HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
BÀI TẬP NHÓM
Chủ đề: HỒI
GIÁO
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Hoàng Thị Cường
Trương Thị Thanh Hoa
Nguyễn Thị Diệu Linh
Đặng Thị Mai
Trần Thị Hương Quỳnh
Nguyễn Tuyết Sương
Nhóm 12 - KH14NS1
AH130435
AH130447 Nhóm trưởng
AH130451
AH130473
AH131055
Hà Nội, tháng 09 năm 2015
MỤC LỤC
Nội dung
I. Khái quát về Hồi giáo
II. Hồi giáo ở Việt Nam
10
1. Quá trình du nhập và phát triển Hồi giáo ở Việt Nam
10
2. Thực trạng Hồi giáo ở Việt Nam
11
III. Những quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà
nước ta về Hồi giáo
Đặt vấn đề:
2
14
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, cùng với việc hình thành các giá
trị văn hóa, hệ thống tín ngưỡng tôn giáo của cộng đồng người Việt cũng
được hình thành. Ở Việt Nam tập hợp hầu hết các hình thức khác nhau của
những tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi
giáo (Islam), Hòa Hảo và Cao Đài… Tài liệu này sẽ giúp chúng ta tìm hiểu
sâu hơn về Hồi giáo (sự ra đời, phát triển, giáo lý, nghi lễ, tổ chức…) và
thực trạng Hồi giáo ở Việt Nam, cùng những quan điểm, chủ trương, chính
một tôn giáo quốc tế, thống soái các quốc gia dân tộc từ Địa Trung Hải đến
3
Vịnh Ba Tư. Vào khoảng ba thế kỷ sau (từ thế kỷ XIV đến XVI), Hồi giáo
truyền bá xuống vùng Đông Nam Á, trong đó có cả Việt Nam. Hiện nay,
Hồi giáo là tôn giáo có tín đồ đông nhất thế giới (trên 1,5 tỷ tín đồ - The
Pew Forum on Religion and Public Life cập nhật năm 2009), có mặt ở hơn
100 quốc gia trên tất cả các châu lục, nhưng tập trung ở vùng Trung Cận
Đông, Bắc Phi, Trung Á và Đông Nam Á.
Thứ ba, sự xuất hiện của Hồi giáo vào những giai đoạn này, đến giữa
thế kỉ XX, gắn với các khu vực có nền kinh tế phát triển thấp hơn so với
các khu vực của Công giáo và đạo Tin Lành.
Sự phát triển của Hồi giáo chẳng những bằng con đường truyền đạo,
mà bằng con đường chiến tranh, gọi là các cuộc Thánh chiến. Vì thế quá
trình phát triển thường kè theo sự mâu thuẫn nội bộ, chia vực các phe phái,
làm cho nội bộ Islam ở các khu vực cũng có những bất đồng về chính trị.
2.
Giáo lý Hồi giáo.
Cũng như bất cứ một tôn giáo nào, giáo lý Hồi giáo cũng bao gồm
những quan niệm về thế giới và con người. Tuy nhiên, giáo lý Hồi giáo
chứa đựng yếu tố tín ngưỡng cổ của người Ả rập. Cơ sở giáo lý Hồi giáo là
niềm tin vào thánh Allah và Thiên sứ Muhammad, tin vào thiên thần và sự
bất tử của linh hồn, tin vào ngày phục sinh và phán xét cuối cùng. Đặc biệt
là tin vào sự vĩnh cửu của kinh Koran và luật Sariat.
Đặc điểm giáo lý của Hồi giáo là đơn giản nhưng luật lệ và lễ nghi
rất phức tạp, nghiêm khắc, thậm chí đến mức khắt khe và nhiều khi vượt ra
Tín đồ Hồi giáo phải luôn có thái độ đúng: trong cộng đồng Hồi giáo thì
phải kiên nhẫn chịu đựng, phục tùng thánh Allah, đối với người ngoài thì
phải kiên quyết bảo vệ mọi lợi ích của Hồi giáo và phải có tinh thần thánh
chiến.
Về y lý: khuyên bảo con người phải giữ gìn sức khỏe.
Những lời khuyên về đạo lý:
Tôn thờ Thiên chúa cao nhất là Allah.
Sống nhân từ độ lượng.
Thưởng phạt công minh, trừng phạt chủ yếu đối với kẻ thù.
Thánh chiến là thiêng liêng và bắt buộc.
Kiên định và nhẫn nại trong mọi thử thách.
