MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 3
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 4
6. Bố cục tiểu luận .............................................................................................. 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ HIẾU ÂM NHẠC VÀ KHÁI QUÁT
VỀ TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI ............................................... 6
1.1. Một số vấn đề lý luận.............................................................................. 6
1.1.1. Thị hiếu .............................................................................................. 6
1.1.2. Thị hiếu âm nhạc ................................................................................ 6
1.1.3. Nhu cầu thưởng thức âm nhạc của con người hiện nay ...................... 7
1.1.4. Ảnh hưởng của âm nhạc đối với thị hiếu con người ............................ 8
1.2. Khái quát về trƣờng Đại học Văn hóa Hà Nội .................................... 11
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển..................................................... 11
1.2.2. Đôi nét về các hoạt động của sinh viên nhà trường ........................... 12
Chƣơng 2: NHỮNG THAY ĐỔI TRONG THỊ HIẾU ÂM NHẠC CỦA
SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI HIỆN NAY .......... 15
2.1. Đôi nét về một số trào lƣu âm nhạc cũ ................................................ 15
2.2. Những trào lƣu âm nhạc mới ............................................................... 20
2.2.1. Nhạc thị trường................................................................................. 20
2.2.2. Nhạc điện tử ..................................................................................... 20
2.3. Khảo sát về thể loại âm nhạc đối với sinh viên trƣờng Đại học Văn
hóa Hà Nội ................................................................................................... 22
2.4. Sở thích âm nhạc của sinh viên Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay ... 26
2.4.1. Theo khu vực .................................................................................... 26
2.4.2. Theo giới tính ................................................................................... 26
1
lớn lao của mình”.
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội được thành lập với bề dày truyền thống
lâu đời. Hàng năm, số lượng sinh viên theo học các ngành đào tạo của nhà
trường có số lượng tương đối lớn và không ngừng tăng cao. Hiện nay, các bạn
sinh viên được tiếp xúc với nhiều trào lưu văn hóa mới, nhiều xu hướng văn hóa
từ bên ngoài du nhập và được các bạn sinh viên tiếp cận một cách nhanh chóng
thông qua những phương tiện khác nhau như báo chí, truyền hình, internet…
trong đó có âm nhạc. Điều này phần nào đã dẫn tới sự thay đổi trong thị hiếu âm
nhạc của giới trẻ nói chung và các bạn sinh viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội
nói riêng. Xuất phát từ lý do trên nên em quyết định chọn đề tài : “Sự thay đổi
thị hiếu âm nhạc của sinh viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay”.
Qua đề tài có thể giúp em biết được thị hiếu âm nhạc của giới trẻ hiện nay đang
diễn ra như thế nào đặc biệt là các bạn sinh viên nơi em đang theo học để từ đó
đề xuất một phương pháp quản lí, định hướng âm nhạc một cách hiệu quả nhất,
khả quan nhất.
3
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích quan trọng và cốt lõi nhất của đề tài này là tìm hiểu rõ hơn về
thực trạng thị hiếu âm nhạc của sinh viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện
nay. Từ đó để mọi người đặc biệt là những nhà quản lý văn hóa nghệ thuật, các
thầy cô giáo có cái nhìn tổng quát hơn, khách quan hơn, chính xác hơn về tình
hình nghe nhạc, thị hiếu âm nhạc của sinh viên hiện nay. Qua đó không ngừng
nghiên cứu, cập nhật thông tin để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, tích cực đổi
mới phương thức quản lý, giảng dạy, luôn sáng tạo tìm tòi để nâng cao thị hiếu
âm nhạc cho sinh viên nhà trường.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ HIẾU ÂM NHẠC VÀ KHÁI QUÁT
VỀ TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
1.1. Một số vấn đề lý luận
1.1.1. Thị hiếu
Thị hiếu là xu thế, xu hướng yêu thích một hiện tượng sự vật, sự việc nào
đó có ảnh hưởng tới đời sống của con người, qua đó con người có những đánh
giá, suy ngẫm, tưởng tưởng theo hướng tích cực hay tiêu cực về hiện tượng sự
vật, sự việc đó.
