BÁO CÁO NGHIÊN CỨU CÁC NỘI DUNG CỤ THỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
* * *
CHUYÊN ĐỀ LUẬT HÀNH CHÍNH 3
CÁC NỘI DUNG CỤ THỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC
Giáo viên hướng dẫn: Nhóm sinh viên thực hiện: MSSV
Nguyễn Lan Hương Đỗ Thị Kim Chi S1200236
Lê Thị Diệu Phương S1200271
Nguyễn Ngọc Hân S1200310
Cần Thơ, tháng 08 năm 2014
CHUYÊN ĐỀ
CÁC NỘI DUNG CỤ THỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC
I. CƠ SỞ PHÁP LÝ
Điều 21 Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ
về Công tác dân tộc.
II. PHÂN TÍCH
Cùng với việc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước theo
đường lối “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng,
phát huy sức mạnh toàn dân tộc”, công tác quản lý nhà nước về dân tộc
ngày càng trở thành một lĩnh vực hoạt động quan trọng của bộ máy nhà
nước. Do tính chất đa dạng của chính sách dân tộc, nên công tác quản
lý nhà nước về

dân tộc bao gồm nhiều mặt hoạt động trải rộng trên các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nhưng đều hướng đến đối
tượng chung là đồng bào dân tộc thiểu số. Khác với nội dung công tác
dân tộc của các cơ quan khác trong hệ thống chính trị, công tác quản lý
nhà nước về dân tộc tập trung vào việc chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực
hiện chính sách, pháp luật, triển khai các chương trình, dự án. Nội dung
quản lý nhà nước về dân tộc được xác định tại Điều 21 Nghị định
05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc,

thêm 5 năm, và gọi giai đoạn 1997-2006 là giai đoạn I, giai đoạn II
(2006-2010), đến nay, Chương trình đang trong giai đoạn III (2011-
2015) với nhiều điểm khác biệt, phát triển hơn so với các giai đoạn
trước.
2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân
tộc; xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, chính
sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân
định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành
phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu
số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí,
bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc là sự
thể chế hoá để quan điểm, đường lối của Đảng về dân tộc đi vào cuộc
sống, pháp luật về dân tộc có vai trò quan trọng, là công cụ để quản lý
nhà nước trong lĩnh vực dân tộc. Công tác dân tộc là nhiệm vụ chung
của toàn bộ hệ thống chính trị, mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị,
tùy theo địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà
có phương thức khác nhau để thực hiện công tác dân tộc. Bộ máy nhà
nước, từ trung ương đến địa phương, quản lý nhà nước về dân tộc
bằng những biện pháp, công cụ khác nhau, trong đó pháp luật là công
cụ quan trọng.
Ngoài những văn bản pháp luật điều chỉnh riêng đối với các dân
tộc thiểu số, các vấn đề pháp luật về dân tộc còn được lồng ghép trong
nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hoá, xã
hội, giáo dục, y tế,
Trong nhiều năm qua, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ta
thường xuyên ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung những quy định
pháp luật theo tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển,
tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối

xuyên cho cơ quan công tác dân tộc các cấp và chính sách lương, phụ
cấp nhằm động viên, thu hút cán bộ, công chức về làm việc ở các cơ
quan công tác dân tộc và vùng dân tộc thiểu số.
4. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho
vùng dân tộc thiểu số
Nội dung công tác này bao gồm các mặt hoạt động chủ yếu sau:
- Đa dạng hóa nguồn tài chính; ban hành chính sách khuyến
khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế
đầu tư vào các vùng dân tộc thiểu số; tăng cường khai thác các nguồn
vốn từ hợp tác quốc tế, thành lập quỹ phát triển cho vùng dân tộc
thiểu số.
- Tăng ngân sách nhà nước hàng năm cho việc thực hiện chính
sách dân tộc và cho đầu tư phát triển các vùng dân tộc thiểu số đặc biệt
khó khăn.
- Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra tài chính,
nhằm chống thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu quả, chất lượng đầu tư
và thực hiện chính sách dân tộc.
Được cụ thể hóa bằng:
- Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04/4/2013 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ
phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn
khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn.
- Quyết định số 33/2013/QĐ-TTg ngày 04/6/2013 của Thủ tướng
Chính Phủ về tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định
canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015.
- Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 về việc phê duyệt
Chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào
dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn
giai đoạn 2013-2015.
- Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng

thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 755/QĐ-TTg; Quyết
định số 29/2013/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và
giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó
khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013 -2015; Chính sách
hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn vay vốn phát triển
sản xuất theo Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg.
- Hội Nông dân các cấp có trách nhiệm thường xuyên giám sát việc
tổ chức thực hiện các chính sách vùng dân tộc thiểu số. Nắm bắt những
thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, tâm tư nguyện vọng và
những kiến nghị của nông dân các dân tộc làm cơ sở tham mưu cho
Đảng, Nhà nước xây dựng và điều chỉnh chính sách dân tộc cho phù hợp
với tình hình thực tế.
- Thực hiện chế độ sơ kết, tổng kết quá trình thực hiện chương trình
phối hợp hàng năm ở các cấp, các địa phương để rút kinh nghiệm, phát
hiện và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách dân
tộc và kiến nghị, bổ sung, sửa đổi một số chính sách chưa phù hợp với
thực tế các địa phương.
6. Tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng
bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực
hiện
Thực hiện theo: Thông tư liên tịch 01/2012/TTLT-BTP-UBDT ngày
17 tháng 01 năm 2012 của Bộ Tư pháp và Ủy ban dân tộc hướng dẫn
thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số.
Ngoài ra cần thực hiện các vấn đề sau:
- Tuyên truyền, vận động nông dân các dân tộc thực hiện tốt chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đặc
biệt là chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số và vùng dân tộc,
miền núi.
- Tuyên truyền, vận động nông dân các dân tộc thiểu số tích cực

thể và cộng đồng tại địa phương.
- Thông qua mạng lưới truyền thanh tại cơ sở; phát hành bản tin, tờ
rơi nội bộ, pano, áp phích; qua website của các ngành; kết hợp với báo,
đài xây dựng tiểu phẩm, làm các chương trình, phóng sự chuyên đề.
- Lồng ghép tuyên truyền, phổ biến thông qua các buổi nói chuyện
thời sự, tập huấn kỹ thuật sản xuất cho nông dân; tại các buổi hội thảo,
hội nghị đầu bờ; xây dựng quy ước của thôn, bản; tổ chức các cuộc thi
tìm hiểu pháp luật dưới hình thức viết hoặc sân khấu hóa.… Trong đó
tiêu biểu như các cuộc thi tìm hiểu về Bộ Luật Lao động, hội thi “An
toàn vệ sinh viên giỏi”, “Tuyên truyền viên Luật Bảo hiểm xã hội”,
“Luật Giao thông đường bộ”, “Luật Phòng chống ma túy, HIV/AIDS”
… chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao nhận thức, hiểu
biết và thực thi pháp luật, từ đó góp phần nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân.
- Thông qua hoạt động của câu lạc bộ tư vấn pháp luật, trung tâm trợ
giúp pháp lý và hòa giải tại các huyện để kết hợp triển khai phổ biến,
tuyên truyền pháp luật tới người dân nông thôn.
- Hỗ trợ địa phương xây dựng tủ sách pháp luật ở thôn, bản; Triển
khai các hình thức giải đáp pháp luật qua thư điện tử, gửi ý kiến giải đáp
qua đường bưu điện, phối hợp với đài 1080 của từng vùng để giải đáp
mọi thắc mắc cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tổ chức tốt các phong trào
tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. Tổ
chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợ phát
triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn
trong cuộc sống.
Thông qua Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ
tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và việc
làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng

quy chế dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động
tối đa mọi khả năng đóng góp của nhân dân trong việc xây dựng và phát
triển địa phương; hướng dẫn cách làm ăn cho người dân, động viên nhân
dân cố gắng vươn lên thoát khỏi đói nghèo và làm giàu chính đáng; tăng
cường sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc. Bên cạnh đó, công tác cán
bộ là người dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo được chú trọng, bảo đảm
có cơ cấu hài hòa giữa các thành phần dân tộc trong các tổ chức trong hệ
thống chính trị.
Vận động bà con tích cực xây dựng quê hương, hướng dẫn và giải
quyết kịp thời nhu cầu sinh hoạt, tín ngưỡng của đồng bào theo quy định
của pháp luật. Phối hợp với các ngành chức năng hướng dẫn các tổ chức
tôn giáo hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối
đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo.
Quan tâm, chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng
bào dân tộc thiểu số việc làm có ý nghĩa quan trọng, góp phần động viên
bà con tích cực hưởng ứng, chấp hành tốt các quy ước, hương ước của
bản, làng, thôn xóm cũng như các quy định, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước.
Trong phong trào thi đua công tác xã hội tốt, cần tích cực vận động
đồng bào dân tộc thiểu số đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tham gia cuộc vận động "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" gắn với xây dựng nông thôn mới,
thực hiện tốt các quy ước, hương ước, nếp sống văn minh trong việc
cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể
dục, thể thao, duy trì các lễ hội truyền thống…
Khuyến khích các đồng bào dân tộc thiểu số đăng ký đạt tiêu chuẩn
gia đình văn hóa
Hưởng ứng cuộc vận động ủng hộ quỹ "Vì người nghèo" và phong
trào xóa nhà tạm, làm nhà đại đoàn kết cho người nghèo do Mặt Trận Tổ
Quốc phát động giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo.

