BÁO cáo THỰC tập về GIẢI QUYẾT án LY hôn TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ LAI CHÂU - Pdf 41

LỜI CẢM ƠN


Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy, cô Khoa Luật,
trường Đại học Vinh đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt khóa
học, đặc biệt là tạo cơ hội để em tiếp cận với môi trường thực tế thông qua đợt
thực tập đầy ý nghĩa và thiết thực này.

Em xin chân thành cảm ơn Chánh Án, các Phó Chánh Án cùng toàn thể cán
bộ - nhân viên Tòa Án Nhân Dân thành phố Lai Châu đã tạo điều kiện thuận lợi
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập giúp em tiếp thu được nhiều kiến thức bổ
ích từ thực tế và góp phần to lớn trong việc từng bước hoàn thiện kỹ năng, kiến
thức chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp khi bước vào nghề.

Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Thanh
đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành báo cáo thực tập đúng thời gian
quy định. Trong quá trình thực hiện báo cáo, em còn nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, hỗ trợ và động viên của quý thầy cô, bạn bè và gia đình. Em xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc.

Với thời gian thực tập ngắn, trình độ và nhận thức còn nhiều hạn chế do đó sẽ còn
nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được sự nhận xét góp ý, phê bình, của quý thầy
cô, để em có điều kiện học hỏi, tiếp thu kiến thức, tìm hiểu, nghiên cứu, hoàn thiện
kỹ năng nghề nghiệp và phấn đấu hơn nữa.

Cuối cùng em xin kính chúc Ban giám hiệu và quý thầy cô lời chúc sức khoẻ,
thành đạt và hạnh phúc trong cuộc sống và công tác. Trân trọng cảm ơn.


Vinh , Ngày 20 tháng 04 năm 2015
Sinh viên thực tập


XHCN

Xã hội chủ nghĩa

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
Người châu á chúng ta luôn coi trọng tình nghĩa vợ chồng đạo đức luôn được
đặt lên hàng đầu Chính vì vậy mà nhiều cặp vợ chồng đã sống với nhau hạnh phúc
đến trọn đời.
Tuy nhiên trong những năm trở lại đây do ảnh hưởng của nền kinh tế thị
trường và sự giao thoa mạnh mẽ của các nền văn hóa nhận thức của con người
ngày càng thay đổi, tình nghĩa vợ chồng mỗi ngày lại được nhìn nhận khác đi.
Hiện nay vấn đề này không còn được coi trọng như xưa, nên khi hai bên (vợ,
chồng) có mâu thuẫn họ sẵn sàng đặt bút ký vào đơn ly hôn để giải phóng cho
nhau. Nếu tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung
không thể duy trì được thì giải phóng cho nhau là điều tốt.
Việc không còn coi trọng và không cố gắng gìn giữ nghĩa vợ chồng mà
nhiều cặp vợ chồng đã nhanh đưa ra quyết định chia tay, chấm dứt quan hệ hôn
nhân khi chưa cân nhắc kỹ. do vậy đã gây ảnh hưởng rất lớn đến trật tự xã hội làm
gia tăng các vụ án ly hôn. Tòa án phải thụ lý và giải quyết ngày càng nhiều.


tỉnh Lai Châu.
1.2 Đặc điểm hoạt động và cơ cấu tổ chức của Tòa Án Nhân Dân thành phố
Lai Châu
1.2.1 Đặc điểm hoạt động
Dựa trên Luật tổ chức Tòa án năm 2014, chức năng và lĩnh vực hoạt động
của TAND Thành phố Lai Châu được quy định cụ thể theo quy định tại điều 2
về Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân, theo đó Tòa án
nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
thực hiện quyền tư pháp.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Xét xử các vụ án hình sự, dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và


giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật. Từ đó, đưa ra các bản án,
quyết định thi hành.
Ngoài những lĩnh vực quy định chung cho tòa án thì tại điều 44 luật tổ
chức tòa án quy định cụ thể Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương
1. Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật.
2. Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật.
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu
Hiện nay TAND Thành phố Lai Châu có tổng số 13 đồng chí. Trong đó
Dân tộc Thái: 02; Dân tộc Kinh: 11. Trong đó tất cả các đồng chí đều có bằng
đại học. Trình độ về lý luận chính trị: Trung cấp: 02, Sơ cấp : 06. Về tổ chức
bộ máy đơn vị bao gồm 01 chánh án, 01 phó chánh án phụ trách án hình sự, 01
phó chánh án phụ trách án dân sự, 4 Thẩm Phán, 03 thư ký và 03 cán bộ đảm
nhận các chức danh khác.
Cụ thể:


DÂN SỰ

PHÓ CHÁNH ÁN
(THẨM PHÁN)
THẨM PHÁN

HÌNH SỰ


5
6
7
8
9
10
11
12
13

PHÙNG THỊ HƯƠNG

THẨM PHÁN

GIANG
KHUẤT THỊ LAN
NGUYỄN VĂN BẰNG
PHÙNG THỊ KHÁNH
NGUYỄN BÍCH NGA
NGUYỄN THỊ TOÀN

Trong đề tài này em tập trung nghiên cứu về thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ
án ly hôn tại TAND thành phố Lai Châu từ năm 2013 đến tháng 4 năm 2015, tìm


hiểu, phân tích và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả xét xử
sơ thẩm các vụ án ly hôn tại TAND thành phố Lai Châu.
Nói riêng và các Tòa án trên cả nước nói chung
2.2Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích chủ yếu là tìm hiểu thực tiễn xét xử các vụ án ly hôn tại TAND
thành phố Lai Châu và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử sơ
thẩm các vụ án ly hôn trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích trên cần
- Đánh giá thực trạng xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn tại TAND thành phố
Lai Châu từ năm 2013 đến tháng 4 năm 2015.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm các
vụ án ly hôn tại TAND thành phố Lai châu nói riêng và các TAND trên cả nước
nói chung.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là sử dụng phép duy vật biện chứng và một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể khác. Nhưng chủ yếu vẫn là phương pháp tiếp cận
hệ thống, tổng kết, thống kê, so sánh, khái quát, phân tích và đánh giá thực tiễn xét
xử sơ thẩm các vụ án ly hôn tại TAND thành phố Lai Châu.
2.4 Thực trạng xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn của Tòa án nhân dân thành
phố Lai Châu từ năm 2013 đến tháng 4 năm 2015
2.4.1 Đánh giá chung về các quy định của pháp luật áp dụng xét xử sơ thẩm
các vụ án ly hôn
a. Pháp luật nội dung áp dụng xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn
Hôn nhân và gia đình là các hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng
với sự phát triển của xã hội loài người. HN&GĐ biểu hiện mối quan hệ xã hội
giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đình. Trong

nói chung cũng như việc ly hôn và giải quyết hậu quả của nó nói riêng là hoàn
toàn khác nhau. Luật hôn nhân gia đình cũng đã có những điều luật quy định cụ
thể rõ ràng về vấn đề này.
b. Pháp luật tố tụng dân sự áp dụng xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn


Nếu như pháp luật nội dung quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự trong
vụ án ly hôn thì pháp luật tố tụng quy định trình tự, thủ tục giải quyết nhằm đảm
bảo việc giải quyết nhanh chóng, đúng đắn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự trong vụ án ly hôn.
Về nguyên tắc khi vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có yêu cầu ly hôn, xét thấy
hợp lý, Tòa án thụ lý vụ việc ly hôn và giải quyết theo thủ tục của luật định.
Việc thụ lý yêu cầu ly hôn được thực hiện theo các thủ tục do pháp luật tố tụng
dân sự quy định tại điều 53 Luật HN&GĐ 2014). Theo đó, khi có yêu cầu ly hôn
tùy từng trường hợp có thể thụ lý giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án (vụ án ly
hôn), hoặc thụ lý giải quyết việc dân sự (yêu cầu ly hôn).
Thụ lý vụ án ly hôn khi ly hôn do một bên yêu cầu hoặc khi thuận tình ly hôn
nhưng có tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Còn khi các bên đã thỏa
thuận được quan hệ tài sản, quan hệ con cái và cả hai người có yêu cầu ly hôn thì
Tòa án sẻ giải quyết việc ly hôn. Và nếu sau khi giải quyết việc dân sự mới phát
sinh tranh chấp thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự và các đương sự phải
khởi kiện vụ án ly hôn.
Trong mọi trường hợp ly hôn, Tòa án đều phải tiến hành điều tra và hòa giải.
Qua công tác điều tra, Tòa án tìm hiểu mâu thuẫn của vợ chồng có hay không có,
nguyên nhân và mức độ mâu thuẫn đó, điều kiện, hoàn cảnh nghề nghiệp, tâm tư
tình cảm, nguyện vọng của đương sự. Kết quả điều tra tốt chính là cơ sở cho công
tác hòa giải và xét xử ly hôn được chính xác.
Theo quy định tại Điều 54 Luật HN&GĐ 2014 thì sau khi thụ lý yêu cầu ly hôn
Tòa án phải tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nếu trong
các hồ sơ về ly hôn mà không có biên bản hòa giải thì bản án hoặc quyết định của

độ dân trí ngày càng được nâng cao, tuy nhiên vẫn còn một số bộ phận trình độ
nhận thức về vấn đề HN&GĐ còn hạn chế mặt khác do sự thay đổi của vấn đề
kinh tế - xã hội nên kéo theo sự thay đổi quan niệm của con người về vấn đề hôn


nhân, hiện tượng tảo hôn, lấy nhiều vợ đặc biệt là ly hôn ngày càng tăng về số
lượng và mang tính phức tạp hơn gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân cư
và điều kiện chính trị, kinh tế và xã hội của thành phố.
Tại TAND thành phố Lai Châu số lượng vụ án ly hôn mà Tòa án đã thụ lý,
giải quyết ngày càng tăng về số lượng và đa dạng về nội dung. Việc giải quyết một
số lượng lớn các loại án hàng năm là cố gắng, nỗ lực lớn của đội ngũ thẩm phám
và cán bộ TAND thành phố Lai Châu
Theo báo cáo tổng kết của TAND thành phố Lai Châu từ năm 2014 đến
tháng 4 năm 2015 thì Tòa án đã thụ lý và giải quyết số lượng lớn các vụ án ly hôn.
Thể hiện qua bảng thống kê sau:

Năm

Năm

Đến tháng

2013

2014

4 /2015

Vụ án đã giải quyết


20

TT

Hòa giải thành công
nhân sự thỏa thuận
Xét xử
Tổng cộng vụ án

- Năm 2013 TAND thành phố Lai Châu đã thụ lý tổng số án là 149 vụ án,
trong đó án HN&GĐ là 63 án riêng án ly hôn có đến 63 vụ, chiếm 42,28% tổng
lượng án mà Tòa án đã thụ lý. So với năm 2012 thì số lượng vụ án ly hôn mà Tòa
án đã thụ lý tăng 10 vụ. Trong số đó Tòa án đã giải quyết được 62 vụ đạt tỷ lệ
98,4%, so với năm 2012 thì tỷ lệ giải quyết tăng 0,5% ( Năm 2012 Tòa án thụ lý
52 vụ án ly hôn, giải quyết được 50 vụ). Số lượng vụ án ly hôn trong tổng số vụ
việc HN&GĐ trong năm 2013 chiếm khoảng 98,8%.
Nguyên nhân dẫn đến ly hôn rất đa dạng, nhưng chủ yếu tập trung là do từ
nguyên nhân mâu thuẫn gia đình (50% trong tổng số vụ án ly hôn), đánh đập,