1.1.2. Thị hiếu âm nhạc
Thị hiếu âm nhạc là xu hướng yêu thích một thể loại, một hình thức, một
phong cách âm nhạc hoặc biểu diễn nào đó đối với người thưởng thức âm nhạc.
Vì lẽ âm nhạc là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh để phản ánh cuộc sống hiện
thực và thế giới nội tâm cho nên thưởng thức là cả một quá trình cảm thụ âm
nhạc tiếp nhận. Sự kích thích của âm nhạc thông qua tai nghe, mắt thấy không
phải thụ động một chiều, không phải chỉ bó hẹp trong thời gian nghe nhìn, mà
ngay sau đó người thưởng thức còn tiếp tục dung động, suy ngẫm, tưởng tượng
khi hòa mình trong thế giới âm thanh của nhạc phẩm. Thị hiếu âm nhạc hình
thành từ trong bối cảnh xã hội, mức sống vật chất, mặt bằng trí tuệ, đặc điểm
dân tộc địa phương.
Thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc của công chúng nước ta từ xưa cho đến nay, chủ
yếu là ham thích, cảm thụ nhạc hát. Người ta gọi tên một số dòng nhạc hát ở
nước ta là dòng nhạc dân gian, dòng nhạc bác học. Người ta cũng còn gọi tên
một số những bài hát với tính chất đặc trưng của giai điệu và lời ca thành các
loại ca khúc: Nhạc vàng, nhạc xanh, nhạc đỏ.
Thị hiếu âm nhạc trong quần chúng hiện nay rất đa dạng và phức tạp. Ngay
nhạc dân gian,âm nhạc hiện dân gian,âm nhạc hiện đại,âm nhạc bình dân,âm
nhạc dùng cho người sống,âm nhạc cho người chết…Nói tóm lại âm nhạc có thể
đến với mọi đối tượng, mục dích khác nhau.
Những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mọi lĩnh vực đời
sống xã hội âm nhạc đã góp vai trò không nhỏ trong việc nâng cao đời sống tinh
7
thần của nhân dân làm cho cuộc sống không ngừng cải thiện. Bên cạnh những
tích cực vốn có của dòng âm nhạc chính thống, thì trong đời sống hiện nay, một
số hoạt động âm nhạc còn bộc lộ tính yếu kém xa rời bản sắc thuần phong mỹ
tục, làm cho cái đẹp trong âm nhạc, méo mó, biến dạng. Cũng có không ít người
cho rằng, đó là tính tất yếu trong những thời điểm lịch sử nhất định, để âm nhạc
nghệ thuật vượt lên, tìm tòi đi đến một chuẩn mực mới, hay do cơ chế kinh tế thị
trường tác động vào các hoạt động âm nhạc nghệ thuật đã làm cho thị hiếu của
công chúng bị lẫn lộn, chao đảo.
Nhu cầu thưởng thức của con người hiện nay cungc có sự thay đổi cùng với
xã hội. Người nội thành thì sống luôn chuyển động, nên họ được tiếp thu ngay
với nhiều thể loại âm nhạc mới nên thị hiếu thưởng thức của họ có sự thay đổi
xáo trộn. Người ở các địa phương ngoại thành thì họ hầu như vẫn giữ được nét
mộc mạc bình yên trong nhạc dân ca, âm nhạc mang tính giai điệu dễ đi vò long
người. Hiện nay nhu cầu thưởng thức âm nhạc của thanh niên chúng ta từ vùng
thành thị đến ngoại thành hầu như là giống nhau. Họ rất chuông âm nhạc thị
trường, không đẻ ý đếm âm nhạc dân ca cổ truyền, vài năm trở lại đây có loại
âm nhạc DJ, nhạc nhảy làm cho giới trẻ của chúng ta đa phần thích loại âm nhạc
này. Sự phát triển của âm nhạc thị trường làm cho các bạn thanh niên xáo trộn
về thị hiếu âm nhạc, họ chủ yếu là nghe ca từ gần với cuộc sống của họ, các bài
hát thị trường thì thường hay noisveef tình yêu rất dễ đi vào lòng cácbạn trẻ. Từ
đó nhu cầu nghe nhạc của các bạn trẻ luôn thay đổi chuyển động mỗi bài hát chỉ
nghe vài lần là chán. Nhu cầu thưởng thức âm nhạc của những người trung tuổi
sức tác động của âm nhạc đối với con người.
