ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TƯ PHÁP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011 - Pdf 41

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN KHOA

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TƯ PHÁP
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số:

62 22 03 15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. ĐOÀN MINH HUẤN
2. PGS.TS. TRẦN TRỌNG THƠ

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, chính
xác, đảm bảo khách quan, khoa học, có nguồn gốc xuất xứ rõ
ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án

Nguyễn Văn Khoa


Chương 3: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TƯ
PHÁP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2011

Những nhân tố tác động và chủ trương của Đảng về xây dựng
đội ngũ cán bộ tư pháp (2005 - 2011)
3.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
(2005 - 2011)

64

3.1.

Chương 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. Nhận xét quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ tư
pháp từ năm 2001 đến năm 2011
4.2. Một số kinh nghiệm
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

64
75
99
99
124
147
151

luôn quan tâm đến công tác cán bộ, trong đó chú trọng đến công tác xây dựng
đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh. Đội ngũ cán bộ tư pháp đã có
bước phát triển mới về chất lượng và số lượng, góp phần quan trọng vào sự
nghiệp đổi mới, song vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu
của đời sống xã hội. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị


2

Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm
2020”, nhận định: “Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ
nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí một số
cán bộ sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp” [50, tr.1]. Bên
cạnh đó, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế
phục vụ cho hoạt động xét xử của đội ngũ cán bộ tư pháp cũng còn hạn chế.Từ
đó dẫn tới tình trạng oan, sai trong điều tra, truy tố, xét xử, xâm phạm và làm
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nhiều vấn đề liên quan
đến xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài, sỡ hữu trí tuệ, thương mại quốc tế,
các loại tội phạm hình sự xuyên quốc gia còn bất cập, khả năng sử dụng ngoại
ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế phục vụ cho hoạt động xét xử đối
với đội ngũ cán bộ tư pháp còn hạn chế. Đó là chưa kể yêu cầu xây dựng đạo
đức nghề nghiệp tư pháp cũng rất đặc thù, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, đạo đức
của Đảng cầm quyền. Thực tế cho thấy, nếu như tham nhũng trong các lĩnh vực
lập pháp, hành pháp gây nhức nhối trong xã hội thì tham nhũng trong lĩnh vực tư
pháp thường bị đánh giá thiếu đạo đức hơn nhiều lần, do nó làm thay đổi cán cân
công lý, đụng chạm đến những quyền tư pháp của con người. Nghiên cứu nội
dung Đảng lãnh đạo công tác tư pháp, trong đó có lãnh đạo xây dựng đội ngũ
cán bộ tư pháp làm sâu sắc thêm vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với
công cuộc đổi mới nói chung cũng như trong lĩnh vực tư pháp, trong xây dựng
đội ngũ cán bộ tư pháp phục vụ công cuộc đổi mới.

- Phân tích, luận giải, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về xây
dựng đội ngũ cán bộ tư pháp qua hai giai đoạn: 2001-2005 và 2005- 2011.
- Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân từ quá trình Đảng lãnh đạo
xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp giai đoạn 2001-2011
- Đúc kết một số kinh nghiệm để vận dụng vào xây dựng đội ngũ cán bộ tư
pháp hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu tiến trình, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện
xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 đến
năm 2011.


4

3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quan điểm, chủ trương và sự
chỉ đạo của Đảng về các mặt công tác đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm;
chính sách đối với cán bộ tư pháp; kết quả và tác động của công tác xây dựng
đội ngũ cán bộ đối với nền tư pháp cũng như với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Nội hàm cán bộ tư pháp bao gồm nhiều đối tượng, luận án tiếp cận đối
tượng cán bộ tư pháp là thẩm phán trong cơ quan Toà án và kiểm sát viên trong
cơ quan Viện kiểm sát.
- Về thời gian: Nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp từ năm 2001 đến năm 2011. Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh sử dụng một số tư liệu liên quan
trước năm 2001 và sau năm 2011.
- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi cả nước, song, tập trung khảo
sát một số cơ quan đơn vị liên quan trực tiếp đến công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ tư pháp ở Trung ương và một số địa phương.