Tin vào định mệnh và sự công minh của Allah.
Cấm một số thức ăn: thịt heo, rượu bia và các chất có men.
Trung thực.
Không tham của trộm cắp.
Làm lễ và tuân thủ các nghi lễ Hồi giáo.
Giáo chủ.
Người sáng lập ra Hồi giáo là Muhammad. Theo truyền thuyết người
Hồi kể lại thì: Muhammad sinh năm 570 tại Mecca. Mồ côi từ nhỏ, ông
được ông nội và bác đem về nuôi dưỡng. Mặc dù không biết đọc, không
biết viết, nhưng ông rất thông minh, khôn ngoan và giàu nghị lực. Lớn lên,
ông lấy vợ là bà Khadija. Từ lúc lập gia đình, ông chuyên tâm lo vào việc
buôn bán và đồng thời nghiên cứu về đời sống tâm linh. Lúc 40 tuổi, ông
vào thiền trong hang núi Hira thì bất ngờ 1 đêm, ông thấy thiên thần Jibrael
(Gabriel) thừa lệnh Thiên Chúa Allah xuống “khải thị” cho ông, khiến ông
trở thành sứ giả của Thượng đế. Từ đó, Hồi giáo chính thức được khai
sinh. Để hợp pháp hóa tôn giáo mới này, ông tự xưng mình là Tiên tri – sứ
giả cuối cùng được thánh Allah cử đến để truyền bá lời dạy của thánh
Allah, giáo dục lối sống cho người dân Arab; đồng thời ông cũng phán
rằng kinh Koran là bộ kinh chính thức của người Arab. (chống & hủy bỏ 2
nhiên về nghi thức cầu nguyện đặc biệt này của họ.
Khi cầu nguyện tại nhà thờ Hồi Giáo, những người đàn ông đứng
thành hàng ngang sát nhau. Đàn bà luôn luôn xếp hàng ở phía sau đàn ông
hoặc cầu nguyện tại nhà riêng. Trong nhà thờ Hồi Giáo (giống như Tin
Lành) không có bàn thờ hoặc ảnh tượng, không có người chủ lễ. Chỉ có
người hướng dẫn cầu nguyện tiếng Ả Rập gọi là Imam.
Sau khi cầu nguyện xong, mọi người quay sang trái sang phải bắt tay
và cúi chào những đồng đạo ở quanh mình. Họ chúc nhau "bình an và đầy
ơn Chúa". Cử chỉ thân thiện giữa những người đồng đạo với nhau đã được
thực hiện trong thế giới Hồi Giáo từ 14 thế kỷ qua.
Thứ ba: Bố thí cho kẻ nghèo. Hồi Giáo coi việc bố thí này là một
thứ thuế tôn giáo đối với mọi tín đồ có lợi tức. Số tiền này được ấn định là
1/40 hoặc 2.5% lợi tức hàng năm. Trong các nước Hồi Giáo được coi là
quốc giáo thì tiền bố thí được chính thức gọi là "thuế bố thí" do chính phủ
trực tiếp thu. Tuy vậy, người nạp thuế vẫn có quyền đóng nhiều hay ít tùy
theo khả năng và hoàn cảnh riêng của mình. Tổng số tiền thu được trở
thành một thứ quỹ xã hội của quốc gia để cứu giúp hữu hiệu những người
nghèo khó, cô quả, già yếu, bệnh tật, hoạn nạn hoặc không còn khả năng
6
làm việc. Kinh Koran dạy rằng: "Bố thí là bổn phận do Thiên Chúa đòi
hỏi". Do đó, các tín đồ Hồi Giáo quan niệm bố thí là nghĩa vụ chứ không
phải là một hành vi bác ái hoặc từ thiện.
Thứ tư: Ăn chay trong tháng Ramadan (tháng 9 âm lịch Hồi Giáo).
Việc ăn chay này kéo dài suốt tháng: không ăn không uống trong suốt thời
gian ban ngày tức từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn từ ngày đầu
tháng đến rạng mồng một tháng mười. Người ăn chay chỉ được phép ăn
một cách từ tốn sau khi mặt trời lặn. Trong suốt tháng Ramadan không ai
các tín đồ. Thánh đường gồm có Đại Thánh đường (giáo đường) và Tiểu
Thánh đường (nhà nguyện). Trong Thánh đường có bài trí đơn giản, không
7
•
bàn ghế, không có đồ thờ quý hay nhạc cụ, chỉ có chiếc gậy mà theo truyền
thuyết là của giáo chủ Muhammad đã dùng nó để đi truyền đạo.