Trước hết, âm nhạc tác động lên phươn diện sinh lý của con người. Sự tác
động này hầu như ai cũng nhận thấy được. Bằng công trình nghiên cứu của
mình, hau nhà sinh học người Nga, I.M.Đô ghen và I.R.Tackhanốp đã chứng
mình rằng, âm nhạc có ảnh hưởng đến hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và đến những
khía cạnh khác trong cơ thể con người. Âm nhạc có thể khiến cho người nghe
cảm thấy dễ chịu, cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái. Và âm nhạc cũng có thể làm
cho người nghe cảm thấy mệ mỏi, rã rời hay căng thẳng, khó chịu. Chính vì thế
mà âm nhạc có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động. Ngày trước, nhờ
9
những câu hò ý vị, vui tươi trong khi gặt hái, trong khi giã gạo, trong khi cấy
cày, tát nước,… người lao động dã quên đi sự mệt nhọc, vất vả và hăng say hơn
trong công việc. Ngày nay, trong các nhà máy, xí nghiệp, nếu biết sử dụng âm
nhạc một cách khoa học thì năng suất lao động sẽ được nâng cao.
Không chỉ vậy, âm nhạc còn tác động đến cảm xúc và tư tưởng của con
người. Âm nhạc, nếu được cảm thụ một cách sâu sắc và thông minh thì sẽ tác
động đến thế giới quan, đến toàn bộ ý thức của con người. Tác động trực tiếp,
mạnh mẽ nahats của âm nhạc đối với con người là trong lĩnh vực tình cảm và
tâm trạng của con người. Không một loại hình nghệ thuật nào khác ngoài âm
nhạc lại có thể tác động với một uy lực như thế vào thế giới cảm xúc của con
người.
Âm nhạc có được sức ảnh hưởng lớn bởi vì âm nhạc là một loại hình nghệ
thuật có tính biểu hiện. Ngôn ngữ của nó giống với ngữ điệu của tiếng nói và
giống với cử chỉ, nghĩa là giống với phương tiện biểu hiện của cảm xúc. Chính
sự khái quát hóa và tăng lên gấp nhiều lần những khả năng biểu hiện của ngữ
điệu và tiết tấu, âm nhạc đã có được một sức mạnh tác động vào cảm xúc thật
lớn lao. Hơn nữa, trong tác phẩm âm nhạc còn miêu tả những điều mà chúng ta
thích thú và quan tâm trong thực tiễn. Âm nhạc có sự tái hiện những âm thanh
nhạc có nội dung lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi của sinh viên để dạy cho sinh
viên, để cho sinh viên nghe. Trong gia đình, các bậc phụ huynh nên khuyên nhủ
và định hướng cho con em mình lựa chọn âm nhạc để nghe, hướng dẫn cho sinh
viên biết cách cảm thụ âm nhạc. Cần tìm hiểu sở thích âm nhạc của sinh viên
trong giáo dục. Qua sở thích về âm nhạc của sinh viên, chúng ta có thể biết được
phần nào tính khú và phẩm chất đạo đức của sinh viên.
1.2. Khái quát về trƣờng Đại học Văn hóa Hà Nội
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội được thành lập ngày 26/3/1959, theo
Quyết định số 134/VH-QĐ của Bộ Văn hoá (Nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch). Trong quá trình phát triển của mình, trường đã trải qua những giai
đoạn lịch sử như sau:
Giai đoạn 1: Từ 1959 đến 1960
11
Trường mang tên “Trường Cán bộ văn hoá”. Nhiệm vụ của trường khi đó
là bồi dưỡng kiến thức, chính trị và nghiệp vụ cho cán bộ văn hoá.