vấn đề luận án đặt ra cần giải quyết.
5. Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hoá chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ cán
bộ tư pháp, qua đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
- Định dạng một số đặc trưng trong tiến trình lãnh đạo của Đảng đối với
xây dựng cán bộ tư pháp, một lĩnh vực phải giải quyết mâu thuẫn giữa bảo đảm
tính lãnh đạo thống nhất của Đảng với tôn trọng nguyên tắc độc lập tương đối
của lĩnh vực tư pháp.
- Phân tích, đánh giá, rút ra được các nhận xét, kết luận về Đảng lãnh đạo
xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp; tổng kết một số kinh nghiệm có ý nghĩa cho
vận dụng vào giai đoạn mới.
6. Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội
dung của luận án gồm 4 chương 8 tiết.


6

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Do vị trí, tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, giới khoa học
trong nước và ngoài nước đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể
phân chia thành các nhóm sau.
1.1.1. Nhóm nghiên cứu chung về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
- Các nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp gắn với cải cách tư

biệt đề cập đến lương tâm của người thẩm phán trong xét xử đảm bảo quyền con
người trong cải cách tư pháp.
Tác giả Nguyễn Đăng Dung trong cuốn “Thể chế tư pháp trong nhà
nước pháp quyền” [30] đã đi sâu làm rõ vị trí, vai trò của thể chế tư pháp trong
Nhà nước pháp quyền; thể chế tư pháp ở một số quốc gia và đặc biệt làm rõ một
số vấn đề thể chế tư pháp trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến các vấn đề như: quá trình hình thành và phát
triển của hệ thống Toà án ở Việt Nam gắn liền với hoạt động của đội ngũ thẩm
phán, nghiên cứu nhiệm kỳ của thẩm phán, vấn đề thay thế chế định bầu cử thẩm
phán bằng bổ nhiệm theo Hiến pháp 1992, vấn đề tuyển chọn thẩm phán, vấn đề
trách nhiệm, nâng cao chất lượng, biện pháp ổn định công tác cho đội ngũ thẩm phán.
Tác giả Phạm Quý Tỵ với bài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà
án nhân dân” [147] đã khái quát mô hình toà án được tổ chức theo thẩm quyền
xét xử; đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử; phân định rõ ràng thẩm quyền quản
lý và thẩm quyền tố tụng trong các cơ quan toà án; đặc biệt đề cập đến đổi mới
trình tự thủ tục bổ nhiệm thẩm phán theo hướng thẩm phán được bổ nhiệm dài
hạn, không theo nhiệm kỳ; Nhà nước cần phải đảm bảo về cơ sở vật chất, điều
kiện làm việc, chế độ đãi ngộ cho thẩm phán, tạo điều kiện để thẩm phán độc lập
khi xét xử.
Tác giả Trương Hoà Bình với bài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của
tòa án nhân dân theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”
[6] đã khái quát thực trạng, những bất cập, hạn chế của đội ngũ cán bộ tư pháp


8

trong cơ quan Toà án nhân dân như số lượng, chất lượng, cơ cấu, biên chế. Đặc
biệt công trình đã đưa ra những định hướng lớn trong đổi mới hệ thống toà án
theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp
theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc đơn vị hành chính; làm rõ nguyên tắc

