1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trên đường xây dựng một nhà nước hiện đại, công nghiệp hóa,
Chính phủ nhận thấy cần phải tiến hành đổi mới cả khu vực kinh tế nhà nước và tư
nhân nhằm xây dựng một nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập hơn với nền kinh
tế thế giới . Nếu Việt Nam muốn cạnh tranh một cách hiệu quả trong quá trình toàn
cầu hóa và trong Cộng đồng ASEAN thì ngày càng phải hài hòa hơn nữa với thế
giới và khu vực. Trong bối cảnh đó, việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế trong
cả khu vực kinh tế tư nhân và nhà nước là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng
một nền kinh tế mở. Chuẩn mực kế toán sẽ giúp cải thiện chất lượng, độ tin cậy và
mức độ tương thích của thông tin tài chính qua các báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính là một bộ phận không thể thiếu trong công cụ quản lý, là bộ
phận cấu thành của Hệ thống kế toán Nhà nước với chức năng hệ thống thông tin
toàn diện, liên tục về tình hình tiếp nhận và kiểm soát chi các nguồn kinh phí, quỹ,
tài sản công ở các đơn vị sử dụng kinh phí Nhà nước. Báo cáo tài chính, báo cáo
quyết toán ngân sách dùng để tổng hợp tình hình về tài sản, tiếp nhận và sử dụng
kinh phí ngân sách của Nhà nước; tình hình thu, chi và kết quả hoạt động của đơn vị
hành chính sự nghiệp trong kỳ kế toán, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu
cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị, là căn cứ quan trọng giúp cơ
quan nhà nước, lãnh đạo đơn vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của đơn vị.
Việt Nam là một Quốc gia đang phát triển, để tận dụng sự giúp đỡ của các
Quốc gia và các tổ chức Quốc tế khác tài trợ cho Việt Nam cũng như đầu tư vào
việc nam thì báo cáo tài chính công của Việt Nam càng phải minh bạch, rỏ ràng,
tiếp cận với các chuẩn mực Quốc tế.
Tuy nhiên trong các đơn vị sự nghiệp công nói chung và các Trung tâm Dịch
vụ việc làm khu vực miền Đông Nam bộ nói riêng, thì việc lập báo cáo tài chính
nhiều khi còn mang tính hình thức, chưa tiếp cận được với các chuẩn mực của kế
phải thiết lập và thực hiện các chính sách công và thực hiện việc cải cách kế toán
công. Vì thế giá trị về phương diện xã hội của việc cải cách kế toán nhà nước sẽ
góp phần vào mục tiêu phát triển chung và bao gồm kể cả việc giảm nghèo của
quốc gia. Ngoài ra bài này còn nhấn mạnh đến việc đảm bảo sự trung thực tài chính
và quá trình vận dụng IPSAS để cải cách kế toán chính phủ hiệu quả hơn đối với
3
các quốc gia đang
2.2. Các công trình trong nước
Bên cạnh những nghiên cứu của nước ngoài tác giả cũng giới thiệu thêm một
số nghiên cứu trong trong nước bao gồm:
(1) Tài liệu Hội thảo: "Định hướng và lộ trình áp dụng chuẩn mực kế toán
công quốc tế vào Việt Nam". Do Bộ Tài chính và Ngân hàng thế giới tổ chức Hà
Nội ngày 23.4.2007, và tài liệu Hội thảo "Về hệ thống chuẩn mực kế toán công
quốc tế và lộ trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam". Do Bộ
Tài chính tổ chức tại Hà Nội, ngày 6.2.2011. Với mục tiêu của 2 hội thảo này là
nghiên cứu, xây dựng, ban hành và công bố hệ thống chuẩn mực kế toán công áp
dụng tại Việt Nam trên cơ sở chuẩn mực kế toán công quốc tế. Hệ thống chuẩn
mực kế toán công phải đảm bảo yêu cầu hội nhập kinh tế của đất nước, đồng bộ
với việc cải cách, đổi mới chính sách quản lý kinh tế, chính sách quản lý tài chính
công Việt Nam. Là cơ sở để cung cấp thông tin tài chính kịp thời, trung thực
nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả, tính công khai minh bạch trong quản lý các
nguồn lực của Chính phủ. Đến năm 2020, các chuẩn mực kế toán công chủ yếu
phải được nghiên cứu, xây dựng, ban hành và công bố áp dụng tại Việt Nam.