Giai đoạn 2: Từ tháng 8/1960 đến 1977
Trường được đổi tên thành trường “Lý luận nghiệp vụ văn hoá” theo quyết
định số 127/VHQĐ của Bộ Văn hoá.
Giai đoạn 3: Từ 5/9/1977 đến 1982
Trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghiệp vụ văn hoá theo
quyết định số 246/CP của Thủ tướng Chính phủ với chức năng đào tạo cao đẳng
các ngành nghiệp vụ văn hoá.
Giai đoạn 4: Từ 4/9/1982 đến nay
Trường một lần nữa được nâng cấp thành Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
theo quyết định số 228/TC-QĐ của Thủ tướng Chính phủ. Chức năng của
trường là đào tạo các cán bộ thư viện, cán bộ bảo tồn bảo tàng, phát hành sách,
văn hoá du lịch và những người tổ chức hoạt động văn hoá.
vượt qua những con sóng dữ của thời đại. Do đó sinh viên phải không ngừng
nâng cao năng lực chính trị và không ngừng rèn luyện để có được tư tưởng
chính trị vững vàng.
Tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội, ngày càng có nhiều sinh viên được kết
nạp vào Đảng đã thổi vào Đảng một luông sinh khí mới.Từ đó nâng cao ý thức,
trách nhiệm, niềm tin vào Đảng và vào vận mệnh của đất nước. Với vai trò là
một Đảng viên trẻ với sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm sẽ có nhiều
đóng góp để đưa đất nước đi lên. Sinh viên còn là lực lượng đại diện cho sự tiến
bộ của đất nước. Sinh viên với sức trẻ và sự say mê tìm tòi không những tiếp thu
các kiến thức trên giảng đường mà họ còn nhnanh chóng cập nhật không ngừng
những tiến bộ khoa học kĩ thuật của thế giới. Họ còn đem tất cả những gì học
được vận dụng một cách linh hoạt vào cuộc sống và công việc làm cho đất nước
ngày càng phát triển.Với kiến thức sâu rộng cùng với sự nhanh nhạy, sáng tạo
sinh viên sẽ là nguồn lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của
cả nước trên các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống như văn hóa, kinh tế,chính
trị, an ninh – quốc phòng…
13
Trên lĩnh vực kinh tế,sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc xây
dựng, điều hành những dự án. Khi đó chúng ta vừa đảm bảo cả về an ninh kinh
tế vừa đảm bảo an ninh quốc phòng , giảm bớt sự lệ thuộc và ảnh hưởng của
nước ngoài.
Trên lĩnh vực văn hóa, với việc tham gia vào các chương trình giao lưu văn
hóa, du học sinh viên sẽ là những đại sứ văn hóa đem những tinh hoa văn hóa
dân tộc đến với bạn bè quốc tế. Họ sẽ giới thiệu cho bạn bè quốc tế biết về con
người, đất nước, phong tục, tập quán, các di sản văn hóa cũng như các danh lam
thắng cảnh của đất nước.Từ đó,thu hút về cho đất nước một lượng lớn du khách
du lịch và làm cho nền du lịch nước nhà phát triển hơn. Bên cạnh đó, sinh viên
rock and roll, classic rock và Latin rock. Giới trẻ trong đó có sinh viên vẫn thờ ơ
với các thể loại rock “nặng” như hard rock, punk rock,…. do không mang tâm
trạng như giới trẻ phương Tây.
