Đặc điểm ngôn ngữ trong kháng cáo hàng hải bằng tiếnganh (tt) - Pdf 45

VIỆN HẦN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Hoàng Thị Thu Hà

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG
KHÁNG CÁO HÀNG HẢI BẰNG TIẾNG ANH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62.22.02.40

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. Mai Xuân Huy
2. TS. Phạm Đăng Bình
Phản biện 1: GS. TS. Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: PGS. TS. Phạm Hùng Việt
Phản biện 3: PGS. TS. Lê Hùng Tiến

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm
Khoa học Xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
Hà Nội.

khắc phục sự cố, tai nạn.
Kĩ năng viết một văn bản Kháng cáo hàng hải là một kĩ năng
vô cùng quan trọng đối với thuyền trưởng. Hiện nay, vì ngành hàng
hải chưa có quy định về cách viết Kháng cáo hàng hải, đồng thời, do
trình độ tiếng Anh của các thuyền trưởng còn hạn chế, nên việc viết
Kháng cáo hàng hải khi tai nạn xảy ra đối với thuyền trưởng người
Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các
đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản Kháng cáo hàng hải bằng tiếng
Anh giúp cho công tác đào tạo thuyền trưởng là cấp thiết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Từ quan điểm phân tích diễn ngôn, luận án xác định các đặc
điểm ngôn ngữ trong Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận ánlà: (1) Tìm hiểu về văn bản
Kháng cáo hàng hải (2) Khảo sát các phương tiện ngôn ngữ trong
Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh: các lớp từ vựng, các cấu trúc
ngữ pháp, cách tổ chức văn bản.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một số phương tiện ngôn ngữ cơ bản
nhất trong Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh đó là: các lớp từ
vựng, các cấu trúc ngữ pháp chuyên dụng và cấu trúc văn bản của
Kháng cáo hàng hải bằng tiếng Anh.
Ngữ liệu phục vụ cho nghiên cứu là 17 văn bản Kháng cáo
hàng hải bằng tiếng Anh do các thuyền trưởng Việt Nam và nước
1


ngoài lập từ năm 2010 đến 2015 tại Cảng vụ Hải Phòng. Những
Kháng cáo hàng hải này có độ dài khá tương đương nhau, bản dài
nhất có 372 từ, bản ngắn nhất có 165 từ. Vì lý do bảo mật nên những
thông tin về tên tàu, tên thuyền trưởng v.v… đã được xóa.


6.2. Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được s dụng làm tài
liệu tham khảo cho việc xây dựng giáo trình và công tác dạy - học
tiếng Anh chuyên ngành trong các trường đào tạo nghiệp vụ hàng
hải.
7. Cơ cấu của luận án
Luận án gồm bốn chương sau đây:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Đặc điểm từ vựng và ngữ pháp trong Kháng cáo
hàng hải
Chương 4: Đặc điểm về liên kết, mạch lạc và cấu trúc văn bản
của Kháng cáo hàng hải
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Kháng cáo hàng hải trên thế giới
Giai đoạn trước những năm 70 của thế kỷ trước đã có nhiều
những nghiên cứu sâu hơn về ngôn ngữ học pháp luật. Đại diện cho
giai đoạn này là David Mellinkoff [75]. Cuốn sách "Ngôn ngữ pháp
luật" của ông đặt mốc quan trọng trong lịch s nghiên cứu ngôn ngữ
và pháp luật Anh. Ngoài ra, các nghiên cứu về bản chất phức tạp của
văn bản pháp luật có thể thấy ở các nghiên cứu của Allen [31], Hager
[55], Christie [41], Mehler [74], Probert [85], O'Barr và Conley [80]
và Platt [83]. Vấn đề nâng cao hiệu quả giao tiếp ngôn ngữ trong lĩnh
vực pháp luật có thể được tìm thấy trong các nghiên cứu khác của
Redish và Janice [87], Renton [88], Robinson [91], Sales, Elwork và
Alfini [93], Wright [114,115].
Các nghiên cứu sau những năm 70 của thế kỷ trước cho đến
nay đã tập trung vào việc lý giải về hình thức phức tạp của ngôn ngữ
pháp luật. Tiêu biểu là các công trình của Bhatia [36, 37] và Swales

các nghiên cứu về phong cách học tiếng Việt đều xếp các văn bản
pháp luật vào phong cách hành chính (Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù
Đình Tú [4], Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa [17]). Các tác giả
trên cho rằng chức năng ngôn ngữ của phong cách hành chính được