(2) Nguyễn Chí Hiếu (2010), “Thiết lập hệ thống tài khoản và báo cáo tài
chính trong điều kiện áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế vào đơn vị hành
chính sự nghiệp tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ . Trường Đại Học Kinh Tế thành
phố Hồ Chí Minh. Bằng việc vận dụng bộ chuẩn mực kế toán công quốc tế, đề tài
quốc tế này.
Ngoài những nghiên cứu trên tác giả cũng tham khảo và nghiên cứu các quy
định hướng dẫn nằm trong các Bộ luật, Nghị định, Thông tư, văn bản pháp lý gồm:
- Luật kế toán số 03/2003/QH11
- Luật ngân sách 01/2002/QH11
- Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ
quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản
lý hành chính đối với cơ quan nhà nước.
- Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 04 năm 2006 của Chính phủ
quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy,
biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
5
- Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế
tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
- Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30 tháng 03 năm 2006 của Bộ Tài
chính về việc ban hành chế độ kế toán hành chính sự nghiệp.
- Thông tư 185/2010/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Bộ Tài chính
về việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Quyết
định 19/2006/QĐ-BTC.
Có thể nói tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy hầu hết các công trình
khoa học đã có nghiên cứu đến hệ thống báo cáo tài chính khu vực công cũng như
chuẩn mực kế toán công quốc tế. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào tập trung: “Vận
dụng chuẩn mực kế toán công Quốc tế để hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính cho
các đơn vị sự nghiệp có thu tại các Trung tâm Dịch vụ việc làm khu vực miền Đông
Nam bộ”. Và đây chính là lỗ hổng mà đề tài cần nghiên cứu để đạt được.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung của đề tài Phân tích hệ thống báo cáo tài chính theo hướng
5. Phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng
Đề tài đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính vào các phần khác nhau
trong đề tài. Cụ thể sử dụng một số phương pháp sau đây:
* Phương pháp phân tích thống kê: tác giả sẽ thu thập các báo cáo tài chính
được lập bởi các cơ quan hành chính sự nghiệp. Tác giả nghiên cứu đánh giá thực
trạng về việc lập báo cáo tài chính hiện nay.
* Phương pháp phân tích để thấy điểm bất hợp lý trong các hệ thống báo cáo
tài chính của các Trung tâm Dịch vụ việc làm khu vực miền Đông Nam bộ hiện nay
* Phương pháp tổng hợp được sử dụng để nhằm thống nhất, bao quát và tổng
quát hóa toàn bộ các vấn đề đã rút ra trong quá trình nghiên cứu từ cơ sở lý thuyết,
quá trình vận dụng và những bài học kinh nghiệm từ việc áp dụng trên thực tế.
Phương pháp này được thực hiện sau khi đã tiến hành điều tra, khảo sát và phân
tích.
* Phương pháp điều tra, khảo sát: phương pháp nghiên cứu này được sử dụng
để tiến hành điều tra một vấn đề nghiên cứu trên thực tế, bao gồm thực hiện công
tác điều tra tại những đối tượng hoặc tiến hành khảo sát cụ thể tại những khu vực,
đơn vị có thực hiện vấn đề đang nghiên cứu để giải quyết câu hỏi nghiên cứu được
7
đặt ra trong quá trình thực hiện một đề tài hay dự án nghiên cứu. Phương pháp điều
tra thường được thực hiện qua việc chọn mẫu để tiến hành khảo sát vì điều tra
thống kê là phương pháp thu thập thông tin cần thiết về hiện tượng nghiên cứu
nhằm làm cơ sở cho việc tổng hợp và phân tích các hiện tượng cần nghiên cứu.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, các danh mục, phụ lục, tài liệu tham khảo, đề tài nghiên
cứu được thực hiện với kết cấu gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan về báo cáo tài chính và chuẩn mực kế toán công
quốc tế
tin tài chính cho các nước đó. Mặc dù hệ thống kinh tế và chính trị có những điểm
khác biệt nhau thì các nước khác vẫn đang cố gắng tạo những điều kiện để có thể
hòa hợp giữa các chuẩn mực quốc gia hiện hành với hệ thống IPSAS. Vì vậy,
IPSAS được xem là một nhân tố hình thành mang tính khách quan và tất yếu nhằm
để đánh giá được quá trình thực hiện kế toán đối với các đơn vị thuộc khu vực công
tại các quốc gia trên thế giới hiện nay. Chính vì vậy nên IPSAS xứng đáng được
xem là một hệ thống chuẩn mực có độ tin cậy cao và là điểm đến của các nhà làm
9
luật, các nhà làm chính sách công cũng như các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh
vực kế toán hiện nay.