viên; có so sánh với công tác đào tạo của một số nước; đặt ra yêu cầu chuyên
môn hoá của các ngành như đào tạo thẩm phán cần giao cho ngành toà án đảm
nhiệm và kiểm sát viên do ngành kiểm sát thực hiện.
Tác giả Nguyễn Hữu Hậu với bài viết “Một số suy nghĩ về định hướng đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát trước yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc
tế” [75] đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện đào tạo bồi dưỡng
cán bộ kiểm sát viên như sự chồng chéo giữa Học viện tư pháp với Trường Đào
tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát (nay là Đại học Kiểm sát); tình hình nhận thức
chưa đúng mức về công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát là “đào tạo
nghề”-một loại hình đào tạo đặc thù ngành kiểm sát; chưa có Hội đồng thẩm
định chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát chính thống
theo chuẩn quốc gia. Từ đó, tác giả đề xuất một số định hướng về công tác đào
tạo, bồi dưỡng; về xây dựng chương trình, hoàn chỉnh giáo trình cho từng loại
hình; về đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng; về củng cố phát triển đội ngũ giảng
dạy; về cải tạo, nâng cấp cơ sở, vật chất phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của tác giả Phan Chí Hiếu “Cơ sở lý
luận và thực tiễn xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp
đến năm 2020” [17] đã nêu lên cơ sở lý luận xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi
dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020. Trên cơ sở đó, đề tài khái quát thực
trạng đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ có chức danh tư pháp, đặc biệt nhấn mạnh đến đội ngũ thẩm phán và kiểm sát
viên như đội ngũ thẩm phán còn thiếu về số lượng; cơ cấu đội ngũ thẩm phán
chưa đảm bảo; chất lượng đội ngũ thẩm phán còn hạn chế về trình độ chuyên
môn, trình độ chính trị, trình độ ngoại ngữ tin học; đạo đức thẩm phán. Đề tài
khái quát thực trạng chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát các
hoạt động tư pháp; công tác đào tạo kiểm sát viên cũng có những bất cập như thay
đổi về tên gọi, chức năng nhiệm vụ của cơ sở đào tạo; còn chồng chéo trong hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng. Từ đó, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng, trình



đã làm rõ cơ chế thi tuyển tư pháp quốc gia, lợi thế cũng như vai trò của thi


11

tuyển tư pháp quốc gia trong mối quan hệ với các yêu cầu mà Đảng và Nhà nước
ta đặt ra trong bối cảnh cải cách tư pháp và đổi mới giáo dục đại học hiện nay;
tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài về thi tuyển đào tạo các chức danh tư pháp,
trên cơ sở tổng kết, đánh giá khả năng áp dụng vào mô hình tuyển sinh đào tạo
cán bộ tư pháp ở Việt Nam; tổng kết một cách toàn diện về thực trạng công tác
tuyển sinh để đào tạo các chức danh tư pháp tại Học viện Tư pháp từ trước đến
nay. Tác giả làm rõ cơ sở thực tiễn và sự cần thiết phải xây dựng kỳ thi tuyển
tư pháp quốc gia; xây dựng mô hình thi tuyển tư pháp quốc gia, trong đó xác
định rõ đối tượng dự thi, nội dung thi tuyển, hình thức thi tuyển, Hội đồng thi
tuyển tư pháp quốc gia; làm rõ các điều kiện đảm bảo cho việc thực thi mô hình
thi tuyển này trên thực tế. Đề tài sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn như
một công cụ nghiên cứu kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh kinh nghiệm.
- Các nghiên cứu về giáo dục nâng cao phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán
bộ tư pháp.
Tác giả Trương Thị Hoà với bài viết “Cải cách tư pháp và việc nâng cao
đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn cho cán bộ cơ quan tư pháp” [78] đã
nêu lên thực trạng của hoạt động tư pháp như pháp luật không rõ ràng, minh
bạch tạo điều kiện cho tham nhũng; thực tiễn xét xử qua quá nhiều cấp, chưa
tuân thủ đúng nguyên tắc hai cấp xét xử. Tác giả khẳng định: Nâng cao đạo đức
nghề nghiệp, trình độ chuyên môn của cán bộ tư pháp là bộ phận quan trọng
trong nội dung cải cách tư pháp. Các biện pháp để nâng cao như cải tiến chương
trình đào tạo gắn với giáo dục đạo đức nghề nghiệp; tăng cường giám sát, thanh
tra, kiểm tra; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ cán bộ tư pháp.
Tác giả Hoàng Văn Linh với bài viết “Một số suy nghĩ về đạo đức nghề

tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp, đào tạo.... Nhóm nghiên cứu này có thể kế
thừa một số nhận định, kết luận và rất có ý nghĩa khi xem xét thực tiễn xây dựng
đội ngũ cán bộ tư pháp trên các chiều cạnh khác nhau từ tuyển chọn, đào tạo, bồi
dưỡng đến sử dụng công chức tư pháp.


