Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng anh và tiếng việt - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRỪÒNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

ĐỐI CHIẾU ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM TỪ
CHỈ QUAN HỆ THÂN TỘC TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

M ã số: Q N . 01. 05
C huyên ngành: Lí iuận ngôn ngữ

Chủ nhiệm đề tài: Dương Thị Nụ
KHOA: NGOẠI NGỬ CHUYÊN NGÀNH
OAI

HOC Q Ư Í G i < " rl/-‘ ■' V 1

1 f.’ l j i ' -

T À M

' 1'

í G

Til i T ‘-|IJ V ì t N

D ĩ/ 4 i'ĩ
HÀ NÔI - 2003


2. Mục đích của đề tài

1

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1

4. Ý nghĩa và đóng góp của đề tài

2

5. Phương pháp nghiên cứu

3

6. Cấu trúc của đề tài

3
Chương 1

C ơ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC NGHIÊN c ứ u NGỮ NGHĨA TỪ THÂN TỘC 4

1.1. Khía cạnh nhân học ngôn ngữ

4

1.1.1. Quan hệ thân tộc

4

1.3.3. Loại hình ngôn ngữ và hình thái học

28

1.4. Sơ lược một số công trình nghiên cứu trước đây về từ thân tộc

29

1.5. Tiểu kết

31
Chương 2
ĐỐI CHIẾU NGHĨA c ơ BẢN
CỦA TỪ THÂN TỘC TRONG TIENG an h v à t i ế n g v i ệ t

2.1. Từ thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt

33

33

2.1.1. Về số lượng

33

2.1.2. v ể đặc điểm cấu tạo của từ

33

2.2. Phân tích nghĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng Anh vàtiếng Việt


65

3.1.1. Về số lượng

65

3.1.2. Hệ thống 1

67

3.1.3. Hệ thống 2

71

3.2. Những tương đồng và khác biệt

96

3.3. Tiểu kết

98
Chương 4

ÚNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀO GIẢNG DẠY

VÀ PHIÊN DỊCH

100


125

KẾT LUẬN

127

Tài liệu tham khảo
Phụ lục


B Ả N G N H Ũ N G C H Ữ V IẾ T T Ắ T

Au

au n t (cô/ dì...)

Bro

b ro th er (an h / em trai)

Co

cousin (anh/ chị/ em họ)

Da

dau g h ter (con gái)

Fa


G -2

th ế hệ ông bà (trên BẢN THÂN 2 th ế hệ)

G-3

th ế hệ cụ (trên BẢN THÂN 3 th ế hệ)

GAu

great/g ran d aunt (bà cô/ bà dì)

GDa

g ran d d au g h ter (cháu gái của ông bà)

GFa

g ran d fath er (ông)

GGAu

great g ran d au n t (chị/ em gái của cụ)

GGDa

g reat g ran d d au g h ter (chắt gái)

G G Fa



GNi

grand n iece (cháu gái họ)

GSo

grandson (cháu trai của ồng bà)

GUn

g reat/ grand uncle (ông bác/ông chú)

Hu

husband (chồng)

LN

last nam e (tên họ)

Mo

m o th er (mẹ)

Ne

nephew (cháu trai của cô bác...)

Ni


Y

young (trẻ)


N H Ũ N G THUẬT NG Ữ s ử DỤNG TRONG ĐỂ TÀI
Thân tộc giả/ thân tộc nhân tạo
(artificial kinship)

quan hệ giữa những người tuy khỏng có
quan hệ máu mủ nhưng coi nhau như
người họ hàng ruột thịt và được gọi
bằng từ thân tộc

Gia đình mở rộng/ gia đình đa thế hệ
(extended family)

Gia đình gồm từ ba thế hệ trở lên hay
gồm nhiều người họ hàng cùng sống
trong một hộ

Thân tộc theo nghi thức
(fictive kinship)

Quan hệ giữa những người họ hàng
được tạo nên qua các nghi thức nhận
nuồi, đỡ đầu hay kết nghĩa

Gia đình hạt nhân (nuclear family)

Hàng

Bậc, xếp theo tuổi tác giữa những người
cùng cha mẹ sinh ra, ai sinh ra trước thì
thuộc hàng trên (anh, chị), ai sinh ra
sau thì thuộc hàng dưới (e/n)

Trực hệ

Quan hệ họ hàng theo dòng thẳng, trong
đó người Iiày sinh ra người kia kế tiếp
nhau, gồm : ông, c h a , COI1, c h á u ...