Hệ thống chức sắc từ khi thành lập đến nay, nó không còn thống nhất và
luôn bị thay đổi tùy theo các giáo phái Hồi giáo, gồm có:
Giáo chủ (hay còn gọi là Giáo trưởng) là người đứng đầu một quốc gia Hồi
giáo.
Ommal là người đứng đầu Hồi giáo ở tỉnh.
Giáo cả (Ha Kim) là người cai quản thánh đường.
Phó giáo cả (Naib Ha Kim) là người phụ tá cho giáo cả.
Ahly là người đứng đầu thôn ấp Hồi giáo.
Imam là người hướng dẫn hành lễ, thực hiện nghi lễ cho tín đồ ở thánh
đường.
Hadji là tín đồ đã qua hành hương ở thánh địa Mecca.
Ngoài ra, Hồi giáo còn có một số chức sắc khác như Khatib, Tuan,
Bilat, Slak, Cadis (lo về tư pháp của chính phủ Hồi giáo, Cheik (làm nhiệm
vụ truyền giáo).
6.
Niềm tin tôn giáo
Xét về niềm tin, tín đồ Hồi giáo tin vào Alah, sứ giả Muhammad,
thiên sứ, thiên kinh, hậu thế.
Đây là quan niệm sai lệch lớn nhất về Hồi giáo và hiển nhiên đó là
kết quả của việc truyền bá thông tin về Đạo Hồi một cách rập khuôn và
báng bổ từ các phương tiện truyền thông. Những hành vi đó không thể rập
khuôn hoàn toàn một đức tin và không bao giờ được quy chụp đó là những
hành vi tôn giáo bởi rõ ràng chúng được thực hiện bởi những kẻ phạm tội.
7.
Hồi giáo cho phép tranh chiến để tự vệ, bảo vệ tín ngưỡng hay để
dành cho những người bị cưỡng bức phải rời bỏ nơi ăn, chốn ở của mình.
Hồi giáo đặt ra luật chiến đấu rất nghiêm ngặt gồm những cấm đoán không
được hại đến thường dân và phá hủy mùa màng, cây cối, vật nuôi.
Kinh Koran có viết: "Hồi giáo cấm giết người vô tội".
Phụ nữ bị đàn áp.
Hình ảnh người phụ nữ Hồi giáo điển hình đeo mạng che mặt và bị
buộc ở nhà, không được lái xe là điều phổ biến vô cùng trong tư tưởng của
hầu hết các dân tộc. Dù ở một số quốc gia Hồi giáo có thể có những luật lệ
đàn áp phụ nữ nhưng điều này không nên được xem là bắt nguồn từ Hồi
giáo.
•
Bạo lực đối với phụ nữ dưới bất cứ hình thức nào và việc ngăn cấm
phụ nữ theo đuổi ý chí của họ về một mục đích nào đó là điều không được
phép. Hồi giáo xem phụ nữ dù độc thân hay đã có gia đình là một cá nhân
tự mình có đủ thẩm quyền, kể cả quyền được lưu giữ và cho đi tài sản, lợi
tức của mình. Thông thường thì chú rể tặng cô dâu của hồi môn để nàng
làm của riêng cho mình. Cô dâu thường vẫn giữ họ của mình hơn là lấy họ
chồng. Một cuộc hôn nhân Hồi giáo là một thỏa thuận pháp lý đơn giản,
trong đó, hai bên được tự do đưa ra các điều kiện. Theo Hồi giáo, một cô
gái Hồi giáo không bị ép buộc phải kết hôn, cha mẹ cô gái đơn giản chỉ gợi
ý cho cô gái những chàng trai trẻ mà họ nghĩ có thể phù hợp với cô.
Hồi giáo truyền vào khu vực Đông Nam Á khá sớm, khoảng thế kỷ
XI, XII. Nếu so với các khu vực Hồi giáo khác trên thế giới, thì việc truyền
bá Hồi giáo vào Đông Nam Á chủ yếu bằng con đường "hoà bình" qua
những thương nhân Ảrập, Ấn Độ, Ba Tư.
Hồi giáo du nhập vào Việt Nam qua các thời điểm khác nhau. Theo Tống
sử Trung Quốc thì thế kỷ X đã thấy người Chăm khi giết trâu để cúng, họ
đều cầu nguyện câu kinh đề cao Thượng đế Allah của người Hồi giáo, điều
này có thể giả định từ thế kỷ thứ X, Hồi giáo đã được truyền vào đất
Chiêm Thành.