13

1.1.2. Nhóm nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác tư pháp.
- Nhóm nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa cơ sở phương
pháp luận trong hoạch định chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ
tư pháp.
Vũ Đình Hòe, một người tốt nghiệp đại học luật ở Pháp, tham gia Đảng
Dân chủ Việt Nam, là Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, trong cuốn hồi ký “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh”[79] đã
trình bày suy nghĩ của ông đối về tư tưởng hiến chính và pháp quyền của Hồ Chí
Minh. Ông cho rằng, Hồ Chí Minh có một tư duy pháp lý nhạy bén tuyệt vời,
gần như thiên bẩm, hiểu thấu và thi hành một cách sáng tạo lý luận và thực tiễn
chế độ Nhà nước-pháp quyền của thời đại và thế giới văn minh. Tư tưởng của
Người đã dẫn dắt Vũ Đình Hòe trên cương vị Bộ trưởng Tư pháp cũng như cải
hóa một thế hệ “cán bộ pháp lý khả thủ, dần dần biết suy nghĩ và hành động
đúng đắn”[81, tr.6], đặc biệt là tư tưởng về một nền pháp quyền nhân nghĩa, một
nền tư pháp “phụng công thủ pháp”, “nhân ái, công bình, độ lượng có sức thuyết
phục, cảm hóa cao”[81, tr.212].
Tác giả Bùi Ngọc Sơn với bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức toà
án và ý nghĩa hiện nay”[121] đã trình bày nguyên tắc, tiêu chuẩn, thẩm quyền bổ
nhiệm thẩm phán theo tư tưởng Hồ Chí Minh như thẩm phán do Chính phủ bổ
nhiệm; thẩm phán phải có cử nhân luật, phải trải qua một kỳ thi để đảm bảo trình
độ nghiệp của thẩm phán và khi đã được bổ nhiệm phải tuyệt đối trung thành với

dụng mô hình tư pháp Xô-viết vào đất nước ta với nhiều thiết kế chính trị xa
dần Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959-những bản hiến pháp mang đậm dấu
ấn tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nhóm nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp
Tác giả Nguyễn Văn Thảo với cuốn “Xây dựng Nhà nước pháp quyền
dưới sự lãnh đạo của Đảng”[150] ngoài việc trình bày về xây dựng nhà nước
pháp quyền, đã nhấn mạnh cần phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Toà án theo hướng tạo điều kiện cho nền tư pháp hoạt động liên tục và xét
xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, bảo đảm và thực hiện công bằng xã hội, thể
hiện nền công lý xã hội chủ nghĩa và Đảng thông qua các cơ chế của Nhà nước


15

để cử ra đội ngũ thẩm phán được đào tạo có hệ thống, thành thạo nghề nghiệp,
làm việc liên tục và ổn định, đủ tầm vóc đại diện cho quyền lực nhà nước xét xử
tội phạm và giải quyết các tranh chấp trong xã hội.
Tác giả Trần Đại Hưng với bài viết “Hoàn thiện nội dung và phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp” [91] đã đưa ra những cơ sở
khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp; khái quát những
thành tựu, hạn chế yếu kém, đề xuất một số vấn đề về hoàn thiện nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp nói chung và đội ngũ
cán bộ tư pháp nói riêng.
Tác giả Nguyễn Văn Quyền, trong bài viết “Đảng lãnh đạo các cơ quan
tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” [119] đã khái quát sự lãnh đạo của Đảng
đối với các cơ quan tư pháp thông qua lãnh đạo về chính trị- tư tưởng, định
hướng công tác; nhấn mạnh đến lãnh đạo tổ chức cán bộ trong các cơ quan tư
pháp; đúc kết một số bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng đối với các
cơ quan tư pháp nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói riêng.

