ĐỐI CHIẾU NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA THÀNH
NGỮ VÀ TỤC NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ĐỨC
TS. LÊ TUYẾT NGA
Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Phương
Tây
Tóm tắt:
Thành ngữ và tục ngữ là nhóm từ vựng phản ánh rõ nét nhất đặc điểm văn
hoá và những nét đặc sắc trong ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Vì vậy nghiên cứu
đối chiếu thành ngữ, tục ngữ và ứng dụng những kết quả nghiên cứu vào thực
tiễn dạy và học ngoại ngữ sẽ giúp người học làm chủ ngôn ngữ đích và tăng
cường hiệu quả giao tiếp. Báo cáo này đưa ra một số nhận xét về các đặc điểm
tương đồng và dị biệt của các thành ngữ và tục ngữ phổ biến trong tiếng Đức
và tiếng Việt trên các bình diện ngữ âm, hình thái-cú pháp, từ vựng-ngữ nghĩa
và sắc thái biểu cảm dựa trên khảo sát, so sánh và đối chiếu 500 thành ngữ và
tục ngữ thông dụng.
1. Đặt vấn đề
Thành ngữ (ThN) và tục ngữ (TN) là nhóm từ vựng phản ánh rõ nét nhất
đặc tính dân tộc, đặc điểm văn hoá và những nét đặc sắc trong ngôn ngữ, đồng
thời đúc kết những kiến thức, kinh nghiệm, phản ánh nhiều lĩnh vực đa dạng
của đời sống xã hội, tư duy, quan niệm và phong tục tập quán của mỗi dân tộc.
Nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ của các dân tộc cho ta những hiểu biết sâu sắc
về những dân tộc đó. Nhu cầu giảng dạy và học tập tiếng Đức gia tăng cũng
như sự phát triển quan hệ hợp tác Đức-Việt trên nhiều phương diện là những
động lực thúc đẩy nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá Đức và ứng dụng những
kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy và học tiếng Đức. Việc hiểu và sử dụng
thành ngữ, tục ngữ phù hợp có thể làm cho lời nói phong phú hơn, có sức
thuyết phục cao hơn và có sắc thái biểu cảm lớn hơn, do đó hiệu quả giao tiếp
sẽ cao hơn. Trong báo cáo này chúng tôi muốn đưa ra một số nhận xét về các
đặc điểm tương đồng và dị biệt của các thành ngữ và tục ngữ phổ biến trong
tiếng Đức và tiếng Việt trên bình diện ngôn ngữ như ngữ âm, hình thái-cú pháp
và từ vựng-ngữ nghĩa. Những nhận xét này dựa trên khảo sát, so sánh và đối
c) Các thành ngữ và tục ngữ tương đương về ngữ nghĩa, khác nhau về
hình thức biểu đạt
Các ThN và TN thuộc nhóm này (178 đơn vị) khác nhau hoàn toàn về cú
pháp và từ vựng nhưng tương đương về ý nghĩa: Ăn dưng/không ngồi rồi die
Hände in den Schoss legen, bắt cá hai tay auf zwei Hochzeiten tanzen.
d) Các thành ngữ không có tương đương trong tiếng Đức hoặc tiếng Việt
Ngoài 500 ThN và TN có tương đương thì còn nhiều ThN và TN không
có tương đương trong cả hai ngôn ngữ, trong đó có một số gồm một yếu tố là
chữ cái, tên riêng hoặc liên quan đến tôn giáo, dấu ấn lịch sử, những khác biệt
về đời sống xã hội, văn hoá, phong tục tập quán đặc thù ở Việt Nam cũng như
Châu Âu. Không có tương đương trong tiếng Đức, ví dụ: cây nhà lá vườn, oan
Thị Kính, không có tương đương trong tiếng Việt, ví dụ: das A und (das) O
(einer Sache), den gordischen Knoten durchtrennen.
3. Các tương đồng về mặt ngôn ngữ
3.1. Số lượng yếu tố
Các yếu tố cấu (thành tố) tạo nên ThN và TN có thể là các từ độc lập
(danh từ, động từ, tính từ, đại từ và số từ), gọi là các yếu tố cơ bản, mỗi ThN và
TN bắt buộc phải có một yếu tố cơ bản (số ThN có trên 3 yếu tố cơ bản tương
đối hiếm) và các từ chức năng (đại từ, giới từ, liên từ, quán từ).