4


hiện thực hóa qua hai chức năng chính là giao tiếp lý trí (thông báo)
và chức năng ý chí (sai khiến).
Các nghiên cứu về văn bản pháp luật tiếng Việt còn có các
tài liệu viết về soạn thảo văn bản quản lý nhà nước của các nhà
nghiên cứu như Nguyễn Đăng Dung và Hoàng Trọng Phiến [7],
Vương Đình Quyền và Nguyễn Văn Hàm [19], Nguyễn Văn Thâm
[23]. Những nhà nghiên cứu này xếp văn bản pháp luật thuộc loại
văn bản quản lý nhà nước và đã chỉ ra những đặc thù của loại văn
bản này.
Ngoài ra, ngôn ngữ pháp luật còn được nghiên cứu trong các
luận án tiến sĩ ngữ văn. Luận án tiêu biểu nhất nghiên cứu về ngôn
ngữ pháp luật là “Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng
Việt” của tác giả Lê Hùng Tiến [26]. Tác giả Dương Thị Hiền [10]
trong luận án "Phân tích ngôn ngữ văn bản pháp luật qua văn bản
hiến pháp Hoa Kỳ và hiến pháp Việt nam" đã phân tích đặc điểm
chức năng ngôn ngữ của văn bản pháp luật tiếng Việt và tiếng Anh,
những n t tương đồng và khác biệt chính giữa các văn bản này, điển
hình là trong văn bản hiến pháp Hoa Kỳ và hiến pháp Việt nam.
Ở Việt nam, KCHH hầu như chưa được quan tâm và mới chỉ
được nghiên cứu từ góc độ luật học. Kỹ sư Nguyễn Tường Luân [69]
trong cuốn sách “Ship's Correspondence” có sưu tầm và dịch một số
mẫu KCHH. Trong "Sổ tay Hàng hải", tác giả Tiếu Văn Kinh [16] có

của thông điệp bằng ngôn ngữ, người ta có thể hiểu tình huống, ngữ
cảnh và bản thân những người trao đổi lời với nhau tự thể hiện mình.
[2:19].
Ngôn ngữ có chức năng giao tiếp. Trong quá trình giao tiếp,
ngôn ngữ có hai chức năng chính: chức năng giao dịch và chức năng
liên nhân.
2.1.2. Mô hình giao tiếp
2.1.2.1. Mô hình giao tiếp coi trọng sự tạo lập văn bản
Mô hình giao tiếp coi trọng văn bản tập trung chú ý vào việc
xây dựng văn bản thế nào cho có hiệu quả giao tiếp cao nhất. Loại
mô hình giao tiếp này bao gồm mô hình các yếu tố và chức năng
trong giao tiếp và mô hình tự điều chỉnh [2:27].

6


2.1.2.2. Mô hình giao tiếp coi trọng sự trao đổi
Trong giao tiếp, hiệu quả của sự trao đổi lời được phản ánh
trong những mô hình giao tiếp khác nhau: mô hình tuyến tính giản
đơn, mô hình đối thoại.
2.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN BẢN HÀNH CHÍNH
2.2.1. Khái niệm về văn bản hành chính
2.2.1.1. Khái niệm văn bản
Trong luận án này, chúng tôi dựa theo định nghĩa về văn bản
trong cuốn Bách khoa thư ngôn ngữ và ngôn ngữ học. "1. Một quãng
viết hay một phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề tài - chủ
đề… của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như một truyện kể, một
bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…2. Văn học. Trước hết
được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách. […] 3.
Trong Phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ

văn bản hành chính phải được trình bày đúng thể thức quy định.
2.2.2.1. Đặc điểm về phong cách
a. Phong cách ngôn ngữ
Theo tiêu chí chức năng ngôn ngữ, phong cách ngôn ngữ
được chia thành sáu phong cách cơ bản là (1) phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt, (2) phong cách ngôn ngữ khoa học, (3) phong cách ngôn
ngữ báo chí, (4) phong cách ngôn ngữ chính luận, (5) phong cách
ngôn ngữ hành chính, và (6) phong cách ngôn ngữ văn chương.
b. Phong cách ngôn ngữ hành chính
Vũ Thị Sao Chi [6: 41] trong đề tài nghiên cứu khoa học của
mình cho rằng “phong cách ngôn ngữ hành chính là phong cách ngôn
ngữ gọt giũa được dùng trong phạm vi giao tiếp thuộc lĩnh vực công
tác quản lý, tổ chức, điều hành, giao dịch của các cơ quan, đoàn thể,
hiệp hội, tổ chức, công dân, ... trên cơ sở pháp lý (theo nguyên tắc
pháp lý).”
Ngôn ngữ hành chính có những đặc điểm, tính chất nổi bật là
tính chính xác, tường minh; tính khuôn mẫu, tính khách quan, lí trí;
tính trang trọng, lịch sự; và tính phổ thông đại chúng.
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGÔN NGỮ HỌC VĂN BẢN
2.3.1. Liên kết, mạch lạc và cấu trúc của văn bản
2.3.1.1. Liên kết
Trần Ngọc Thêm [25] quan niệm liên kết là khái niệm thuộc
về cấu trúc của văn bản, được khai thác trên cả hai phương diện hình
8


thức lẫn mặt ý nghĩa. Liên kết gồm liên kết hình thức và liên kết nội
dung. Liên kết nội dung gồm liên kết chủ đề và liên kết lô-gích. Hệ
thống liên kết của Trần Ngọc Thêm gồm mười ph p liên kết: lặp, đối,
thế đồng nghĩa, thế đại từ, liên tưởng, tuyến tính, tỉnh lược yếu, tỉnh


2.4. KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN KHÁNG CÁO HÀNG HẢI
2.4.1. Khái niệm Kháng cáo hàng hải
Bộ luật Hàng hải năm 2005 tại Điều 56, chương III của bộ
luật có quy định về Kháng cáo (kháng nghị) hàng hải như sau:
“Kháng nghị hàng hải là văn bản do thuyền trưởng lập, công
bố hoàn cảnh tàu biển gặp phải và những biện pháp thuyền trưởng đã
áp dụng để khắc phục hoàn cảnh đó, hạn chế tổn thất xảy ra, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ tàu và những người có liên quan.”
2.4.2. Mục đích viết Kháng cáo hàng hải
KCHH được lập ra là nhằm một mục đích giao tiếp đặc biệt:
chứng minh thuyền trưởng và thuyền viên đã mẫn cán hợp lý để bảo
vệ tàu và/hoặc hàng hóa, tạo lập quyền để bảo vệ lợi ích hợp pháp
cho thuyền trưởng, chủ tàu và những người liên quan khỏi trách
nhiệm đối với tổn thất và thiệt hại về hàng hoá, tàu, sinh mạng khi rủi
ro, sự cố xảy ra do hiểm họa của biển cả.
2.4.3. Đặc điểm ngôn ngữ cơ bản của Kháng cáo hàng hải
2.4.3.1. Đặc điểm phong cách
Vũ Thị Sao Chi [6:37-40] phân chia phong cách ngôn ngữ
thành 6 loại: (1) phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, (2) phong cách ngôn
ngữ khoa học, (3) phong cách ngôn ngữ báo chí, (4) phong cách ngôn
ngữ chính luận, (5) phong cách ngôn ngữ hành chính (6) phong cách
ngôn ngữ văn chương.
Theo cách phân loại phong cách ngôn ngữ của Vũ Thị Sao
Chi, KCHH thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính.
2.4.3.2. Đặc điểm thể loại
Trong luận án này, chúng tôi xếp KCHH vào tiểu thể loại
văn bản quy phạm pháp luật. KCHH, một loại văn bản quy phạm
pháp luật đặc biệt, được dùng với mục đích trình bày những tổn thất,
thiệt hại đối với tàu, hàng hóa trong một phiêu trình hàng hải cùng

Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG VÀ NGỮ PHÁP
TRONG KHÁNG CÁO HÀNG HẢI
3.1. GIỚI HẠN VẤN ĐỀ KHẢO SÁT
Để hoàn thành mục đích giao tiếp đặc biệt, KCHH phải s
dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc thù: các lớp từ vựng cùng các
phương tiện ngữ pháp. Những phương tiện từ vựng và ngữ pháp này
11


hoạt động theo một cơ chế riêng do mục đích giao tiếp đặc biệt như
đã nói quy định. Chỉ khi cơ chế hoạt động của các phương tiện từ
vựng, ngữ pháp cùng cơ chế ngầm ẩn quy định sự sắp xếp các đơn vị
ngôn ngữ trong KCHH được làm sáng tỏ thì các đặc điểm ngôn ngữ
cơ bản nhất của KCHH mới được định rõ.
Do tính chất của KCHH là văn bản nên các phân tích, nghiên
cứu văn bản trong chương này không đề cập đến tầng bậc âm vị.
3.2. ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG TRONG KHÁNG CÁO HÀNG HẢI
3.2.1. Mật độ từ vựng trong Kháng cáo hàng hải
KCHH - một "văn bản viết chuyên ngành hàng hải được xác
định bằng mật độ từ vựng cao [..]" [106:75]. LD trung bình của
KCHH là 66%, trong đó LD thấp nhất là 60%, cao nhất là 74%. Điều
đó đồng nghĩa với độ khó của KCHH là cao và đây chính là một n t
đặc thù của KCHH bằng tiếng Anh.
3.2.2. Đặc điểm về thuật ngữ sử dụng trong Kháng cáo hàng hải
3.2.2.1. Kháng cáo hàng hải gồm một hệ thống phức hợp thuật ngữ
hàng hải và từ bán chuyên môn pháp luật.
Thuật ngữ chuyên môn hàng hải luôn chính xác, hệ thống,
ngắn gọn, và súc tích. Những thuật ngữ này được s dụng để thông
tin liên lạc liên quan đến chuyên ngành hàng hải vốn rất hẹp, gây khó
khăn cho người đọc không thuộc cộng đồng diễn ngôn.

Rút gọn từ tuy không áp dụng với nhiều thuật ngữ hàng hải (6)
nhưng có số lần xuất hiện khá cao (42), trong đó từ có tần suất cao
nhất là hrs. (giờ).
3.2.3. Đặc điểm về từ tình thái trong Kháng cáo hàng hải
3.2.3.1. Vị từ tình thái
Đối với nghĩa tình thái cho ph p, vị từ tình thái được dùng chủ
yếu là may. Theo khảo sát của chúng tôi, vị từ tình thái may xuất
hiện 10 lần (59%) trong các KCHH, chủ yếu với cụm từ To whom it
may concern (G i các bên liên quan) xuất hiện 6 lần.
Khi nói đến quyền trong KCHH, vị từ tình thái Chức phận may
được s dụng trong phần tuyên bố kháng cáo. Trong biểu thức này,
thuyền trưởng công bố quyền của mình được bổ sung KCHH vào bất
cứ thời gian hay địa điểm nào thích hợp để có thể bảo vệ quyền lợi
của mình và các bên liên quan. Tuy nhiên, vì mang đặc thù là biểu
thức tuyên bố kháng cáo, động từ ngữ vi tuyên bố được chia ở thì

13


hiện tại đơn với ý nghĩa công bố quyền kháng cáo hay được s dụng
hơn.
3.2.3.2. Tổ hợp tình thái tính
Tổ hợp tình thái tính là các kết hợp từ mang nghĩa tình thái
như có bổn phận, có nghĩa vụ, có trách nhiệm mang nghĩa bắt buộc,
có quyền mang nghĩa cho ph p. Khi diễn tả nghĩa vụ bắt buộc các
bên chịu trách nhiệm cho tổn thất, thiệt hại v.v…, cụm tổ hợp tình
thái tính hold … responsible for hay hold … liable for (buộc … chịu
trách nhiệm) được s dụng. Ngoài ra, khi diễn tả quyền trong KCHH,
cụm từ reserve the right (dành quyền) được s dụng với tần suất dày
đặc trong biểu thức tuyên bố kháng cáo. Trong 17 KCHH, cụm từ