Thể loại pop-rock là một dạng thức kết hợp giữa hai thể loại nói trên, và
được giới trẻ ưa chuộng hơn. Số lượng đông đảo những bạn trẻ tham dự ngày kỷ
niệm cái chết do bị ám sát của nhạc sĩ John Lennon (cựu thành viên của The
Beatles) là một bằng chứng cụ thể cho thị hiếu này. Đặc biệt, giới trẻ nội thành
vẫn yêu thích những ban pop-rock đã từng vang bóng một thời như The Beatles,
Bee Gees,…
Nhạc teen pop (nhạc pop dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên, teen - age =
lứa tuổi từ 13 đến 19 tuổi). Đây là loại ca khúc được biểu diễn bởi các nhóm ca
sĩ trẻ (khác với “ban nhạc trẻ” vì họ không chơi nhạc cụ nào) ở lứa tuổi vị thành
niên hoặc thành công từ lúc còn trong lứa tuổi đó.
Các nhóm teen pop này thường gồm 5 đến 7 thành viên, được đào tạo theo
kiểu công nghiệp bởi những ông bầu thương mại đứng phía sau. Các ca sĩ teen
pop chuyên hát những ca khúc có giai điệu mùi mẫn, nét nhạc hao hao giống
nhau, có khi giống đến gần cả một đoạn phiên khúc, phối hợp nhiều với các
động tác múa. Ở các nhóm này, ngoại hình được xem là yếu tố quan trọng hàng
15
đầu chứ không phải âm nhạc, vì hầu hết các ca sĩ này không biết sáng tác và
thậm chí không chơi được nhạc cụ. Đó là những thanh niên đẹp trai, mang chất
nữ tính, được gọi là các “boysbands” (ban nhạc con trai). Thuộc dòng nhạc teen
pop này còn có một số nữ ca sĩ hoạt động độc lập, rất được lứa tuổi học trò nội
thành ưa chuộng như Britney Spears, Christina Aguilera,… Họ chính thật là
những “người mẫu thời trang” trên sân khấu ca nhạc hơn là ca sĩ thực thụ.
Về mặt công nghiệp biểu diễn, các boysbands và girlsbands đã đạt những
thành công đáng nể, doanh thu rất cao do sự hợp tác chặt chẽ giữa các ông bầu,
hãng băng đĩa và công ty quảng cáo, truyền thanh, truyền hình. Vì vậy, cũng dễ
phải chú trọng và tuân thủ những quy luật về ngôn ngữ của thứ tiếng đó, như:
cách phát âm, dấu nhấn giọng,v.v… Đến khi, ca khúc được viết lời bằng một
ngôn ngữ khác, người viết lời mới vừa phải bám sát nội dung lời ca gốc, vừa
phải tuân theo những quy luật của ngôn ngữ mà mình muốn dịch. Do đó, khi
nghe một bài hát ở các thứ tiếng khác nhau, người ta vẫn có thể hiểu và đồng
cảm được với những nội dung, tình cảm mà nhạc sĩ sáng tác và người viết lời
gởi gắm ở tác phẩm.
Số ca khúc ngoại quốc có lời Việt được dịch giữ nguyên nội dung nguyên
bản không nhiều lắm. Đây là một điều đáng tiếc. Do nhiều giới hạn nhất định về
ngôn ngữ, các nhạc sĩ Việt Nam dễ dàng bỏ đi nội dung chính thức của một ca
khúc ngoại quốc để thay bằng phần lời Việt nhiều khi hoàn toàn khác với
nguyên bản. Đôi khi, ca sĩ trình bày một ca khúc bằng cả hai thứ tiếng nhưng có
lời ngoại quốc hoàn toàn khác, đôi khi mâu thuẫn với lời Việt.
Ca khúc ngoại quốc có lời Việt được viết phỏng theo nhạc: Đa số các ca
khúc ngoại quốc đều được các nhạc sĩ Việt Nam mặc cho một chiếc áo mới
(nhưng chưa hẳn đẹp, thích hợp) bằng tiếng Việt. Phần lời Việt này được viết
hoàn toàn theo cảm hứng chủ quan của nhạc sĩ khiến cho các thính giả trẻ dễ
hiểu sai lạc nội dung, không nắm rõ nguồn gốc, xuất xứ của ca khúc ngoại quốc
đó. Trong số các ca khúc ngoại quốc có lời Việt thuộc loại này, những ca khúc
“nhạc Hoa, Hàn - lời Việt” chiếm gần như đa số. Khi xem nội dung lời Việt của
một tập “nhạc Hoa, Hàn”, chúng ta thấy gần như chỉ một nội dung: “tình yêu xa
17
cách, nỗi buồn chia ly, nhớ thương vì tình yêu chia cắt, đau khổ vì kẻ nơi này,
người chốn nọ, vì tình yêu phụ bạc,….”.