Trong cả hai ngôn ngữ đều xuất hiện ThN và TN gồm 2 (vồ ếch,
Lorbeeren ernten) đến trên 10 yếu tố (ăn như rồng cuốn, nói như rồng leo, làm
như mèo mửa, wer mir ein Schwein schenkt, dem geb’ ich gern eine Wurst),
trong đó lượng ThN và TN có 4 yếu tố xuất hiện nhiều hơn cả. Đặc biệt TN có
thể có tới 12 đến 13 yếu tố cấu thành, do TN có cấu tạo dạng câu và nhiều
trường hợp là câu phức, nên thường sẽ có xu hướng gồm nhiều yếu tố (lời nói
chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, ein Nachbar in der
Nähe ist besser als ein Bruder in der Ferne).
3.2. Ngữ âm
nấu ăn, bộ phận cơ thể (bụng/lòng, chân/đùi, phổi/lưỡi, bụng/dạ dày, đầu/lưng,
tay/ngón tay...): mò kim đáy/rốn bể, ăn thủng nồi trôi chõ/rế, miệng nam mô
bụng/lòng một bồ dao găm, sich die Lunge/Zunge aus dem Hals rennen, sich
den Bauch/Magen voll schlagen, den Kopf/den Buckel hinhalten, keine
Hand/keinen Finger rühren. Một tương đồng thú vị là trường hợp mồm/miệng,
thực chất cùng chỉ một bộ phận cơ thể nhưng trong các ThN lại thường thể hiện
các hành động khác nhau, tức là có sự phân biệt về qui chiếu (miệng: ăn, mồm:
nói). Một số ThN bao gồm cả hai yếu tố mồm và miệng có tính chất nhấn
mạnh: bịt mồm bịt miệng; giữ mồm giữ miệng; mồm năm, miệng mười. Trong
tiếng Đức cũng xuất hiện trường hợp tương tự với hai từ Mund và Maul: jmdm.
das Maul/den Mund stopfen. Một dạng biến thể khác là hiện tượng mở rộng số
lượng thành tố tham gia vào ThN, ví dụ như bằng một danh từ, động từ, tính từ
hoặc liên từ, cụm từ (chết như (ngả) rạ, um den (heißen) Brei herumreden)
hoặc đảo vị trí của các yếu tố cho nhau (bầm gan tím ruột / tím ruột bầm gan,
aussehen wie Milch und Blut/ wie Blut und Milch aussehen).
Thành tố tên riêng: Trong tiếng Đức và tiếng Việt đều có ThN và tục
ngữ mang yếu tố tên riêng. Trong các loại tên riêng thì tên chỉ người, đặc biệt
là tên gọi (Rufname), được ưa thích hơn cả: nói dối như Cuội, dem Peter
nehmen und dem Paul geben.
Thành tố là số từ: Trong tiếng Việt và tiếng Đức số 3 được sử dụng khá
nhiều. Trong tiếng Việt thường xuất hiện hai số từ trong một ThN trong đó có
một số 3: năm cha ba mẹ, ba mặt một lời, ba bảy hai mốt ngày.. Duden đưa ra
10 ThN có số 3 như aller guten Dinge sind drei, nicht bis drei zählen können...
Con số 3 từ xa xưa được coi như là một con số thiêng liêng, thần thánh trong
nhiều nền văn hoá, ví dụ 3 (Dreiheit) giai đoạn sống của con người, 3 thần
trong thần thoại Hy Lạp hoặc trong hệ thống biểu tượng số của Cơ đốc giáo
thời Trung cổ thì số 3 là biểu tượng của Chúa (die Drei Heiligen Könige). Ở
châu Á, số 3 (Triade) tượng trưng cho Trời, Đất và con người, hoặc Nho giáo,
3.5. Sắc thái biểu cảm
Trong tiếng Việt và tiếng Đức đều có những ThN và TN mang sắc thái
long
trọng
(gehoben),
trịnh
trọng
(formell/pathetisch),
khẩu
ngữ
(umgangssprachlich), khinh miệt (pejorativ/abwertend), thô tục hoặc tục tĩu
(derb, vulgär, salopp), vui đùa (scherzhaft). ThN mang sắc thái trịnh trọng: kính
lão đắc thọ, nur der Tod kann sie/uns trennen; ThN mang sắc thái khẩu ngữ,
nhóm này trong tiếng Đức khá phổ biến: ăn cháo đá bát, etw. kriegt/bekommt
Beine; ThN mang sắc thái khinh miệt: ngu như chó, außen hui, innen pfui; ThN
mang sắc thái thô tục, tục tĩu: đầu chày đít thớt, không có chó bắt mèo ăn cứt,
tương tự trong tiếng Đức, riêng với từ Arsch Duden (2002) đã thống kê tới 45
thành ngữ, và tất cả đều được xác định là “thô tục”: sich etw. in den Arsch
stecken können, Zucker in den Arsch blasen...