biến rủi ro trong phiêu trình hàng hải. Số lượng các câu có mô hình
C-V-T là nhiều nhất (19 câu) vì kiểu câu đơn có mô hình cú này giúp
KCHH miêu tả chính xác và rõ ràng về diễn biến sự cố.
Về mô hình câu phức, chủ yếu là sự xuất hiện của cú biến vị.
Thống kê 17 KCHH cho thấy, tần suất của cú biến vị là 61 (65,5%).
Kết quả khảo sát về số lượng cú không biến vị là 31(chiếm 33,3%).
Riêng cú khuyết động từ chỉ xuất hiện 1 lần (chiếm 0,2%).
3.3.1.2. Đặc điểm về độ dài của câu trong Kháng cáo hàng hải
Một đặc điểm dễ nhận thấy khi xem x t các đặc điểm của
văn bản pháp luật là lượng từ vựng nhiều bất thường trong các đơn vị
câu. Các câu (kể cả câu đơn, câu phức) đều được k o dài với nhiều
cụm từ, ngữ, mệnh đề xen làm độ lớn của chúng, tính về số lượng từ,
trở nên bất thường so với các loại văn bản khác. Điều này không phải
là ngoại lệ đối với KCHH. Theo khảo sát của chúng tôi, nhiều câu
trong KCHH dài hơn 25 từ - mốc được cho là câu khó hiểu với người
đọc. Thậm chí có những câu rất dài, số từ trong câu nhiều trường hợp
lên đến gần 100 từ. Biện pháp liệt kê chính là một yếu tố làm cho câu
văn trong KCHH có độ dài bất thường.
3.3.1.3. Đặc điểm về dấu câu trong Kháng cáo hàng hải
Trong KCHH chủ yếu s dụng 3 dấu là: dấu chấm, dấu phảy,
và dấu hai chấm. Trong đó, dấu phảy là dấu câu được s dụng nhiều
nhất. Dấu phảy được dùng trong KCHH với các chức năng cơ bản là
liệt kê và phân biệt giữa khung đề với các thành phần còn lại. Dấu
hai chấm được dùng chủ yếu để liệt kê trong KCHH.
3.3.2. Các kiểu câu đặc trƣng xét theo mục đích phát ngôn
3.3.2.1. Câu trần thuật
Câu trần thuật được dùng nhiều trong phần Giới thiệu nhân
thân của KCHH để thuyền trưởng đưa ra những thông tin quan trọng
về tàu và hành trình.


làm nên tính hành thực cho KCHH.

17


Chƣơng 4: ĐẶC ĐIỂM VỀ LIÊN KẾT, MẠCH LẠC VÀ
CẤU TRÚC VĂN BẢN CỦA KHÁNG CÁO HÀNG HẢI
4.1. GIỚI HẠN VẤN ĐỀ KHẢO SÁT
Văn bản KCHH có một cấu trúc văn bản hoàn chỉnh, bố cục
chặt chẽ với các phần được sắp xếp theo trình tự hợp lí, lô-gích. Mỗi
phần trong văn bản KCHH có chức năng riêng, được diễn đạt bằng
các phương tiện ngôn ngữ riêng, đảm bảo tính liên kết, tính thống
nhất, và sự mạch lạc của nội dung văn bản. Chính vì vậy, khi nghiên
cứu văn bản KCHH không thể không nghiên cứu các phương tiện
văn bản đặc thù như liên kết, mạch lạc và cấu trúc văn bản trong
KCHH.
4.2. ĐẶC ĐIỂM VỀ LIÊN KẾT TRONG KHÁNG CÁO HÀNG HẢI
4.2.1. Quy chiếu
Trong KCHH, hồi chiếu là một phương tiện liên kết nổi bật.
Những từ ngữ cổ như same và said có vai trò là từ chỉ định và được
s dụng thường xuyên trong KCHH để diễn đạt khái niệm cái này,
cái cụ thể này, cái đang có liên quan.
4.2.2.Tỉnh lƣợc
Loại tỉnh lược trong câu (intrasentential ellipsis) khá phổ
biến trong các văn bản pháp luật viết: đó là sự lược bỏ mệnh đề tính
ngữ rút gọn. Trong KCHH bằng tiếng Anh, tỉnh lược mệnh đề tính
ngữ rút gọn xuất hiện thường xuyên.
Đối với các mệnh đề bị động, cụm phân từ quá khứ được s
dụng với tần suất cao hơn nhiều. Qua khảo sát 17 KCHH, hiện tượng
tỉnh lược rút gọn mệnh đề quan hệ xuất hiện trong tất cả các KCHH