Ca khúc là một tác phẩm nghệ thuật tổng hợp giữa âm nhạc và văn chương.
Như vậy, người viết lời Việt hay dịch lời Việt cho ca khúc cần phải có lương
tâm nghề nghiệp hơn là chạy theo thị hiếu nhất thời, rẻ tiền của một số khán
trong tâm hồn thính giả. Họ dễ dàng quên ngay. Ngược lại, có những ca khúc
mang nội dung không những vô bổ mà còn tai hại, gây ảnh hưởng xấu đến cho
lớp thính giả trẻ. Chúng ta dễ dàng tìm thấy trong nhiều ca khúc mới những kiểu
nói về tình yêu được bày tỏ thẳng thắn đến dễ dãi, mau thay đổi, như ngọn lửa
rơm vừa bùng cháy đã sớm lụi tàn.
Các thể loại âm nhạc khác: Không phải chỉ có ca khúc là thị hiếu duy nhất
của giới trẻ hiện nay. Những bạn trẻ, nhất là giới sinh viên học sinh còn dành
nhiều cảm tình cho nhạc hòa tấu (chúng tôi không gọi là “nhạc nhẹ”). Họ say mê
đi tìm những CD của Yanni, Paul Mauriat, Richard Clayderman, Kitaro và cả
những album với chủ đề như; Romantic guitar, Romantic saxophone,v.v… Cả
đến những CD hòa tấu của các nghệ sĩ biểu diễn nhạc cụ và nhạc sĩ sáng tác Việt
Nam trong nước như tiếng kèn saxophone của Trần Mạnh Tuấn với những ca
khúc Trịnh Công Sơn hay tiếng guitar thùng của Vô Thường (người Việt ở hải
ngoại) với những ca khúc Việt Nam trước 1975, album “Tự Tình Khúc” gồm
những ca khúc của Ns. Trịnh Công Sơn được dàn nhạc Jack Freeman và nhạc
công dàn nhạc giao hưởng Hollywoods biểu diễn,v.v…
Bên cạnh nhạc hòa tấu, giới trẻ nội thành còn dành nhiều tình cảm với loại
nhạc bán cổ điển (demi-classique) như của các dàn nhạc Mantovani, Yanni, Paul
Mauriat, James Last. Xét qua mãi lực bán băng đĩa ở một vài điểm kinh doan
lớn trong nội thành, chúng ta dễ dàng nhận thấy thị hiếu tốt đẹp đó đang ngày
càng gia tăng. Điều đáng phàn nàn là các phương tiện truyền thông như Đài phát
thanh (ở sóng AM, FM), truyền hình dành quá ít đến hầu như không đáng kể số
lượng buổi phát thanh nhạc hòa tấu và bán cổ điển. Nếu không có thị trường
băng đĩa, có lẽ giới trẻ sẽ cho rằng nói đến âm nhạc tức là nói đến ca khúc.
Nhạc hòa tấu được xem như là trung gian giữa các loại nhạc pop, poprock,… với âm nhạc cổ điển, bác học. Trong khi âm nhạc bác học còn là một
19
thực thể xa lạ với thị hiếu của số đông giới trẻ, thì nhạc hòa tấu trở thành bạn
đường với họ, giúp họ thoát ra ngoài vòng lẩn quẩn của những ca khúc não nượt,
Nhi), Em của ngày hôm qua (Sơn Tùng - MTP), album Khởi hành (Nguyễn Trần
Trung Quân)… Hai ca khúc đang “gây sốt” nhất hiện tại là Em đi tìm anh (Hồ
Ngọc Hà ft Noo Phước Thịnh) và Vũ điệu cồng chiêng (Tóc Tiên).