Trước đây, các quốc gia nói chung và các tổ chức công nói riêng đã áp dụng
những hướng dẫn, chuẩn mực khác nhau trong việc ghi chép trong hệ thống kế toán
của mình. Tuy nhiên, điều này đã tạo ra sự không nhất quán và việc ghi nhận
nghiệp vụ hay lập các báo cáo cũng có những điểm không đồng bộ. Được thiết kế
để sử dụng trong việc lập BCTC dựa theo mục đích thống nhất, IPSAS đã thiết lập
các hướng dẫn mang tính thống nhất về kế toán áp dụng tại các tổ chức công.
Các chuẩn mực này cho phép có thể so sánh dữ liệu giữa các tổ chức và cải
thiện tính minh bạch của thông tin về tài chính, kế toán. Nhiều quốc gia trên thế
giới đã công bố việc sử dụng IPSAS của quốc gia mình hoặc hệ thống chuẩn mực
có tính chất tương tự, đồng thời ngày càng có nhiều kế hoạch để áp dụng IPSAS ở
các quốc gia khác nhau trong thời gian sắp tới.
Dựa trên IPSAS thì nhiều chuẩn mực khác nhau trong khu vực công đã phát
triển. Một số chuẩn mực được thành lập ở cấp độ quốc gia, với các nước đang phát
triển thì thiết lập bộ tiêu chuẩn của riêng của họ. Chẳng hạn có ba Ủy ban sau đây
hoạt động tại Mỹ gồm: Ủy ban chuẩn mực kế toán chính phủ (GASB), Ủy ban tư
vấn chuẩn mực kế toán liên bang (FASAB) và văn phòng hội nhập hệ thống tài
chính (FSIO), tiền thân của chương trình cải tiến quản trị tài chính liên kết –
các quốc gia trên thế giới. Điều này sẽ mang lại sự minh bạch hơn trong chế độ tài
chính công của một nước thông qua ghi chép, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế theo
đúng bản chất phát sinh hơn là thông qua hình thức giao dịch vì được ghi nhận theo
cơ sở dồn tích, qua đó có thể lập được toàn bộ báo cáo tài chính như các doanh
nghiệp trong khu vực tư nhân hiện nay.
Hơn thế nữa là việc áp dụng IPSAS cho quốc gia sẽ giúp gia tăng chất lượng
đối với thông tin tài chính mà các BCTC cung cấp cho người sử dụng vì tính đầy
đủ, tính so sánh được và tính thích hợp, đồng thời cũng tăng cường việc kiểm tra
chéo dữ liệu trên các báo cáo giữa các khu vực, các bang, các vùng miền khác nhau
trong cùng quốc gia hoặc giữa các nước với nhau, từ đó cải thiện sự minh bạch của
các chương trình mà nhà quản trị đang điều hành trong đơn vị.
Thông tin trình bày theo IPSAS sẽ tăng trách nhiệm và tính quản trị cho thủ
11
trưởng trong đơn vị. Đổi lại, khi áp dụng bộ chuẩn mực này sẽ giúp cho các tổ chức
đảm bảo rằng sẽ có thể đạt được những mục tiêu đã đề ra, duy trì tốt quá trình thực
hiện kế toán hiện hành và sẽ hỗ trợ việc sử dụng tài chính, các nguồn lực khác cũng
như nhân lực một cách hữu hiệu, hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, khi một quốc gia áp
dụng IPSAS này sẽ giúp báo cáo tài chính minh bạch về thông tin công bố, tạo ra
tính đáng tin cậy đối với báo cáo tài chính, qua đó giúp tăng cường sự chủ động của
các đơn vị công trong quá trình hoạt động của mình. Tóm lại, IPSAS được các
quốc gia sử dụng vì bộ chuẩn mực này mang lại một số lợi ích và tính hữu ích sau:
- Cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và gia tăng sự hiểu biết hơn về tài sản,
nợ phải trả cũng như các nguồn lực sẵn có trong tổ chức.