người dân tộc thiểu số làm việc trong hệ thống chính trị và cán bộ
trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc. Đánh giá đúng thực chất
đội ngũ cán bộ, bám sát yêu cầu chính trị từ đó xây dựng kế hoạch,
quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu
dài. Thực hiện tổng kết đánh giá theo từng giai đoạn để phát hiện số
lượng cán bộ còn chưa đạt chuẩn từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng cụ thể.
* Về công tác quy hoạch cán bộ:
Quy hoạch cán bộ, bao gồm cả quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý
và quy hoạch cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, là nhiệm vụ, là trách
nhiệm của các cấp ủy đảng theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện,
trực tiếp và tuyệt đối về công tác cán bộ, trong đó có công tác quy hoạch
cán bộ.
Quy hoạch cán bộ phải tiến hành thật sự dân chủ, công khai, không
khép kín trong phạm vi một cơ quan, đơn vị mà phải kết hợp giữa quy
hoạch của cơ quan quản lý cấp trên và cấp dưới; đồng thời phải mở rộng
ở phạm vi ngành, lĩnh vực và địa phương. Quy hoạch cán bộ không chỉ
quy hoạch một người cho một chức danh; thường xuyên. nhận xét, đánh
giá dân chủ, công khai cán bộ trong quy hoạch để kịp thời điều chỉnh, bổ
sung quy hoạch cho phù hợp, mạnh dạn dưa ra khỏi quy hoạch những
cán bộ không bảo đảm theo tiêu chuẩn, khắc phục tình trạng nể nang,
ngại va chạm.
Cần làm rõ giữa quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và quy hoạch
cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ. Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý là
chuẩn bị và tạo nguồn cán bộ làm căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, xây
dựng đội ngũ cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp
trong hệ thống chính trị. Còn cán bộ, công chức chuyên môn có tài năng
nhưng không muốn hoặc không có sở trường lãnh đạo, quản lý thì cần
quy hoạch, bồi dưỡng họ nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ.

cấp xã.
- Xây dựng và triển khai có hiệu quả đề án đánh giá chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức; bố trí, sử dụng cán bộ, công chức sau đào tạo
một cách hợp lý. Tạo động lực để cán bộ, công chức, viên chức chủ
động, tích cực tự bồi dưỡng và tham gia đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao
trình độ, năng lực làm việc.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức, viên chức
thông qua việc phân cấp, phân quyền, cải tiến quy trình, thủ tục tuyển
dụng theo hướng công khai, dân chủ và phải bảo đảm tuyển dụng theo vị
trí việc làm và tuyển chọn được công chức, viên chức có đủ tiêu chuẩn
đáp ứng yêu cầu công việc.
Trong cơ cấu đầu tư cho các vùng đặc biệt khó khăn cần dành một
khoản kinh phí thỏa đáng cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số, có chính
sách ưu tiên trong đào tạo, trong phương tiện học tập, học phí; trong cơ
hội tiếp cận thông tin tri thức văn hóa …
Quy định tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức trong đó có chế
độ ưu tiên đối với người dân tộc thiểu số, người địa phương. Công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó đặc biệt là cán bộ dân tộc
thiểu số phải được quan tâm triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp,
ngành nhằm tạo ra những người có đủ nhiệt huyết, bản lĩnh, năng lực,
có trách nhiệm và đem lại hiệu quả cao.
8. Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc
Cần xây dựng Bộ cơ sở dữ liệu các dân tộc thiểu số Việt Nam nhằm
mục tiêu chuẩn hóa, nâng cao chất lượng thông tin; Xử lý, phân tích và
tổng hợp thông tin dữ liệu, thành phần và các nguồn thông tin có liên
quan. Xây dựng giải pháp kỹ thuật phần cứng, phần mềm, tạo môi
trường giao diện thuận lợi cho người sử dụng tạo lập, cập nhật, khai thác
thông tin. Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu nhằm lưu trữ, quản
lý toàn bộ cơ sở dữ liệu theo mô hình thống nhất, tích hợp và trao đổi