ngược đãi (17%), ngoại tình (15%) bệnh tật, không có con (8%), vợ chồng xa cách
(3%) và những nguyên nhân khác như: người khác xúi dục, điều kiện kinh tế gia
đình, cờ bạc, rượu chè…(7%).
Trong năm 2013 mặc dù gặp nhiều khó khăn trong công tác điều tra, xác
minh, thu thập chứng cứ nhưng TAND thành phố Lai Châu đã nêu cao tinh thần
trách nhiệm, làm đúng quy định pháp luật, bám sát các hướng dẫn của TANDTC,
liên ngành TW, tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, tạo điều kiện cho
đương sự thỏa thuận theo đúng pháp luật.
Về vấn đề hòa giải, thì trong tổng số án HN&GĐ mà TAND thành phố Lai
Châu đã giải quyết (63vụ) thì số lượng vụ hòa giải không thành phải đưa ra xét xử

Lai Châu trên. Tại bản án phúc thẩm số 12/HNGĐ-PT ngày 25/05/2013 của
TAND tỉnh Lai Châu quyết định:
+ Bác yêu cầu xin thay đổi nuôi con của anh Phạm Văn T
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc tăng mức nuôi dưỡng, anh
T phải đóng 1.200.000đồng/1 tháng để nuôi con chung là Phạm Ngọc Thùy Tr đến
khi đủ 18 tuổi.
Ở đây, sau khi xem xét vào tình hình thực tế và khả năng của mỗi bên, Tòa
án hai cấp xét xử đã có quyết định giống nhau về việc tăng mức cấp dưỡng cho
cháu Tr từ 1.000.000 ngìn đồng lên 1.200.000 ngìn đồng/ 1tháng bác đơn yêu cầu
xin thay đổi nuôi con của anh Phạm Văn T. Như vậy việc anh thay đổi nuôi con
khi cháu Tr chưa đủ 18 tuổi là trái với quy định của pháp luật nên Tòa án bác đơn
yêu cầu xin thay đổi nuôi con của anh T là hoàn toàn đúng pháp luật. Còn vấn đề
tăng mức cấp dưỡng cho cháu Linh từ 1.000.000 ngìn đồng lên 1.200.000 ngìn
đồng thì sau khi Tòa án điều tra, xác minh tình hình thực tế về điều kiện sống của
anh T nếu anh đủ khả năng cấp dưỡng thì quyết định của Tòa án như vậy là hợp
lý, đúng pháp luật.
- Năm 2014 TAND thành phố Lai Châu đã thụ lý được 152 vụ án, việc hôn
nhân gia đình, trong đó có 83 vụ án ly hôn (chiếm 54,6 % tổng số án HN&GĐ),


tăng 20 vụ so với năm 2013. Tòa án đã giải quyết được 82 vụ đạt 98,8%, mặc dù
so với năm 2013 tỷ lệ giải quyết cao hơn nhưng vì năm 2014 số lượng vụ án nhiều
hơn mặt khác án có tính đa dạng, phức tạp hơn đã gây khó khăn cho đội ngũ cán
bộ Tòa án trong việc thụ lý, giải quyết.
Nguyên nhân dẫn đến ly hôn thì chủ yếu cũng giống những năm trước,
nguyên nhân xin ly hôn vẫn là do tính tình không hợp mâu thuẫn gia đình, đánh
đập ngược đãi, ngoại tình, không có con…
Từ năm 2014, phát huy tinh thần làm việc có trách nhiệm, có hiệu quả cao.
Trong công tác hòa giải, mặc dù số lượng án giải quyết nhiều nhưng công tác hòa
giải vẫn đạt kết quả cao. Số lượng án hòa giải không thành, đưa ra xét xử so với