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”[126] đề cập nhiều vấn đề mối quan hệ giữa
lãnh đạo Đảng với đổi mới công tác tư pháp. Trên cơ sở phân tích và hệ thống
hoá những quan điểm về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước nói chung và nội dung, phương thức lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư
đối với công tác tư pháp và cải cách tư pháp được thể hiện trong các văn kiện
của Đảng; tổng hợp, đánh giá thực tiễn quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng nói chung và của Bộ Chính trị, Ban Bí thư nói riêng đối với công tác
tư pháp và cải cách tư pháp, trọng tâm là từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VIII (1996) đến nay, đề tài xác định rõ: những thành tựu, những mặt hạn chế,
vướng mắc và bài học kinh nghiệm; Phân tích những yêu cầu khách quan của
việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung, Bộ Chính trị, Ban Bí
thư nói riêng đối với công tác tư pháp và cải cách tư pháp. Mục tiêu, quan điểm
và phương hướng, giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Bộ Chính
trị đối với công tác tư pháp và cải cách tư pháp được đề xuất ở đây đã bám sát
thực tế. Ngoài ra, tác giả còn có kiến nghị cụ thể về việc hoàn thiện phương thức


17

lãnh đạo và tăng cường sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với công
tác tư pháp và cải cách tư pháp.
Tác giả người Thái Lan (Quốc tịch Mỹ) Thaveeporn Vassavakul có công
trình “Sectoral Politics and Strategies for State and Party Building from the VII
to the VIII Congresses of the Vietnamese Communist Party (1991-1996), in “Doi
Moi: Ten Years after the 1986 Party Congress” (“Lĩnh vực chính trị và chiến
lược xây dựng đảng và Nhà nước từ Đại hội VII đến Đại hội VIII của Đảng
Cộng sản Việt Nam (1991-1996), trong: “Đổi mới: Mười năm sau Đại hội
VI”)”[146]. Công trình đã trình bày tiến trình đổi mới của Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi đầu từ Đại hội VI với những quyết định trọng đại bắt đầu từ đổi mới
tư duy, rồi kế đến đổi mới các lĩnh vực khác. Các đợt tiến hành xây dựng, chỉnh

cải cách tư pháp. Tác giả Phan Hữu Thư với bài viết: “Quan điểm của Đảng và
Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh và đổi mới
công tác đào tạo”[160] đã khái quát quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ
cán bộ tư pháp thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 7 khoá VIII, Nghị quyết
08 của Bộ Chính trị, đặc biệt Nghị quyết 49 về Chiến lược cải cách tư pháp như
quan điểm, chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp như đổi mới nội dung,
phương pháp đào tạo; đổi mới cơ chế tuyển dụng; đào tạo phục vụ hội nhập quốc
tế; xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn về đào tạo cán bộ tư pháp.
Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài “Nghiên cứu một số quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tuyển chọn cán bộ tư pháp” [89; 90] có nêu lên
các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta như: việc tuyển chọn cán bộ tư pháp là
nhiệm vụ gắn liền với yêu cầu kiện toàn và đối mới hệ thống các cơ quan tư
pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đảm bảo về chất lượng đáp ứng yêu cầu
của công cuộc cải cách tư pháp quốc gia và xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.Tuyển chọn cán bộ tư pháp phải dựa trên các tiêu chuẩn
nghiệp vụ trong đó có các tiêu chí cơ bản: có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm
chất đạo đức trong sáng, có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, đáp ứng yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuyển chọn cán bộ tư
pháp phải bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch khách quan, công bằng, đồng
thời nghiên cứu từng bước mở rộng nguồn cán bộ tư pháp thực hiện luân chuyển,


19

bố trí, sử dụng cán bộ tư pháp một cách hợp lý. Tuyển chọn cán bộ tư pháp cần
nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế và vận dụng phù hợp trong điều kiện cụ
thể của nước ta.
Tác giả người Úc Pip Nicholson trong bài “Vietnamese Jurisprudence:
Informing Court Reform” (Pháp luật Việt Nam: Tác động tới cải cách toà án)
[105] đưa ra một số nhận xét đáng lưu ý. Tác giả đã khái quát hoá quá trình ra

sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, các cơ quan tư pháp đặt dưới sự giám sát của
cơ quan dân cử và nhân dân; kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc những thành
tựu đạt được, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với đất
nước; tiến hành khẩn trương, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với bước đi
vững chắc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp.
Công trình của Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Lịch sử Viện kiểm sát
nhân dân Việt Nam” (Sơ thảo)[177] đã nêu lên quá trình quán triệt, vận dụng,
thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ kiểm sát viên
như công tác đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm; quản lý; chính sách.
Công trình khái quát những thành tựu và bài học kinh nghiệm trong quá trình ra
đời, phát triển và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân qua các thời kỳ cách
mạng, trong đó nhấn mạnh đến các bài học như quán triệt và thực hiện nghiêm
túc nguyên tắc tổ chức và hoạt động tập trung thống nhất gắn với nguyên tắc
Đảng lãnh đạo; bài học về chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ cơ bản
tạo nên sức mạnh của Viện kiểm sát nhân dân…
- Nhóm nghiên cứu về kết quả bước đầu thực hiện chủ trương của Đảng
trong xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp.
Tác giả Khuất Văn Nga với bài viết “Những chủ trương của Đảng và Nhà
nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
trong thời kỳ đổi mới”[108] đã khái quát bước đầu việc tuyển chọn và bổ nhiệm
kiểm sát viên giai đoạn 1986-2005, theo tiêu chuẩn mới cao hơn và theo quy
trình tuyển chọn mới có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức.
Nguyễn Đình Lục với bài viết “Sau ba năm thực hiện chiến lược cải cách
tư pháp” [98] có nhiều nỗ lực phân tích, đánh giá tình hình bước đầu thực hiện
xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp sau ba năm kể từ khi có Nghị quyết 49. Với
nhận định: Đội ngũ cán bộ tư pháp đã có sự trưởng thành nhanh chóng cả về số


21



22

nguyên nhân hạn chế và đưa ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong xây dựng đội
ngũ thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trên cả về mặt nhận thức và về mặt tổ
chức thực tiễn. Tập trung là các kinh nghiệm như: Nhận thức đúng đắn tầm quan
trọng có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng đội ngũ thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao; khâu đột phá là đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán; có lộ trình
và bước đi thích hợp trong xây dựng đội ngũ thẩm phán; đánh giá, sử dụng
đúng đắn đội ngũ thẩm phán; quan tâm xây dựng, thực hiện tốt chế độ, chính
sách đãi ngộ đối với đội ngũ thẩm phán.
Công trình của tác giả Pip Nicholson (Quốc tịch Úc) “Borrowing court
systems: the experience of Socialist Vietnam” [106] đã khái quát lịch sử hệ thống
toà án Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2005. Những điểm tương đồng và khác
biệt giữa các hệ thống tòa án của Liên Xô và Việt Nam, nguyên nhân của sự
tương đồng và sự khác biệt đó. Từ đó Việt Nam đã áp dụng kinh nghiệm của
Liên Xô trong xây dựng hệ thống toà án. Tác giả cho rằng lịch sử của hệ thống
tòa án Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2005 ảnh hưởng rõ nét bởi mô hình của
Liên Xô và mang một bản sắc riêng biệt. Do vậy, đội ngũ cán bộ tư pháp cũng
được xây dựng theo mô hình này.
Nhóm nghiên cứu này bước đầu đã khái quát được những quan điểm, chủ
trương của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong quá trình cải cách tư
pháp như về công tác đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn-bổ nhiệm; những quan
điểm chỉ đạo của Đảng trong thực hiện; những kết quả bước đầu khi thực hiện
chủ trương của Đảng. Tuy nhiên hạn chế của các công trình trong nhóm này là
nghiên cứu một cách rời rạc, chưa có hệ thống các vấn đề về Đảng lãnh đạo xây
dựng đội cán bộ tư pháp, chưa chỉ ra khoảng cách giữa nghị quyết và vận động
của thực tiễn, đặc biệt là chưa làm rõ “đầu vào” của các chủ trương cải cách tư
pháp, những nan giải của quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện. Nhóm nghiên cứu
này có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu một cách có hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status