Có thể nói từ thế kỷ X, tín ngưỡng Hồi giáo đã manh nha ở Vương
quốc Chămpa thông qua các thương nhân từ Trung Cận Đông đem vào,
gây ảnh hưởng nhất định trong đời sống tâm linh người Chămpa. Nhưng
Hồi giáo không phát triển, có lẽ vì lòng sùng tín thần thánh Bàlamôn giáo,
tập tục, lễ nghi cùng chế độ mẫu hệ đã bén rễ ăn sâu, trở thành truyền
thống trong xã hội Chămpa, trải qua hơn nghìn năm không dễ gì thay đổi.
Vì vậy, ở Vương quốc Chămpa cổ vào khoảng trước năm 1470 Hồi giáo
chưa phải là tôn giáo chính thống của người Chăm.
10
Sau năm 1470, một bộ phận cư dân Chămpa lưu tán đã tiếp xúc với người
Malaysia, Indonesia, Campuchia... và họ bắt đầu tìm hiểu Hồi giáo ở các
nước đó, nhiều người Chăm bỏ tôn giáo truyền thống (đạo Bàlamôn) để
theo Hồi giáo. Những người Chăm khi tiếp thu được tôn giáo mới, họ quay
về nước để truyền lại cho đồng bào mình. Từ đó Hồi giáo có chỗ đứng
đáng kể trong cộng đồng cư dân Chămpa và chính thời điểm này sự giao
hoà giữa đạo Islam và đạo Bàlamôn đã sản sinh ra một tôn giáo mới của
người Chăm, đó là đạo Bàni tại miền Nam Trung bộ.
Giang, Long An, Bình Dương , Bình Phước , Hà Nội.Đây là nhóm Hồi
11
giáo chính thống , không bị pha trộn với phong tục, tập quán, tín ngưỡng
cũ và thường xuyên liên hệ với thế giới Hồi giáo Campuchia và Malaysia.
Hai là : cộng đồng theo Hồi giáo đã bị Chăm hóa gọi là Chăm Bàni,
sống tập trung ở 3 tỉnh Ninh Thuận , Bình Thuận, Bình Phước. Đạo Hồi
Chăm Bàni hiện có khoảng 39.000 tín đồ người Chăm và có khoảng hơn
400 vị tu sĩ, chức sắc. Đây là nhóm Hồi giáo không chính thống vì đã pha
lẫn với yếu tố sinh hoạt và tôn giáo bản địa. Các lễ thức được tiếp biến cho
phù hợp với chế độ gia đình mẫu hệ và các lễ liên quan đến chu kỳ đời
sống của con người và các lễ thức nông nghiệp, không có liên hệ với Hồi
giáo thế giới. Đây là tôn giáo đặc trưng chỉ có ở Việt Nam, nó gắn chặt với
dân tộc Chăm, là một phần tạo nên bản sắc văn hóa tôn giáo của người
Chăm, làm “ mềm hóa “ tính cứng nhắc của Hồi giáo, làm cho hệ phái Hồi
giáo ở Việt Nam phong phú và đa dạng.
b.
Nhu cầu về niềm tin tôn giáo.
Đồng bào Chăm có niềm tin sâu sắc vào Thượng đế Allah và Thiên kinh
Qur’an. Đó là nhu cầu đời sống tinh thần không thể thiếu của đồng bào
người Chăm. Nhưng niềm tin đó có sự khác nhau trong quá trình thực thi
giáo luật Hồi giáo giữa hai dòng: Chăm Islam thực thi giáo luật Hồi giáo
hầu như trọn vẹn, mang tính chính thống, yếu tố tôn giáo sâu sắc hơn.
Chăm Bà ni thực hiện giáo luật mang tính tượng trưng, không thực hiện
hết 5 điều sống đạo, chỉ thực hiện trong tháng Ramadan hay còn gọi là
tháng vào chùa của các vị chức sắc.
c.
•
•
•
•
Thánh đường AI Rahman được xây dựng sớm nhất ( 1885 ) tại Việt Nam ở
quận 1 tp Hồ Chí Minh.Thánh đường này chủ yếu dành cho người
Malaysia và Indonesia.
Thánh đường Jamia AI Noor ở 12 Hàng Lược Hoàn Kiếm Hà Nội.Đây là
thánh đường Hồi giáo duy nhất ở miền Bắc và là thánh đường thứ hai được
xây dựng tại Việt Nam (1890).