sống suy đồi đạo đức, nhận thức của con người về quan hệ hôn nhân không còn
coi trọng như trước nên các với hiện tượng đánh đập, ngược đãi vợ con, ngoại
tình…dẫn đến mâu thuẫn của gia đình trầm trọng, tình cảm vợ chồng chấm dứt,
tranh chấp về tài sản và con cái ngày càng phức tạp, quan hệ hôn nhân đổ vỡ.
2) Về mặt kinh tế: Nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển cao,thì nhu
cầu sinh hoạt, tiêu dùng của con người ngày càng lớn. Bên cạnh những gia đình có
thu nhập ổn định việc tổ chức đời sống gia đình tốt thì vẫn còn đó những gia đình
có thu nhập thấp thậm chí không có thu nhập hoặc có thu nhập khá nhưng vì nhu
cầu chi tiêu quá cao làm cho đời sống gia đình không ổn định, vợ chồng chật vật
vì đồng tiền…hậu quả kéo theo là gia đình hay xảy ra các mâu thuẫn, đánh đập
ngược đãi nhau… và quan hệ gia đình đổ vỡ dẫn đến ly hôn.
Mặt khác, do chính sách mở cửa của nền kinh tế thị trường đất nước, cũng
như các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tăng trưởng và phát triển
kinh tế cải thiện đời sống nhân dân, làm cho đời sống nhân dân tăng lên, chất
lượng đời sống gia đình được cải thiện rõ rệt. Từ đó tài sản của gia đình cũng trở
nên phong phú, ngày một nhiều và phức tạp, đặc biệt tài sản là nhà, quyền sử dụng
đất…tranh chấp ngày càng diễn ra phức tạp hơn.
Ví dụ: vụ án của Võ Đức C và Nguyễn Thị H tranh chấp tài sản là đất đai
đương sự không hợp tác nên đã gây khó khăn rất lớn cho công tác thẩm định giá


tài sản để đưa vụ án ra xét xử Trong khi đó giá cả thị trường thì thường xuyên
biến động, làm cho quá trình xác minh, thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn hơn
gây cản trở cho việc giải quyết các vụ án ly hôn.
3) Do hệ thống pháp luật nói chung và các văn bản pháp luật về HN&GĐ,
các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật liên quan như, Luật dân
sự, Luật nhà ở, Luật đất đai, Luật tố tụng dân sự… còn nhiều tồn tại và mâu thuẫn,
chồng chéo nhau. Điều này đã gây nhiều khó khăn cho công tác xét xử các vụ án
ly hôn của Tòa án khi áp dụng pháp luật.
4) Một nguyên nhân khác nữa làm ảnh hưởng đến công tác xét xử đó là số

và sự nỗ lực, cố gắng học tập, nâng cao trình độ nghiên cứu của cán bộ công chức
trong đơn vị nên hàng năm TAND thành phố Lai Châu đã hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ được giao.
- Đội ngũ cán bộ Tòa án 100% có trình độ đại học được đào tạo cơ bản và
hiện nay số lượng cán bộ có bằng đại học tăng hơn so với những năm trước đáp
ứng được yêu cầu, tiêu chuẩn của Tòa án. Đội ngũ thẩm phán đã được học qua lớp
bồi dưỡng thẩm phán và không ngừng nâng cao chuyên môn của mình qua các lớp
tập huấn.
- Mặc dù hàng năm số lượng án nhiều, bình quân mỗi năm TAND thành phố
Lai Châu phải thụ lý 150-200 vụ việc và ngày càng tăng, ngoài ra số lượng đơn kiện
gửi đến Tòa án là rất lớn (gấp rưỡi số lượng án phải thụ lý) nhưng chất lượng xét xử
cũng không ngừng được nâng cao, thủ tục tiến hành tố tụng chặt chẽ, đảm bảo theo
đúng quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo nghị quyết của
bộ chính trị và ban chỉ đạo cải cách tư pháp TW và của TANDTC đề ra.
b. Một số khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi đã đề cập ở trên thì hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án ly hôn tại TAND thành phố Lai Châu còn gặp một số khó khăn sau:
Hiện nay, tại TAND các cấp trên địa bàn tỉnh Lai Châu nói chung và tại
TAND thành phố Lai Châu nói riêng chưa có đội ngũ thẩm phán chuyên trách về
lĩnh vực HN&GĐ, mà thẩm phán trong lĩnh vực này vẫn đang thuộc thành phần