Tuyến thân tộc

Quan hệ họ hàng tính theo dòng họ cúa
cha, hoặc có khi của chồng (bên nội),
hoặc có khi của vợ (bên Iigoại)


D A N H SÁ C H B Ả N G , s ơ Đ ổ , B lỂ ư Đ ổ V À H ÌN H V Ẽ

B ảng 1. T ừ thân tộc tiếng A nh đối chiếu với tiếng V iệt và kiểu quan hệ
B ảng 2. T ừ thân tộc trong tiếng A nh - theo quan hệ huyết thống
Bảng 3. Từ thân tộc trong tiếng V iệt - theo quan hệ huyết thống
B ảng 4. B ảng n ét nghĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng Anh
B ảng 5. B ảng nét nghĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng V iệt
Bảng 6. Bảng tổng kết các nét nghĩa của từ thân tộc trong tiếng A nh và
tiếng V iệt
B ảng 7. T ỷ lệ người học có lời dịch sát với nội dung văn bản

Mục đích của đề tài nghiên cứu là:
- Tìm hiểu Iihững đặc trưng ngữ nghĩa hay CÒI1 gọi là nét nghĩa của nhóm từ thân
tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt.
- Tìm hiểu những nét giống nhau và khác nhau cơ bán về ngữ nghĩa của nhóm từ
này trong tiếng Anh và tiếng Việt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Căn cứ trên quan điểm cho rằng nghĩa của từ là một tập hợp những nét
nghĩa [46], đề tài chọn đối tượng nghiên cứu của mình là những tương đổng và
khác biệt vé đặc trưng ngữ ng/iiã của nhóm từ thán tộc trong tiếng Anh và

1


tiếng Việt. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài lấy đơn vị khảo sát là những từ chỉ
người họ hàng có quan hệ huyết thống ở 3 thế hệ trên Ego (BẢN THÂN) (thế hệ
cha mẹ G -l, thế hệ ông bà G-2 và thế hệ cụ G-3), 3 thế hệ dưới BẢN THÂN (thế
hệ coil G + l, thế hệ cháu G+2 và thế hệ chắt G+3), và những người cùng thế hệ
với BẢN THÂN. Những từ tiếng Anh được nghiên cứu là những từ phổ thông,
được cộng đổng người bản ngữ nói tiếng Anh, Mỹ hiện đại sử dụng (trong giới
Anh ngữ vẫn gọi là tiếng Anh - Anh và tiếng Anh - Mỷ: British English và
American English). Những từ trong tiếng Việt được khảo sát chỉ là những từ
tương ứng về nghĩa với các từ thân tộc tiếng Anh chứ không phải toàn bộ hệ
thống từ thùn tộc tiếng Việt. Đảy là những từ phổ thông được sử dụng ở các vùng
phía bắc Việt Nam, không phải là những từ được dùng trong các địa phương như
bủ, bầm, tía, má.
Đề tài tập trung nghiên cứu và đối chiếu đạc trưng ngữ nghĩa của từ thân
tộc tiếng Anh và tiếng Việt trên hai cấp độ: nghĩa co bẩn và nghĩa m ở rộng. Khi
đối chiếu nghĩa cơ bản của từ, tiểu trường từ vựng được hạn chế ở 34 từ chỉ quan
hệ huyết thống trong tiếng Anh (18 từ thuộc dòng trực hệ và 16 từ thuộc dòng
bàng hệ). Tương ứng với chúng là 50 từ chỉ quan hệ huyết thống trong tiếng Việt