4. Các khác biệt về mặt ngôn ngữ
4.1. Số lượng yếu tố
Sự khác biệt thứ nhất nằm ở số lượng các ThN và TN có 4 yếu tố cấu
4.4. Từ vựng và ngữ nghĩa
Khác biệt về số từ: Số 7 và số 9 (và số 10): Người Đức sử dụng số 7 để
tạo thành khá nhiều ThN và TN (13 ThN theo Duden và 5 TN theo Beyer),
trong khi đó số 9 không xuất hiện trong các TN và chỉ xuất hiện trong hai ThN.
Người Việt hay dùng số 9 và số 10, Nguyên Lân (2008) và Vũ Dung (1995)
thống kê tới 14 ThN và TN có số 9 trong khi đó số 7 chỉ xuất hiện ở 3 ThN.
Phóng đại bằng số từ: Trong các ThN tiếng Việt chúng ta thường dùng
số từ để nhân lên gấp nhiều lần một thuộc tính, đặc điểm, hiện tượng nhằm mục
đích làm nổi bật bản chất của đối tượng cần miêu tả, gây ấn tượng mạnh mẽ:
Trăm cay ngàn đắng, trăm kẻ bán, vạn người mua. Tiếng Đức cũng có hiện
tượng này, tuy nhiên các con số thường dùng là hai và ba, các con số lớn như
trăm, nghìn, vạn ít xuất hiện.
Yếu tố chữ cái trong ThN và TN: Trong tiếng Đức có khá nhiều ThN và
hai TN gồm yếu tố là các chữ cái: das A und O, Vitamin B, trong các từ điển
tiếng Việt không thấy xuất hiện ThN và TN có yếu tố tên riêng.
KẾT LUẬN
Bên cạnh đối chiếu thành ngữ và tục ngữ trên bình diện ngôn ngữ thì
việc nghiên cứu những đặc điểm tương đồng và dị biệt về mặt văn hoá cũng
đặc biệt quan trọng. Những kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong các giờ
dạy và học tiếng Đức để rèn luyện và nâng cao năng lực sử dụng thành ngữ và
tục ngữ của sinh viên. Ngoài ra có một số vấn đề chúng tôi đã đặt ra nhưng
chưa giải quyết được, ví dụ: 1) Xác định mức độ thông dụng của thành ngữ và
tục ngữ nhờ những phần mềm máy tính, tương tự như những phần mềm bằng
tiếng Đức, 2) Đối chiếu thành ngữ và tục ngữ trên bình diện sắc thái biểu cảm
và tu từ, 3) Đối chiếu các thành ngữ và tục ngữ có yếu tố là bộ phận cơ thể con
người hoặc động vật hoặc thực vật. Những câu hỏi hoặc vấn đề này rất cần
được tiếp tục nghiên cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
dụng trong tiếng Việt và tiếng Pháp (xét trên bình diện ngôn ngữ và văn
hoá), Đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội
9. Nguyễn Văn Hằng (1999), Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện
đại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
10. Hoàng Văn Hành (2008), Thành ngữ học tiếng Việt, NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
11. Ngô Minh Thuỷ (2005), Đặc điểm của thành ngữ tiếng Nhật (trong sự
liên hệ với thành ngữ tiếng Việt) , Luận án tiến sĩ, Hà Nội
12. Hoàng Tất Trường (2007), Nghiên cứu đối chiếu các đặc điểm ngôn ngữ
và văn hoá của 500 thành ngữ - tục ngữ thông dụng trong tiếng Việt và
tương đương trong tiếng Anh, Đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội.
Tài liệu tiếng Đức
13. Burger, H. (2003): Phraseologie. Eine Einführung am Beispiel des
Deutschen, Berlin: Erich Schmidt Verlag.
14. Donalies, E. (2009): Basiswissen Deutsche Phraseologie. Tübingen und
Basel: A. Francke Verlag.
15. Fleischer, W. (1997): Phraseologie der deutschen Gegenwartssprache,
Tübingen: narr studienbücher.
16. Nguyen
Van
syntaktischen
Menh
(1985):