- Thông tin tài chính tổng hợp hơn sẽ cung cấp sự đánh giá chính xác về tính
phù hợp của tài chính trong đơn vị, qua đó có các quyết định phù hợp hơn.
- Gia tăng sự minh bạch từ việc áp dụng IPSAS sẽ cho phép có các quyết định
tốt hơn và quản lý tài sản chắc chắn hơn và hỗ trợ cho quản trị theo kết quả công
tổ chức đã áp dụng được quy định trình bày báo cáo tài chính theo quy định chung.
Để đáp ứng được quy định của sự tuân thủ thì một tổ chức thống nhất trong quá
trình trình bày thông tin của các giao dịch, các sự kiện khác và các điều kiện theo
quy định phù hợp với các yêu cầu đặt ra trong IPSAS. Trong quá trình kiểm toán
hàng năm, các kiểm toán viên phải xác định rằng kế toán và quy định thực hành về
báo cáo của tổ chức đã được thực hiện theo các yêu cầu nêu ra trong chuẩn mực của
IPSAS.
1.2. Cơ sở lý luận về hệ thống BCTC theo chuẩn mực kế toán công quốc tế
1.2.1. Khái niệm
“Báo cáo tài chính (BCTC) là một bộ phận trong hệ thống báo cáo kế toán của
đơn vị kế toán trong khu vực công, được thiết lập nhằm cung cấp thông tin kinh tế tài chính hữu ích cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin về đơn vị báo cáo
để đưa ra các quyết định kinh tế - tài chính thích hợp”. Một bộ báo cáo tài chính có
chất lượng phải thể hiện được các đặc điểm chất lượng như tính có thể hiểu được,
tính thích hợp, tính đáng tin cậy và tính có thể so sánh được.
1.2.2. Mục đích của báo cáo tài chính khu vực công
Báo cáo tài chính của đơn vị nhà nước được lập nhằm mục đích cung cấp
thông tin kinh tế - tài chính hữu ích cho việc ra quyết định phù hợp với từng đơn vị.
13
Để thực hiện điều này, BCTC cần cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả
hoạt động và sự thay đổi của dòng tiền bên trong đơn vị. Những thông tin này có
thể giúp người đọc đánh giá kết quả hoạt động trong quá khứ, xác nhận tình hình
tài chính hiện tại và dự báo được sự thay đổi của dòng tiền trong tương lai của đơn
vị. Ngoài ra, báo cáo tài chính cũng cho thấy kết quả của việc quản lý cũng như
việc thực hiện trách nhiệm giải trình của nhà quản lý đối với các nguồn lực được
nhà nước ủy thác. Đây là cơ sở cho việc quyết định tiếp tục bổ nhiệm nhà quản lý
của cơ quan có thẩm quyền.
1.2.3. Yêu cầu của báo cáo tài chính khu vực công
hầu hết các quốc gia, khu vực lựa chọn áp dụng một cách rộng rãi vì tính ưu việt
của nó, do vậy nên để đáp ứng được sự hội nhập quốc tế hiện nay, song phương
cũng như đa phương thì việc hướng đến tiếp cận theo IPSAS này là việc được xem
là cần thiết và tất yếu.
* Phù hợp các tiêu chuẩn chất lƣợng đƣợc thừa nhận của các tổ chức
quốc tế
Chất lượng và độ tin cậy của các thông tin tài chính trên báo cáo tài chính sẽ
xác định tính hữu dụng của báo cáo tài chính đối với người sử dụng. Đặc biệt
những đối tượng sử dụng bên ngoài luôn cần những thông tin hữu ích có được từ
báo cáo tài chính, là cơ sở đáng tin cậy cho việc đưa ra các quyết định.