mà chỉ là các thao tác tư duy tiếp cận trình bày kết quả nghiên cứu. Bao trùm lên
toàn bộ đề tài là các phương pháp đặc thù của ngôn ngữ học: Phương pháp phân
tích thành tố nghĩa để phân tích cấu trúc ngữ Iighĩa của từ và phương pháp đối
chiếu tương phản Anh - Việt để kiểm chứng sự có mật của các thành tố nghĩa
(không đối chiếu Việt - Anh). Do đó tiếng Anh được chọn làm ngôn ngữ gốcngôn ngữ đối chiếu và tiếng Việt làm ngôn Iigữ công cụ đê đối chiếu. Ngoài ra
ch ú n g tôi CÒI1 sử dụng phương pháp phân tích lỗi thông qua v iệc tiến hành m ột số

thủ pháp điều tra xã hội học để phát hiện những thuận lợi và khó khăn mà người
học Việt Nam thường gặp phải trong quá trình học từ thân tộc tiếng Anh. Các thủ
pháp áp dụng bao gồm: thống kê, lập sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ. Nhìn chung các
phương pháp nghiên cứu bao gồm cả các yếu tố định tính và định lượng.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, đề tài nghiên cứu gồm 4 chương:
Chương 7: Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu ngữ nghĩa từ thân tộc.
Chương 2: Đối chiếu nghĩa cơ bản của từ thân tộc tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3: Đối chiếu nghĩa mở rộng của từ thân tộc tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 4: ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong giáng dạy và phiên dịch.

3


Chương 1
C ơ SỞ LÝ THUYẾT
CỦA VIỆC NGHIÊN c ứ u NGỮ NGHĨA TỪ THÂN TỘC
1.1. Khía cạnh nhân học ngôn ngữ
1.1.1. Quan hệ thân tộc
Quan hệ thân tộc là đối tượng nghiên cứu cụ thể của các nhà nhân học và
thuộc vào lĩnh vực nhân học (anthropology). Nghiên cứu quan hệ thân tộc thường
gắn rất chặt với việc nghiên cứu các danh từ thân tộc. Các dạng thức ngôn ngữ (từ
thân tộc) luôn là cơ sở giúp cho nghiên cứu về lịch sử các quan hệ thân tộc, Trong

nhân, ví dụ: bố vợ, mẹ chồng, anh rể... và quan hệ mà được các nhà nhân học gọi
là quan hệ "tương tự huyết thống" (quasi-blood relationship), có người gọi là
quan hệ "giả thân tộc" (pseudo - kinship) hay "quail hệ thân tộc nhâu tạo"
(artificial kinship). Những người có quan hệ "tương tự huyết thống” là những
người không có quan hệ huyết thống với nhau Iihưng coi nhau như là người họ
hàng ruột thịt và gọi nhau bàng các từ thân tộc. Có các loại quan hệ "tương tự
huyết thống" như sau:
a) Quan hệ nhận nuôi: Khi một người nào đó được chấp nhận và mãi mãi
giữ một vị trí của người họ hàng nào đó, và vì thế mà được coi là một người họ
hàng trong gia tộc, có quyền lợi và nghĩa vụ tương đương như con đẻ, có quan hệ
ruột thịt với các thành viên khác trong gia tộc và được gọi bằng những từ thân tộc.
b) Quan hệ nghi thức (fictive kinship): Là mối quan hệ giữa những cá nhân
được xã hội công nhộn, đựơc tạo ra như một động cơ để giải quyết những hoàn
cảnh đạc biệt. Quan hệ nghi thức dựa trên tình bạn và những quan hệ cá nhân
khác chứ không phải ỉà do hôn nhân hay huyết thống. Đó là những trường hợp:
blood brothers (anh em kết nghĩa), godparent (cha mẹ đỡ đầu), thuật ngữ co­
parent (cùng là cha mẹ của ai, tức một người là cha / mẹ đẻ và một người là cha /
mẹ nuôi hay cha / mẹ đỡ đầu). Kiểu quan hệ do theo nghi thức đỡ đầu này xuất
phát từ những nền văn hoá có đạo Cơ đốc giáo và trong lễ rửa tội để chấp nhận
một người nào đó vào đạo Cơ đốc giáo thì người cha hay mẹ đỡ đầu là người
đứng ra hứa khi đứa trẻ được rửa tội là sẽ nuôi nấng cho nó trở thành con chiên
ngoan đạo.
1.1.1.2. Quan hệ thân tộc trong tri nhận của ngưòi Anh và người Việt
Người ta quan niệm rằng bố mẹ (parents) là những Iigười đầu tiên, những
đơn vị đầu tiên hình thành nên gia đình hạt nhân, là khởi nguồn của mọi mối
quan hệ trong gia đình. Do đó, khi nghiên cứu về quan hệ thân tộc, người ta