Bên cạnh thành công của các ca khúc nhạc điện tử, thể nhạc này còn “bành
trướng” sang cả chương trình truyền hình thực tế. The Remix - Hòa âm ánh sáng
được coi là “lãnh địa” của nhạc điện tử đã thu hút sự chú ý của đông đảo khán
giả và vô cùng thành công. Chương trình quy tụ những DJ và những nhà sản
xuất âm nhạc trẻ tài năng nhất của dòng nhạc Electronic tại Việt Nam, đã mang
lại những ca khúc tuyệt vời, sáng tạo và đầy sôi động. Có thể nói, nhạc điện tử
đã thăng hoa ngoạn mục trong lòng khán giả qua chương trình này.
Nhiều người nhận xét rằng, nhạc điện tử là loại nhạc để giải trí, để xả năng
lượng nên nó phù hợp với những “bữa tiệc” âm nhạc, nơi người ta đến không chỉ
để nghe nhạc mà còn để uống bia, vui vẻ cùng âm nhạc. Vì thế, ở bất cứ nơi nào,
chương trình nào đông người, nơi đó đều có sự hiện diện của nhạc điện tử.
Dù được đánh giá là dòng nhạc thời thượng và các ca sĩ đang đua nhau
chạy theo nhưng nhạc điện tử vẫn được coi là “khó thấm” và khiến nhiều người
hoài nghi về khả năng của những ca sĩ hát loại nhạc này. Bởi lẽ, trong các bản
nhạc điện tử, lời bài hát khá ít mà chủ yếu thiên về phần nhạc nên ca sĩ có thể
“lấm liếm” giọng hát yếu và kỹ năng thanh nhạc kém của mình, thậm chí có thể
hát nhép mà khó bị phát hiện. Bên cạnh đó, dù mang lại nhiều ưu thế cho ca sĩ
nhưng ở Việt Nam, rất ít ca sĩ định hướng theo đuổi dòng nhạc này lâu dài.
Nhiều ý kiến cho rằng, ca sĩ Việt chỉ chạy theo trào lưu chứ chưa đủ “năng
lượng” theo đuổi “hành trình dài hơi” với dòng nhạc sôi động này và cho rằng
trào lưu này sẽ sớm thoái trào. Vì lẽ đó, dù thịnh hành nhưng EDM vẫn chưa
hoàn toàn làm hài lòng khán giả.
“Rất khó để phán xét rằng một dòng nhạc sẽ sớm thoái trào, bởi định
hướng nghe nhạc của khán giả rất đa dạng. Nhiều người thích những bản nhạc
sôi động, tiết tấu nhanh, cũng có người cũng nghe nhạc theo cảm xúc… Bởi vậy
21
%
SV
%
1
Các bài dân ca Việt Nam
85
21.5
122
30.8 115
29.0
2
Chèo, tuồng, cải lương
27
6.8
55
13.4 199
50.3
5
Hòa tấu nhạc cụ dân tộc
31
7.8
55
13.9 182
46.0
6
Hòa tấu nhạc nhẹ
58
14.6
73
18.4 173
9
Nhạc kịch Broadway
30
7.6
31
7.8
227
57.3
16.2
109
27.5 136
34.3
10
Ca khúc tiền chiến, lãng mạn 64
(nhạc xưa)
11
9.8
210
53.0
18.9
131
33.1 102
25.8
13
14
Ca khúc phong cách thính 20
phòng
Ca khúc âm hưởng dân ca
75
22
15
16
Ca khúc Việt Nam đương đại
85.6
346
87.4 0
18
Thể loại khác
30
7.6
30
7.6
Trong 17 thể loại âm nhạc trên nếu chỉ xét vị trí thể loại được các bạn sinh
viên đại học Văn hóa Hà Nội thích nghe và thường nghe nhất là thể loại nhạc có
lời (ca khúc). Thể loại nhạc không lời có lượng sinh viên nghe rất thấp. Nhiều
nhất là hòa tấu nhạc nhẹ nhưng chỉ chiếm vỏn vẹn có 14.6% thích nghe và
18.4% thường nghe.