dựng hệ thống thống kê về nguồn viện trợ và vốn vay ưu đãi vào vùng
dân tộc thiểu số.
- Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án Tăng cường hợp tác
quốc tế hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo Quyết định, Đề án ưu tiên 7 lĩnh vực: 1- Phát triển giáo dục, đào
tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ dân trí và xây dựng đội ngũ cán
bộ người dân tộc; 2- Đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội vùng đồng bào
dân tộc thiểu số; 3- Đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất, đẩy nhanh công tác
xóa đói giảm nghèo; 4- Đảm bảo nước sạch, vệ sinh môi trường và ứng
phó biến đổi khí hậu; 5- Chăm sóc sức khỏe, giảm thiểu tình trạng tảo
hôn, hôn nhân cận huyết thống và HIV/AIDS; 6- Bảo tồn, phát triển văn
hóa các tộc người và bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số; 7- Nâng
cao năng lực xây dựng chính sách cho đội ngũ cán bộ liên quan đến
công tác dân tộc.
- Ngoài ra, nhà nước còn trợ giúp phát triển các chính sách như cung
cấp các nguồn lực, cơ sở vật chất cho các vùng, hộ gia đình , hướng
dẫn cách thức tổ chức để tăng cường hoạt động của các tổ chức kinh tế -
xã hội, tổ chức nghề nghiệp hoặc năng lực tự tổ chức của cá nhân trong
quá trình phát triển, giáo dục giúp người dân nâng cao dân trí, có thêm
kiến thức, thông tin, kinh nghiệm cần thiết và bảo đảm thực thi tốt các
chính sách y tế và các chính sách an sinh xã hội khác.
10. Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực ti‡n tình hình công tác
dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà
nước về lĩnh vực công tác dân tộc
- Thông qua báo cáo hàng năm của các cơ quan công tác dân tộc
trên cả nước, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những quyết sách được thực
thi thông qua bộ máy hành pháp nhằm quản lý và phát triển kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội đối với các dân tộc và vùng dân tộc nhằm thiết
lập sự bình đẳng và hoà nhập phát triển, củng cố, tăng cường đoàn kết
thống nhất của cộng đồng các dân tộc.

ở vùng dân tộc thiểu số.
*
* *
Nói tóm lại, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, yêu cầu
cấp thiết đặt ra là cần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa
các vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục
của các dân tộc hiện nay còn đang ở trong tình trạng kém phát triển.
Để thực hiện được mục tiêu cấp thiết này, Nhà nước ta đang nỗ lực đầu
tư cho khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó, đặc biệt quan tâm
đầu tư

cho đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao, vùng sâu,
vùng đặc biệt khó khăn. Các chiến lược, chương trình, kế hoạch hoạt
động hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện thông qua
hoạt động quản lý nhà nước về dân tộc.
Trong tương lai, để hướng đến mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi
tình trạng một nước kém phát triển, thì cùng với việc tích cực đầu tư
làm thay đổi kinh tế - xã hội ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, một
vấn đề quan trọng đặt ra là Đảng và Nhà nước ta cần phát huy truyền
thống đoàn kết dân tộc. Để làm được điều này không thể thiếu công
tác quản lý nhà nước về dân tộc, với tính chất là một lĩnh vực hoạt động
thường xuyên trong tổ chức, điều hành nền hành chính quốc gia.
Đồng thời hiện nay vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đang là một
trong những vấn đề thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để gây
rối an ninh chính trị, trật tự xã hội, phá hoại sự ổn định chính trị của chế
độ và sự phát triển bền vững của Nhà nước ta. Trước tình hình đó, công
tác dân tộc trở thành một nhiệm vụ quan trọng của toàn bộ hệ thống
chính trị mà trong đó, hoạt động quản lý nhà nước về dân tộc có vị trí
rất quan trọng.
*


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status