5




6


hữu. Nguyên nhân cơ bản có lẽ là do họ ít có ràng buộc về kinh tế với nhau nên
không còn duy trì được mối quan hệ chặt chẽ như xưa.
Nhìn bao quát ta thấy cộng đồng người họ hàng nằm trong phạm vi 3
đường tròn đồng tâm được phân định rõ về khoảng cách gần gũi về huyết thống,
thế hệ, giới tính và dòng thân tộc (trực hệ, bàng hệ). Những người được xếp trong
đường tròn thứ nhất có quan hệ máu mủ gần gũi với BẢN THÂN hcm so với
những người được xếp trong các đường tròn 2 và 3.

Hình 1. Đường tròn đồng tâm về quan hệ thán tộc người Anh
Đặc điểm về thế hệ được thể hiện trên trục dọc (3 thế hệ trên BẢN TIIÂN
và 3 thế hệ dưới BẢN THÂN). Xét theo chiều từ trên xuống dưới ta thấy: thế hệ
cụ (G-3) —* thế hệ ông bà (G-2) —►th ế hệ bố mẹ (G -l) —►thế hệ con (G + l) —*• thế
hệ cháu (G+2) -*■ thế hệ chắt (G+3). Đặc điểm về giới tính (nam và nữ) cũng được
thể hiện trong đường tròn này: nửa bên phải của đường tròn bao gồm những
người thuộc giới Iiam và nửa bên trái của đường tròn bao gồm Iihững người thuộc
giới nữ. Đặc điểm về dòng thân tộc: những người có quan hệ theo dòng thẳng
(trực hệ, trong đó người này sinh ra người kia) được xếp theo khu vực gần sát với
BẢN THÂN và tính theo cột dọc từ trên xuống dưới, còn những người có quan
hệ theo dòng bên (bàng hệ, trong đó không ai sinh ra ai) được xếp theo khu vực
cách xa BẢN TIIÂ N hơn và tính theo cột dọc từ trên xuống dưới. Các quan hệ

7


trong một gia đình người Anh gồm thế hệ của bố mẹ và thế hệ của con được thấy
trong sơ đồ 1.



một người nữ
một người Iiam
quan hệ theo hôn nhân
quan hệ bố / mẹ - COI1
quan hệ anh chị em

1. father (bố)
2. mother (mẹ)
3. father's brother (bác, cliú), father’s sister's husband (bác rể, chủ), mother's
brother (cận), mother's sister's husband (bác rể, chứ)
4.

m o th e r 's s is te r (già, d ì), fa th e r 's s is te r (cỏ), fa th e r 's b r o th e r s w ife (b á c dâ u ,

thím), mother's brother's wife (mợ)
5. ego's brother (anil, em trai)
6. ego's sister (chị, em gái)
7. ego's cousin (father's bi other's son, father's brother's daughter, father's
sister's son, father's sister's daughter, mother's brother's son, mother's
brother's daughter, mother's sister's son, mother's sister's daughter) (anh, chi,
em họ).
Là một đơn vị của quan hệ thân tộc, gia đình hạt nhân được nhà nhân học Levis Strauss nhìn nhận như một cấu trúc cơ bản mà từ đó hệ thống các mối quan hệ
khác trong tộc họ được hình thành. Khái Iiiệm gia đình hạt nhân được định nghĩa
là một gia đình bao gồm bố mẹ và các con. Nó được hình thành nên do hôn nhân,
lớn lên khi COI1 cái được sinh ra, nhó lại khi COI1 cái đã lập gia đình riêng và mất