(3) Phối hợp cụm tính từ (Adjectival collocation)
Một số ít phối hợp cụm tính từ xuất hiện trong biểu thức trần
thuật là cụm tính từ chỉ thời tiết xấu gây thiệt hại, tổn thất cho tàu và
hàng hóa là bad/heavy/ boisterous weather (thời tiết xấu), rough sea
(biển động) hay heavy swell (sóng lừng dữ dội).
Phối hợp cụm tính từ được xuất hiện dày đặc trong biểu thức
tuyên bố kháng cáo là later time/ date/place (thời gian và địa điểm
sau này)
(4) Phối hợp cụm giới từ (Prepositional collocation)

19


Một đặc trưng của KCHH là việc s dụng một loại phối hợp
cụm giới từ đặc biệt: giới ngữ phức. Lý do là các giới từ đơn thường
làm cho các văn bản pháp luật có tính mơ hồ và thiếu minh xác.
Trong KCHH bằng tiếng Anh, các giới ngữ phức hay được dùng là in
accordance with (theo), on behalf of (thay mặt cho), in relation to
(liên quan đến), in prevention of (phòng tránh) v.v…
4.3. ĐẶC ĐIỂM VỀ MẠCH LẠC TRONG KHÁNG CÁO HÀNG HẢI
4.3.1. Liên kết chủ đề trong Kháng cáo hàng hải
4.3.1.1. Lặp từ vựng
Liên kết chủ đề thể hiện trong việc duy trì chủ đề và triển
khai chủ đề. Để bảo đảm cho KCHH có tính liên kết chủ đề thì biện
pháp được s dụng nhiều nhất là lặp. Phương thức lặp từ vựng đã
làm cho cấu trúc câu trong KCHH được chính xác, đối tượng được
chỉ ra một cách trực tiếp, rõ ràng.
4.3.1.2. Từ khóa
Từ khóa có thể là những khuôn mẫu được dùng nhiều lần,
biến đổi có giới hạn, có chức năng chung để diễn đạt mạch lạc của

Những từ này thường là những từ cổ hoặc từ vay mượn từ tiếng
Pháp, có chức năng tạo mạch lạc cho KCHH.
Trong số những từ ngữ chuyên dùng này thì tần suất từ
hereby là nhiều nhất - 15 lần trong 17 KCHH. Điều đó là do KCHH
với mục đích giao tiếp đặc biệt mang đặc trưng của hành vi ngôn
ngữ. Tính hành thực trong KCHH được thể hiện rõ qua câu ngữ vi và
đặc biệt là động từ ngữ vi. Một trong những đặc điểm dễ nhận thấy
của những động từ ngữ vi trong KCHH (declare/tender/file/note…) là
đi với từ hereby. Chính từ này đã liên kết chặt chẽ các phát ngôn
trong KCHH, tạo tính mạch lạc cho KCHH.
4.3.2.2.Phép tuyến tính
Tính mạch lạc của KCHH còn được thể hiện trong việc sự
kiện, đối tượng nói đến trong KCHH được sắp xếp theo một trình tự
hợp lí, hướng tới chủ đề chung của cả KCHH: tuyên bố kháng cáo.
Để tuyên bố kháng cáo thuyền trưởng bao giờ cũng phải qua các
bước (1) Giới thiệu nhân thân; (2) Nêu diễn biến sự cố, rủi ro; (3)
Tuyên bố kháng cáo. Rõ ràng là để hướng đến chủ đề chung là tuyên
bố kháng cáo, các câu trong KCHH đều được thuyền trưởng ghi ra
theo một trật tự thời gian lô-gích. Chính ph p tuyến tính này là
phương pháp hữu hiệu tạo mạch lạc cho KCHH.
21


4.4. ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TRÚC VĂN BẢN CỦA KHÁNG CÁO
HÀNG HẢI
Như đã trình bày trong chuơng 2, Diệp Quang Ban chia văn
bản thành hai loại: loại có khuôn hình cố định cứng nhắc và loại có
khuôn hình linh hoạt. Kháng cáo hàng hải là loại văn bản có khuôn
hình cố định cứng nhắc. Tất cả các KCHH đều có cấu trúc văn bản
gồm các phần mở đầu - nội dung chính - kết thúc gắn với những chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status