Thánh đường Jamia AI Muslim ở quận 1 tp Hồ Chí Minh được xem là
thánh đường Hồi giáo lớn nhất ở tp Hồ Chí Minh.
Thánh đường Jamiyah Islamic ở 52 Nguyễn Văn Trỗi quận Phú Nhuận tp
Hồ Chí Minh là thánh đường của người Chăm và là Văn phòng Ban đại
diện cộng đồng Hồi giáo tp Hồ Chí Minh.
Thánh đường Jamiul Muslimin ở huyện An Phú tỉnh An Giang là thánh
đường Hồi giáo lớn nhất Việt Nam tính đến hết năm 2009.
e. Tổ chức Hồi giáo.
Người Chăm Islam thành lập các Ban Quản trị thánh đường theo từng khu
vực cư trú. Đứng đầu ban quản trị là vị Hakim sau đó là một số chức sắc
như: Naib , Ahly , thư ký ,thủ quỹ.
Chăm Bàni mỗi làng có một chùa Bàni. Chức sắc Bàni tiêu biểu thành lập
ban cai quản chùa với người đứng đầu là Sư cả, giúp việc cho sư cả là các
thầy: Mun, Tip, Chang.
Trước năm 1975, Với Chăm Islam ở miền Nam, Hồi giáo có hai tổ
chức chính thức là: “Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam” và “Hội đồng
giáo cả Islam Việt Nam”. “Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam” hoạt động
sách tôn trọng tự do tín ngưỡng ,tôn giáo của Đảng nhà nước ta.
III.
Những quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về vấn đề tôn giáo.
Việt Nam là một nước đa tín ngưỡng, tôn giáo với khoảng hơn 20 triệu tín
đồ theo các tôn giáo khác nhau. Từ xưa đến nay, các tín ngưỡng, tôn giáo
luôn chung sống hòa hợp, gắn bó với dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn có quan điểm, thái độ rõ ràng về tín
ngưỡng, tôn giáo theo lịch sử phát triển dân tộc. Chính sách tôn giáo của
Đảng và nhà nước ta được xây dựng một mặt trên quan điểm cơ bản của
học thuyết Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo;
mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Tư tưởng
nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
14
Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VI, số 24/NQ-TW, ngày 16/10/1990 đã nêu lên 4 quan điểm đánh giá về
tôn giáo trong tình hình mới như sau:
Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài.
Tín ngưỡng, tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân
lao động có đạo.
Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công việc xây dựng xã hội
mới.
Các thế lực thù địch vẫn chưa từ bỏ âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống lại
dân tộc và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Quan điểm chính sách chỉ đạo về công tác công tác tôn giáo của Đảng
kiện Đại hội Đảng lần thứ IX và một số Văn kiện khác. Đồng thời quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề tự do tín
ngưỡng tôn giáo cũng đã được thể hiện xuyên suốt trong 5 bản Hiến pháp:
15
Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1960, Hiến pháp 1992 sđbs
2001 và Hiến pháp 2013 của nước ta.
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền nhân thân cơ bản của công
dân cũng được đề cập trong Bộ Luật Dân sự, được bảo vệ bằng pháp luật
và được cụ thể hóa trong văn bản quy phạm pháp luật ngày càng ở mức độ
cao hơn, hoàn thiện hơn. Cụ thể là sau 5 năm thực hiện, Nghị định
26/1999/NĐ-CP, ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo
đã được thay thế bằng Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo do Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội khóa XI thông qua ngày 18/6/2004 và Chủ tịch nước ký lệnh
công bố ngày 29/6/2004. Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ra đời là một minh
chứng rõ ràng và một lần nữa tiếp tục khẳng định nguyên tắc nhât quán
trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng tự do
tín ngưỡng, tôn giáo.
Thực tế, những chủ trương, chính sách tôn giáo không phải chỉ được
khẳng định ở Hiếp pháp, pháp luật hay trong các Chỉ thị, Nghị quyết của
Đảng mà còn được thể hiện sống động trong cuộc sống hàng ngày.
Kết luận:
Văn hóa Đạo hồi từ lâu đã có mặt ở nước ta và có những ảnh hưởng
rộng đến văn hóa của nhân dân. Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân
tộc, tôn giáo. Vì vậy việc quản lý nhà nước về dân tộc và các hoạt động tôn
giáo là một hoạt động quan trọng trong quản lý nhà nước đối với các ngành
và các lĩnh vực. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng, bảo đảm và tạo điều