đi khi cả hai vợ chồng qua đời. Như được dẫn trong Foley [94], Malinowski và
M urdock đã coi mối quan hệ họ hàng trong gia đình hạt nhân là cơ sở cho mọi

em gái

Sơ đồ 3. Sơ đồ quan hệ gia dinh mẹ và các con
Trong văn hoá Việt Nam các quan niệm về mức độ quan hệ thân sơ giữa
những người họ hàng không giống như trong văn hoá Anh - Mỹ. Các đặc điếm về
môi trường sống, phong tục tập quán của dân tộc đã ảnh hưởng đến các quan
Iiiệm về tôn ti, thứ bậc, về cách ứng xử, vể trách nhiệm chăm sóc người họ hàng

9


trong tộc họ. Thực vậy, ở Việt Nam mức độ gần gũi hay xa cách giữa những
người họ hàng phụ thuộc vào việc người đó có quan hệ máu mủ gần hay xa đối
vói BẢN THÂN, người đó thuộc về thế hệ trên hay thế hệ dưới, trực hệ hay bàng
hệ, bên nội (bên bố) hay bên ngoại (bên mẹ), người đó sinh ra trước hay sinh ra
sau, người đó là nam hay nữ. Với quan niệm Một giọt máu đào hơn ao nước lã,
trước đây (ngày nay chủ yếu ở nông thôn) các gia đình Việt Nam có thể bao gồm
Iihiểu thế hệ cùng sống chung trong một hộ và làm thành gia đình tam đại dồng
đường, tứ đại đồng đường, có khi ngũ đại đồng dường. Trong xã hội Việt Nam
hiện nay gia đình tổn tại dưới hai dạng: gia đình hiện đại (gia đình hạt nhân) chủ
yếu ở thành thị và gia đình truyền thống (gia đình mở rộng hay gia đình đa thế
hệ) chủ yếu ở nông thôn. Nguyên nhàn của sự thay đối về cơ cấu gia đình hiện
đại có khác với cơ cấu gia đình truyền thống đa thế hệ một phần là do sự thay đổi
của xã hội. Cơ hội kiếm việc làm tập trung chủ yếu ở thành phố dẫn đến việc di
chuyển chỗ ở cho phù hợp với công việc lao động và học tập đă làm cho các
thành viên gia đình phải sống xa nhau trong các gia đình hạt nhân chứ không còn
được sống cùng đại gia đình trên mảnh đất của cha ông nữa. Trong sự chuyển
biến từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại “các yếu tố của gia đình
truyền thống không mất đi nhanh chóng, cùng một lúc, Ngay cả trong các xã hội
hiện đại, những tàn dư của gia đình truyền thống vẫn còn tổn tại ở những mức độ