Hầu hết tỉ lệ thường nghe luôn cao hơn tỉ lệ thích nghe. Bởi vì như chúng ta
đã biết, tai nghe con người có 2 cách để tiếp nhận âm thanh. Một là nghe có chủ
định, tức mang ý nghĩa tích cực, thích mà nghe. Hai là nghe không chủ định, tức
mang ý nghĩa không tích cực như “bị nghe” hay vô tình nghe được. Do ca khúc
Việt Nam đương đại có chất lượng nghệ thuật khá cao nhưng thường rất kén tai
nghe và rất khó hát. Do đó mức độ phủ sóng của những ca khúc này trong cộng
nghe nhạc của các bạn sinh viên đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay. Tại 2 vị trí
(16, 17) là thể loại nhạc teen, nhạc trẻ Việt Nam và nhạc trẻ nước ngoài có tỉ lệ
tăng vọt (Trên mức 80%) so với các thể loại trước đó, trong khi tất cả các thể
loại khác chỉ xấp xỉ hoặc không vượt qua mức 40%. Thích nghe nhất là thể loại
nhạc trẻ nước ngoài với 85.6%. Tuy nhiên, thể loại các bạn sinh viên thường
nghe nhất lại là thể loại nhạc teen, nhạc trẻ Việt Nam với tỉ lệ rất cao là 94.7%.
Ở đây, chúng ta thấy có một sự thay đổi nhẹ tại vị trí đứng đầu ở cột thích nghe
và thường nghe. Nhạc trẻ Việt Nam rõ ràng được các bạn sinh viên yêu thích ít
hơn nhạc trẻ nước ngoài khi chiếm 85.1% nhưng lại tăng cao ở cột thường nghe
là do mức độ phủ sóng của các ca khúc này quá cao. Dù không thích nhưng các
bạn sinh viên vẫn phải nghe hằng ngày như thế vì bất đắc dĩ “bị nghe” hay là
nghe để giải trí, vui tai, hoặc thôi thì có gì thì nghe đó…
Những cái tên ca sỹ, nhóm nhạc được sinh viên yêu thích nhiều nhất như:
đứng đầu là Sơn Tùng MTP, rồi đến Đông Nhi, Khởi My, Trịnh Thăng Bình,
24
Bích Phương, Justatee, nhóm 365, Miu Lê, Bảo Thy… là những cái tên được
nhắc đến nhiều nhất trong cuộc khảo sát bên cạnh một danh sách dài hàng trăm
các ca sỹ nhóm nhạc trẻ ở trong và ngoài nước.
Những ca khúc được các bạn sinh viên thích nhiều nhất như: Em của ngày
hôm qua, Nắng ấm xa dần, Cơn mưa ngang qua, Mình yêu nhau đi, Bâng
Khuâng, Giận lòng, Nắm lấy tay anh, Bốn chữ lắm, Anh nhớ em người yêu cũ,
Người yêu cũ, Trót yêu, dấu mưa…. Dễ nhận thấy các ca khúc được các bạn
sinh viên yêu thích trên đa phần nặng tính giải trí nhiều hơn là một ca khúc nghệ
thuật. Thậm chí có nhiều ca khúc nhạc trẻ Việt Nam có lời lẽ hết sức ngô nghê,
dài dòng kiểu kể chuyện, một số bài thỉnh thoảng còn chèn vài câu tiếng anh,
nhiều câu rất vô nghĩa. Hay có những bài có lời ca thất tình sướt mướt, giai điệu
nghe một màu, na ná giống nhau.
Đặc biệt một số bạn sinh viên thể hiện rõ rất yêu thích và quan tâm tới các