thẩm phán về lĩnh vực dân sự. Do vậy chưa có sự phân công bố trí hợp lý mà còn
có tình trạng phân công thẩm phán thụ lý giải quyết vụ việc mang tính “tùy nghi”,
hơn nữa trong đội ngũ thẩm phán phần lớn là nữ giới trong khi đó, lĩnh vực
HN&GĐ là vấn đề hết sức tế nhị, liên quan đến mặt tình cảm hết sức phức tạp, đặc
biệt là bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em, do vậy đối với nữ giới việc đi
sâu tìm hiểu thực trạng quan hệ gia đình cần giải quyết sẽ gặp khó khăn hơn. Bên
cạnh đó, mặc dù các vụ án ly hôn, các tranh chấp vợ chồng, con cái ngày càng
nhiều, đa dạng và phức tạp nhưng trên địa bàn thành phố ít hoặc không thấy có

khó khăn, vướng mắc mà em sẽ làm rõ thêm dưới đây.
* Những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật HN&GĐ
trong xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn
+ Áp dụng căn cứ ly hôn
Theo khoản 8 Điều 8 Luật HN&GĐ 2000 và Luật HN&GĐ 2014 quy định “ly
hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu
cầu của vợ hoặc của chồng hoặc của cả hai vợ chồng”, việc ly hôn phải dựa vào
căn cứ cho phép ly hôn mà pháp luật quy định.
Nội dung căn cứ ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 89 Luật HN&GĐ
2000 và tại điều 56 luật HN&GĐ 2014 quy định : “Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn,
nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích
hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly hôn” Đây chỉ là quy định
mang tính lý luận, thực tế gặp nhiều khó khăn và phức tạp khi áp dụng.
Để áp dụng giải quyết đúng đắn, hợp lý trước hết cần phải hiểu, quan hệ vợ
chồng ở vào “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” là giữa vợ
chồng đã có nhiều lục đục, mâu thuẫn sâu sắc đến mức vợ, chồng không thể dung
hòa, tình cảm vợ, chồng không thể hàn gắn được, tình trạng đó ảnh hưởng đến
cuộc sống gia đình và các thành viên trong gia đình không thể nào sống bình
thường được. Khi có yêu cầu ly hôn thì đương sự đưa ra nhiều lý do vì vậy khi
xem xét đánh giá “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” cần
phải đặt thực trạng đời sống vợ chồng trong tổng thể mối quan hệ, và như vậy, khi


giải quyết ly hôn, Tòa án mà cụ thể là người thẩm phán không chỉ dừng lại ở việc
ghi nhận sự hiện hữu của tình trạng đó biểu hiện như thế nào mà còn cần phải
thẩm tra, xem xét lợi ích của vợ chồng, của con cái, của gia đình và xã hội trong
quan hệ hôn nhân đó như thế nào. Có cách nhìn toàn diện như vậy thì việc xét xử,
giải quyết ly hôn mới mang lại kết quả cao, chính xác góp phần thúc đẩy quan hệ
HN&GĐ phát triển phù hợp với đạo đức XHCN, phù hợp với lợi ích toàn xã hội.
Khi giải quyết, Tòa án không chỉ dựa vào nguyên nhân mà đương sự đưa ra