người họ hàng còn được thể hiện trong các qui định về chế độ sở hữu, chế độ thừa
kế tài sản và chế độ hương hoả. Hơn nữa, mức độ thân thuộc trong quan hệ còn
được coi là cơ sở để luận tội và xác định hình phạt đối với tội phạm là người họ
hàng (trong phạm vi đề tài chúng tôi xin không đi sâu về vấn đề này).
1.1.2. Từ thán tộc
1.1.2.1. Lịch sử nghiên cứu
Kết quả các nghiên cứu về quan hệ thân tộc từ thế kỷ 19 với triết học của
Freidrich Angels và của Sigmund Freud ở thế kỷ 20 về nguồn gốc lịch sử gia
đình, cũng như các giai đoạn lịch sử nghiên cứu của các nhà nhân học cho thấy
khi nghiên cứu từ chỉ quan hệ thân tộc chúng ta cẩn quan tâm đến toàn bộ kiến
thức của các trường phái ngôn Iigữ nhân học nêu trên, tức là tính đến cả các quan
hệ của các thành viên trong gia đình và và các quan hệ của các thành viên trong
các cộng đồng xã hội. Tuy cách gọi những người họ hàng trong gia đình ở mỗi
cộng đồng người không giống nhau nhưng “đây là những biểu hiện của những
quan niệm đã thực sự lưu hành về quan hệ dòng máu gần hay xa, ngang nhau hay
không ngang nhau. Những quan niệm đó được đùng làm cơ sở cho một hệ thống
họ hàng đã hoàn toàn được xác định, có thể biểu hiện hàng trăm mối quan hệ họ
hàng khác nhau của mỗi cá nhân” [40, 57]). Xuất phát từ quan điểm của các nhà
nhân học và ngôn ngữ nhân học, các từ thân tộc được xem như một hệ thống tên
gọi áp dụng cho những người họ hàng trong mối quan hệ với nhau và có thế được

12


sử dụng khác nhau trong sự khác nhau về nền văn hoá, điều kiện vật chất và tinh
thần của từng cộng đồng xã hội [40, 57], Đứng trên góc độ nghiên cứu của mình
các nhà nhân học cấu trúc đã xem xét từ thân tộc như những từ ngữ cụ thể dùng
để chỉ các quan hệ thân tộc. Các nhà nhân học tri nhận thì nghiên cứu từ thân tộc
gắn liền với vãn hoá và tư duy của COI1 người. Trong mỗi nền văn hoá, các sự
kiện, đời sống vật chất và các tư tưởng cũng tuân theo những chuẩn mực khác

/ chị - em. Những luật lệ hay quy ước này có thể là những khế ước xã hội, cũng có
thể là sự vận dụng linh hoạt được hiểu như những quy định ngầm nhưng cần thiết.
1.1.2.2. Từ thân tộc và kiểu quan hệ
“ Danh từ thân tộc là những từ biểu thị những khái niệm và quail hệ thân
tộc gia đình” [15]. Ngoài ra, những từ thân tộc không phải chỉ đơn thuần là Iihững
danh hiệu tôn kính mà còn bao hàm những nghĩa vụ hoàn toàn rõ rệt và rất
nghiêm túc của người ta đối với nhau. Toàn bộ những nghĩa vụ đó hợp thành một
bộ phận chủ yếu trong tổ chức xã hội của người dân thuộc một chủng tộc. Nhìn
chung, các dân tộc trên thế giới có các nền văn hoá khác nhau có các hệ thống
thân tộc khác nhau, do đó có các quy định riêng về các loại tên gọi dành cho các
quan hê khác nhau trong tộc họ. Sự khác nhau này được thể hiện qua các dấu hiệu
ngôn ngữ. Dựa vào đặc điểm này mà các nhà nhân học đã tìm ra 6 hệ thống thân
tộc (kinship naming systems) thuộc 6 nhóm ngôn ngữ nêu trên (xem phu lục 2).
Trong hệ thống Hawaiian các từ thân tộc chỉ người họ hàng được phân biệt với
nhau dựa trên sự đối lập về thế hệ và giới tính, các từ thân tộc trong hệ thống
Omaha và Crow có sự đối lập với nhau về tuyến thân tộc và giới tính, cấc từ thân
tộc trong hệ thống Iroquois có sự đối lập với nhau về thế hệ, giới tính và tuyến
thân tộc, trong hệ thống Sudanese mỗi thành viên trong gia đình được gọi bằng
một từ khác nhau, trong hệ thống Eskimo thì có sự đối lập về thế hệ, dòng thân
tộc và giới tính. Tiếng Anh thuộc hệ thống Eskimo - hệ thống phổ biến ở Bắc Mỹ
và châu Âu. Trong các xã hội có hệ thống Eskimo, gia đình hạt nhân được đề cao
và họ hàng bên nội và bên ngoại đểu được coi trọng như nhau, nhưng có sự phàn
biệt về dòng thân tộc và phàn biệt giữa họ hàng gần và xa. Các từ dùng trong gia
đình hạt nhân sẽ không được sử dụng trong các quan hệ họ hàng khác, ngược lại
có các từ dùng chung cho người họ hàng xa (ví dụ cousin có nghĩa là anh, chị, em
họ nói chung). Các từ thân tộc chỉ các thành viên trong gia đình hạt nhân được
phân biệt dựa trên căn cứ về giới tính và thế hệ, không phân biệt tuổi tác hay bên
nội, bên ngoại. Chính vì thế những từ thân tộc chỉ người thuộc thế hệ trên BẢN

