MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC - Pdf 41

Trường Đại Học Đồng Nai
Thành phố Biên Hòa

Chủ đề 6 :
MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TIỂU HỌC

ĐỘI NGŨ CỦA NHÓM 6
Nguyễn Thị Thanh Hương
Phạm Thị Thanh Tuyền
Hồ Thị Mỹ Linh
Nguyễn Ngọc Ánh
Nguyễn Thị Ngọc Ninh
Lê Thúy Hằng


Phạm Thị Kim Khánh
Mục lục.
1.Quan niệm về đánh giá và các hình thức đánh giá
2.Thu thập các thông tin phục vụ cho đánh giá
3.Tự đánh giá :
4.Lập hồ sơ học tập của học sinh
5.Tìm hiểu về câu hỏi trắc nghiệm:


1.








-

-

Những chức năng : Theo giáo sư Trần Bá Hoành trong dạy học đánh giá có 3
chức năng:
+ Chức năng sư phạm: Làm sáng tỏ thực trạng, định hướng điều chỉnh học sinh
dạy và học.
+ Chức năng xã hội: Công khai hóa kết quả học tập của mỗi học sinh trong tập
thể lớp, trường báo cáo kết quả học tập, giảng dạy trước phụ huynh và các cấp
quản lí giáo dục.
+ Chức năng khoa học: Nhận định chính xác về một mặt nào đó thực trạng dạy
và học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến nào đó trong bài dạy.
Yêu cầu của việc đánh giá
1.2.1 Về mục tiêu
- Đánh giá kết quả học tập Toán phải góp phần thực hiện:
+ Giáo dục toàn diện: Thể hiện ở việc đánh giá đầy đủ những kiến thức, kĩ năng
cơ bản của môn Toán theo chuẩn đã xác định, có chú ý đến việc tích hợp các nội
dung giáo dục khác trong quá trình kiểm tra thường xuyên và định kì.
+ Đổi mới phương pháp dạy học: Thể hiện ở việc tổ chức, hướng dẫn khuyến
khích
học sinh hoạt động học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, theo năng lực của cá nhân.
+ Động viên học sinh chăm học, học tập theo phương pháp hợp lý, tự tin, hứng
thú trong việc học và thực hành luyện tập.
+ Tiến tới việc đánh giá khách quan, công bằng và sử dụng các phương tiện kĩ
thuật trong quá trình đánh giá và xử lí kết quả đánh giá.
1.2.2 Về nội dung :
- Nội dung đánh giá phải toàn diện: bao gồm chuẩn kiến thức Toán ở mỗi lớp về

đề khác tương tự cho học sinh làm bài. Những học sinh chưa đạt yêu cầu cần được
giáo viên kèm cặp và tổ chức kiểm tra lại sau một tuần.
+) Các bài kiểm tra định kì được thông báo đến phụ huynh học sinh và được lưu
trữ tại trường cho cả bậc tiểu học.
1.3. Các hình thức đánh giá.


Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học toán nói riêng, thể loại đánh giá mà giáo
viên thường áp dụng là:
+ Đánh giá không chính thức
+ Đánh giá chính thức.
Sau đây chúng ta xem xét từng thể loại và các tác động của chúng đến quá trình giảng
dạy và học tập.
1.3.1. Đánh giá không chính thức:
Trong dạy học, người giáo viên thường xuyên tiến hành đánh giá không chính thức đối
với học sinh. Thông qua nghe học sinh giải thích, đặt câu hỏi hoặc làm bài tập,
giáo viên có thể đánh giá việc hiểu bài của học sinh cũng như hiệu quả giảng dạy
của giáo viên.
Hình thức này diễn ra liên tục trong lớp, giúp giáo viên chẩn đoán việc học của học
sinh để quyết định nội dung dạy học tiếp theo.
Khi đặt câu hỏi cho học sinh, giáo viên cần lựa chọn những câu hỏi thích hợp, tạo điều
kiện khuyến khích học sinh trả lời đầy đủ.
1.3.2. Đánh giá chính thức
Đối lập đánh giá không chính thức là đánh giá chính thức. Hình thức này có các đặc
điểm sau:
Bị giới hạn về thời gian.
Có người bên ngoài trông thi.
Được bên ngoài chấm điểm và xếp loại.
Tập trung vào bài làm cá nhân của học sinh.
Đánh giá loại này quyết định sự lên lớp của học sinh.