Tại bản án số 12/2014/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 10 năm 2014 Hội đồng xét
xử TAND thành phố Lai Châu đã: Áp dụng khoản 1 Điều 89 Luật HN&GĐ 2000
xử bác đơn yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh H.
Ngày 25/10/2014, chị N đã có đơn kháng cáo gửi lên TAND tỉnh Lai Châu yêu
cầu xem xét cho chị được ly hôn với anh H với ly do hạnh phúc không còn, mâu thuẫn
về quan điểm sống, hay xung đột nhau trong đời sống gia đình.
Qua quá trình thu thập, xác minh lại chứng cứ và đối chiếu với nội dung vụ
án, TAND tỉnh Lai Châu đã nhận định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra chỉ là do hiểu
lầm nhau, chưa đến mức trầm trọng nên TAND tỉnh Lai Châu khi xét xử phúc
thẩm đã giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND thành phố Lai Châu.
Như vậy trong trường hợp này do chị N không đưa ra được các chứng cứ để
chứng minh mâu thuẫn vợ, chồng “đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”, trong khi đó anh H vẫn yêu
thương chị và việc ghen tuông chị chỉ do hiểu lầm. Chính vì vậy, TAND tỉnh Lai
Châu đã áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 89 Luật HN&GĐ 2000 và mục 8 NQ số
02/2000/HĐTP ngày 23/12/2009 của Hội đồng thẩm phán TANDTC xử bác đơn
yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh H là đúng pháp luật, thấu tình đạt lý.
Thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn tại TAND thành phố Lai Châu
trong những năm qua cho thấy nguyên nhân dẫn đến “tình trạng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài” là rất đa dạng, phức tạp.
Thực tế có nhiều nguyên nhân mà mỗi đương sự khi đến trình bày tại Tòa án
là không hề giống nhau, mỗi vụ án mỗi nguyên nhân. Bên cạnh những nguyên


nhân đã được bộc lộ ra ngoài qua sự trình bày của đương sự thì vẫn còn những
nguyên nhân ẩn dấu bên trong mà các đương sự không muốn đề cập hoặc cố tình
che dấu như: ngoại tình, không chung thủy,bị đánh đập, ngược đãi, vợ chồng xa
cách lâu năm, bệnh tật, không có con hoặc không sinh được con trai, nguyên nhân
kinh tế…cũng là nguyên nhân hay xảy ra trong các vụ án ly hôn.
Trên thực tế, có một số vụ án ly hôn, thẩm phán chưa thật sự phân biệt được căn

dùng tài sản chung để tu sửa, làm tăng giá trị tài sản riêng của mình thì Tòa án cần
xác định phần tăng giá trị đó, nhập vào tài sản chung để chia, trên thực tế việc xác
định này không phải là vấn đề dễ dàng.
Theo quy định của pháp luật, thời kỳ hôn nhân chấm dứt khi có sự kiện pháp
lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật đó là:
- Khi vợ, chồng chết hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố vợ, chồng đã
chết.
- Trường hợp vợ, chồng còn sống thì hôn nhân chấm dứt bằng ly hôn, tính từ
thời điểm phán quyết về ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Trên lý thuyết và thực tế (khi có yêu cầu) cần phải xác định về vấn đề tài sản
giữa vợ chồng: chế độ tài sản của vợ, chồng được xác định như thế nào khi người
chồng hoặc người vợ đó trở về? Vấn đề này đã gây khó khăn cho Tòa án khi giải
quyết những trường hợp này. Ở đây có thể có hai trường hợp:
- Sau khi người vợ, chồng đã bị tuyên bố là đã chết, tài sản chung của vợ
chồng chưa chia; người chồng, vợ (còn sống) đang quản lý tài sản chung.
- Có trường hợp sau khi tuyên bố vợ, chồng đã chết tài sản chung của vợ
chồng đã được chia, phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung đã chia
cho những người thừa kế của người đó.
Vấn đề đặt ra là: - Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố
người vợ chồng đã chết, quan hệ hôn nhân của họ đương nhiên được khôi phục
(nếu người chồng, vợ kia chưa kết hôn với người khác). Vậy quan hệ tài sản (gồm
khối tài sản chung của vợ chồng) có đương nhiên được khôi phục hay không?
Khôi phục như thế nào? Sau khi người vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết, những tài


sản do người chồng, vợ tạo dựng, cùng các hoa lợi, lợi tức thu được từ các loại tài
sản kể từ khi người vợ, chồng bị tuyên bố là đã chết cho đến ngày trở về, thuộc
khối tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của người chồng, vợ đó?
- Những hợp đồng mà người vợ, chồng đó đã ký kết với người khác (người
thứ ba) nhưng chưa được thực hiện; những món nợ mà người vợ, chồng vay của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status