14

Từ thân tộc theo quan hệ huyết thống trong tiếng Anh, tương ứng của
chúng trong tiếng Việt và các kiểu quan hệ được thể hiện trong bang 1 (xem phụ

15


lục ỉ) . Kết quả thống kê cho thấy một từ thân tộc có thể biểu hiện một hay một số
mối quan hệ giữa BẢN THÂN và người họ hàng. Khi khoảng cách giữa BẢN
THÂN và người họ hàng càng xa thì số lượng các mối quan hệ càng tăng và tâng
theo cấp số nhân. Sự tăng lên về số lượng các quan hệ là do các từ thân tộc thuộc
thế hệ ông bà (G-2) được mang thêm nét nghĩa về tuyến thân tộc nội và ngoại (về
phía bố hay phía mẹ), do đó mà mỗi từ được dùng để chỉ 2 mối quan hệ, ví dụ
grandfather chỉ 2 mối quan hộ: ông nội (FaFa) và ông ngoại (MoFa) (FaFa là
dạng viết tắt của father’s father và MoFa là dạng viết tắt của Mother's father).
Chúng tôi sẽ áp dụng cách viết tắt này khi nêu ví dụ). Đến lượt mình các từ thân
tộc ở thế hệ G-3 lại được mang thêm nét nghĩa về nội ngoại, do đó mà mỗi từ lại
chỉ 2 mối quan hệ Iiữa, và làm thành 4 mối quan hệ. Ví dụ great grandfather chỉ
4 mối quan hệ: cụ ông đẻ ra ông nội (FaFaFa), cụ ông đẻ ra ông ngoại (MoFaFa),
cụ ông đẻ ra bà nội (FaMoFa), cụ ông đẻ ra bà ngoại (MoMoFa).
Các từ thân tộc dòng bàng hệ thì lại phức tạp hơn VÌ các mối quan hệ
không những chỉ tăng lên gấp đôi theo tuyến thân tộc nội / ngoại mà còn gấp đôi
lên theo thứ bậc trên / dưới của những người họ hàng sinh ra trước và sau BÁN
THÂN. Do đó mà nephew chỉ 4 mối quan hệ: OBrSo, YBrSo, OSiSo, YSiSo; đến
grandnephew đã có 8 mối quan hệ: OBrSoSo, YBrSoSo, OSiSoSo, YSiSoSo,
OBrDaSo, YBrDaSo, OSiDaSo, YSiDaSo; và đến great grand nephew thì đã lên
tới 16 mối quan hệ: OBrSoSoSo, YBrSoSoSo, OSiSoSoSo, SiSoSoSo, OBrSoDaSo,
YBrSoDaSo, OSiSoDaSo, YSiSoDaSo, OBrDaSoSo, BrDaSoSo, OSiDaSoSo,
YSiDaSoSo, OBrDaDaSo, YBrDaDaSo, SiDaDaSo, YSiDaDaSo.
Những phân tích ở trên đã làm rõ thêm ý nghĩa của đường tròn đổng tâm
về khoảng cách ruột thịt giữa các người họ hàng. Những mối quan hệ họ hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status