Cho số 120317495. Hãy xoá đi 4 chữ số và không thay đổi thứ tự các chữ số để
được.
a/ Số lớn nhất .Viết số đó.
b/ Số bé nhất .Viết số đó.
Có học sinh trả lời là: a/ 37495. Câu trả lời đúng.b/ 12014. Câu trả lời sai.
Theo bạn vấn đề học sinh gặp phải ví dụ ở trên là gì?
- Chưa nắm vững cách so sánh số.
- Chưa thấy được mối quan hệ giữa giá trị của số với các chữ số ở mỗi hàng.
- Do cẩu thả .
Trong bất cứ trường hợp nào giáo viên cần xác định chính xác sự sai lầm
của học sinh để có sự hỗ trợ học sinh một cách thích hợp.Bởi cùng một lỗi sai nhưng
nguyên nhân có thể lại khác nhau.Vì vậy giáo viên phải sử dụng đánh giá chẩn đoán
nhằm xác định nguyên nhân của vấn đề là gì?
1.4.3. Đánh giá tổng kết:
Đánh giá tổng kết là đánh giá thường diễn ra ở cuối mỗi việc, thời hạn nào đó.
Nó có thể ở cuối phần giảng một chủ đề, cuối năm, cuối một khoá học. Loại hình đánh
giá này nhằm xác định sự tiến bộ, thành công của học sinh trong hoạt động học, dùng


để so sánh giữa các học sinh cũng như so sánh giữa các trường. Đánh giá tổng kết được
thực hiện thông qua cuộc đánh giá chính thức như kiểm tra và thi.
Điều quan trọng nhất là giáo viên cần phải thường xuyên sử dụng ba loại hình
đánh giá trên trong suốt năm học. Bằng cách này giáo viên thường xuyên đánh giá
được hoạt động của học sinh cũng như chẩn đoán được vấn đề vướng mắc của học sinh
để có sự hỗ trợ thích hợp và tiếp đó giáo viên có thể xác định xem mình đã đạt được
các mục tiêu đề ra của môn Toán hay không?.
2.

Thu thập các thông tin phục vụ cho đánh giá


hơn.
+ Cuối ngày, dành thời gian tổng hợp ngắn gọn các quan sát đáng lưu ý.+ Hàng tuần,
đối chiếu các ghi chép tìm ra những cái chung và các điểm cần chú ý.
* Việc đặt câu hỏi diễn ra dưới ba hình thức:
- Ôn lại nội dung đã học, thảo luận và vấn đáp.
- Ôn lại bài do giáo viên hướng dẫn được thực hiện nhanh giúp học sinh nắm vững
kiến thức bài học.
- Thảo luận giúp học sinh phát biểu, giải quyết vấn đề.
- Việc thu thập thông tin phục vụ cho đánh giá có những thuận lợi:
+ Dễ quản lí vì học sinh đang làm bài tập, nhiệm vụ.
+ Phản hồi ngay tức thì.
+ Đây là phương pháp tốt nhất để đánh giá kĩ năng và thái độ.
- Đi đôi với những thuận lợi đó là các bất lợi:
+ Kết quả không đạt có thể chưa quen.
+ Có cá nhân không tham gia khi làm nhóm.
+ Cần thời gian dài để đưa ra quan sát đáng tin cậy.
- Các việc nên làm khi đặt câu hỏi:


+ Đặt câu hỏi rõ ràng, ngắn gọn.
+ Gắn câu hỏi với mục tiêu đề bài.
+ Cho cả lớp cùng tham gia.
+ Cho đủ thời gian để học sinh chuẩn bị câu trả lời.
+ Hỏi thăm dò khi cần thiết.
+ Sắp xếp câu hỏi theo đúng trinh tự.
+ Hỏi tất cả các học sinh không chỉ hỏi học sinh đã biết câu trả lời.
- Các việc không nên khi đặt câu hỏi:
+ Hỏi những câu mà câu trả lời là đúng hoặc sai.
+ Hỏi câu hỏi phỏng đoán.
+ Hỏi những câu chỉ yêu cầu học thuộc lòng.

- Học sinh đánh giá bạn:
Trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập, sinh hoạt tập thể, giáo viên
hướng dẫn học sinh tham gia đánh giá bạn hoặc nhóm bạn.

4.

Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát lên bảng để nhận xét bài toán
của bạn.
Lập hồ sơ học tập của học sinh

4.1.Khái niệm:
Hồ sơ học tập là 1 công cụ quan trọng trong đánh giá và giảng dạy nhằm nâng
cao chất lượng học tập cho học sinh.
4.2.Hiểu theo 1 cách khác:
Hồ sơ học tập là 1 tiến trình thu thập đánh giá các hoạt động của học sinh 1 cách
hệ thống nhằm tài liệu hóa tiến trình hướng tới đạt được các mục tiêu học tập
hay để chứng tỏ mục tiêu học tập đã đạt được.
• Hồ sơ theo kiểu tài liệu hóa giống như 1 quyển sách lưu giữ thông tin và các
bài mẫu.
Vì hồ sơ học tập chứa đựng mẫu sản phẩm của học sinhtheo quá trình thời
gian, nội dung của hồ sơ học tập tập trung vào sự tiến bộ của cá nhân học
sinh thay vì so sánh với các học sinh khác. Các mẫu này tài liệu hóa 1 cách rõ
rang, học sinh đó đã tiến bộ như thế nào?
4.3.Bản chất của hồ sơ học tập:
Là tập hợp và đánh giá lien tục trên các sản phẩm của học sinh thể hiện sự tiến
bộ hướng tới mục tiêu học tập được cụ thể hóa.


