHỊ
- Các cấp quản lý cần có những nghiên cứu, điều chỉnh để mô hình trường
học mới thực hiện phù hợp và thành công hơn.
- Tiếp tục có sự quan tâm, hỗ trợ từ phụ huynh, cộng đồng và xã hội để
rphats triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước.
- Cán bộ quản lý và giáo viên tiếp tục học hỏi những kinh nghiệm, áp dụng
sáng kiến vào thực tế công tác và đóng góp ý kiến để sáng kiến ngày càng được
hoàn thiện, nhân rộng và phát triển góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Nga Vịnh, ngày 25 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người thực hiện
Yên Thị Hạnh
20
Mục đích nghiên cứu
1
III
Đối tượng nghiên cứu
1
IV
Phương pháp Nghiên cứu
1
B
I
II
Nội dung SKKN
Cơ sở lí luận
Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN
2
2
4
III
về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh, biểu dương người tốt việc tốt theo từng
tháng tạo không khí vui tươi, phấn khởi, tạo động lực để
CBGV và HS phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Kết luận và kiến nghị
6
13
16
16
18
19
22
23
24
25