Hồ sơ là nơi chứa đựng sản phẩm của học sinh, đây là chứng cứ tuyệt vời
giúp giáo viên chẩn đoán những khó khăn trong học tập của từng học sinh.


-

Xác định mục tiêu: tùy theo cách sử dụng hồ sơ mà việc xác định hồ sơ sẽ
khác nhau. Trong tài liệu này ta nên nêu mục tiêu là hồ sơ được sử dụng
như 1 công cụ giảng dạy và đánh giá, tập trung chủ yếu vào việc tài liệu
hóa và đánh giá do giáo viên và học sinh kiểm soát, chứa đựng các bài tập
mẫu hoặc bài mang tính quá trình.
Xác định cấu trúc cụ thể: Hồ sơ phải được đặt trong 1 phong bì hoặc kẹp
tài liệu được để trên sách, nơi dễ nhìn để học sinh nhìn thấy rằng hồ sơ là
quan trọng và được sử dụng liên tục. Kẹp tài liệu đựng hồ sơ phải có
nhiều ngăn để để các tài liệu khác nhau . Cần sắp xếp các tài liệu theo chủ
điểm kết hợp với trình tự thới gian.
Xác định nguồn nội dung: Nội dung hồ sơ gồm 1 số mẫu bài, phần đánh
giá của giáo viên và học sinh. Các mẫu bài được lấy ngay từ các hoạt


động giảng dạy để có được các sản phẩm của giảng dạy trong hồ sơ học
tập của học sinh.
- Đưa nội dung vào hồ sơ: ai là người lựa chọn nôi dung của hồ sơ? Câu trả
lời cho câu hỏi trên phụ sơ và mục đích của nó. Đối với tiểu học, giáo
viên là người lựa chọn hoặc quy định của học sinnh về những gì cần đưa
vào hồ sơ học tập của mình. Chúng ta cần phải xác định số lượng bài
trong hồ sơ học tập. cần phân biết giữa hồ sơ công việc, trong đó hs lưu
giữ toàn bộ bài kiểm tra của mình, trong đó bài mẫu được lựa chọn từ hồ
sơ công việc. đối với mỗi sơ học tập cần có mục lục, trong đó mỗi đầu
mục lục có thể được mở rộng đưa them từng mục mới vào. Mục lục nên
để ở đầu hồ sơ, có mô tả sơ lược ở đầu hồ sơ, có mô tả sơ lược ngày làm
bài, ngày nộp bài, ngày đánh giá.
- Giáo viên đánh giá nôi dung:

Có thể lí giải với phụ huynh hs về sự tiến bộ của con em họ .

5.


Tìm hiểu về câu hỏi trắc nghiệm:
Đây là dạng câu hỏi yêu cầu lực chọn câu trả lời. Có 4 dạng :



Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn.



Câu hỏi ghép.



Câu hỏi lựa chọn đúng/sai.



Dạng điền vào chỗ trống.

Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn:

Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn gồm một câu đề và đưa ra nhiều sự lựa chọn
gọi là câu trả lời, trong đó chỉ có một câu trả lời đúng gọi là đáp án. Những câu trả
lời khác là bẫy.


Câu bẫy nên có đầy đủ nghĩa.

Các câu hỏi ghép:
 Các câu hỏi ghép thường bao gồm câu đề, sau đó là câu thuộc cột bên trái là câu gốc
và câu thuộc cột bên phải là câu trả lời. Học sinh phải ghép các câu trong cột gốc với
các câu trong cột trả lời theo yêu cầu đã cho.


Ví dụ 1: Nối số ở cột gốc bên trái với cách đọc số tương ứng ở cột bên phải.


315

Bốn mươi lăm.

521

Ba trăm hai mươi hai.

405

Ba trăm mười lăm.

322

Năm trăm hai mươi mốt.

450

Bốn trăm linh năm.

45 + 17= 50

28 + 17=35

29 + 36=65

19 + 21= 40

61 + 37= 98




Dạng điền vào chỗ trống:

Dạng này bao gồm câu đề với một hoặc nhiều từ để trống. Yêu cầu học sinh
hoàn thiện câu đề bằng cách điền vào chỗ trống.
Ví dụ: Viết theo mẫu:
a) số 83 gồm tám chục và ba đơn vị.
b) số 49 gồm .... chục và ....đơn vị.
c) số 97 gồm

... chục và .... đơn vị.



Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan:




Có thể tiến hành phân tích câu hỏi.



Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan:



có lợi cho học sinh có kinh nghiệm thi.



Khó chuẩn bị.



Nhấn mạnh khả năng thừa nhận kiến thức hơn khả năng hiểu biết của học sinh.



Không có cơ hội đánh giá khả năng hiểu biết của học sinh.



Có thể thúc đẩy thói quen học tập hình thức do nhấn mạnh các chi tiết.


TÀI LIỆU THAM KHẢO :
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status