Theo IPSAS, căn cứ để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính là đánh giá
thông tin trên báo cáo tài chính thông qua các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng: tính
dễ hiểu, tính phù hợp, tính trọng yếu, tính trung thực, trình bày trung thực và hợp
lý, sự đúng đắn, tính trung lập, sự thận trọng, sự đầy đủ và tính có thể so sánh
được. Và bao gồm các đặc điểm chất lượng cơ bản sau:
- Tính dễ hiểu: thông tin đưa ra trong báo cáo tài chính phải dễ hiểu, để
người sử dụng có thể hiểu được ý nghĩa chung của báo cáo, đảm bảo cho người sử
dụng hiểu được các hoạt động của đơn vị và môi trường hoạt động của đơn vị.
- Tính phù hợp: các thông tin được xem là thích hợp khi giúp người sử dụng
đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại và tương lai, hoặc trong trường hợp khẳng
định hoặc điều chỉnh các đánh giá trong quá khứ. Thông tin phải được phản ánh cụ
thể theo thời gian để đảm bảo được tính thích hợp.
- Tính trung thực: là những thông tin tài chính không có các lỗi cơ bản hay
15
bị bóp méo và còn phụ thuộc vào người sử dụng để trình bày một cách trung thực
và hợp lý tình hình của đơn vị.
- Tính so sánh được: sẽ giúp cho người sử dụng có thể nhận ra sự tương tự
tính chất này. Nghiên cứu của Tổ chức kinh tế và phát triển OECD (2009) cho thấy
rằng 90% các quốc gia trên thế giới đã xác định rằng tính minh bạch như là một giá
trị dịch vụ công cốt lõi được nhấn mạnh trong những thập kỷ vừa qua. Các chuyên
gia cho rằng, khi thực hiện việc kiểm tra thông tin trong kế toán công, để thỏa mãn
tính minh bạch thì các tổ chức được đề nghị rằng phải làm sao cho các cơ quan có
thể thấy rõ mục đích của quá trình thực hiện và việc giám sát để đạt mục đích đó.
Do vậy, tính minh bạch trong kế toán công có thể kết luận rằng sẽ gắn liền với
3 thành phần và nó được gọi là PID (Process - Information - Decision), bao gồm:
(1) các quá trình mang tính mở và có thể hiểu được mà qua đó các cơ quan có thẩm
quyền ra quyết định; (2) bản thân các quyết định mà những điều này cần phải rõ
ràng và dựa trên những bằng chứng khách quan và (3) thông tin nào để dựa vào đó
ra quyết định và nó nên sẵn sàng được tiếp cận trong dữ liệu kế toán công.
Tính minh bạch trong khu vực công liên quan mật thiết đến 6 tính chất, bao
gồm: tính rõ ràng, sự đáng tin cậy, đúng thời điểm, mức độ thường xuyên và độ
thích hợp với các báo cáo tài chính cùng với tính mở đối với các quy trình đưa ra
quyết định về chính sách tài chính của chính phủ. Tính minh bạch chính là một
phương tiện quan trọng giúp cho chính phủ thực hiện các quyết định và làm luật
pháp có căn cứ đầy đủ để người dân có thể hiểu được một cách dễ dàng, mức cam
kết của dân chúng cũng như giúp họ cho những phản hồi khá thuyết phục về những
hoạt động mà chính phủ đã, đang và các chiến lược điều hành trong năm tài chính,
nhằm đạt được tính minh bạch qua 6 giai đoạn cụ thể theo một trình tự nhất định
như sau:
- Giới thiệu về tính minh bạch sẽ thực hiện: tùy theo tính chất, nội dung của
từng bộ phận, phòng ban thì sẽ có bối cảnh, định nghĩa rõ các nội dung trong tính
chất minh bạch khác nhau cần được đảm bảo nhằm mọi người đều hiểu được.
- Nhấn mạnh chiều hướng từ trên xuống: việc truyền thông từ cấp lãnh đạo
về tầm quan trọng của sự minh bạch trong tổ chức và nêu rõ lợi ích sẽ đạt được. Giá
trị của tính minh bạch cần được nêu rõ trong kế hoạch chiến lược, sứ mệnh và
nhiệm vụ cùng hệ thống quản trị chung.
đổi ngày báo cáo và báo cáo được lập với một kỳ kế toán dài hơn hoặc ngắn hơn
một năm thì đơn vị phải giải trình.
18
Thời hạn báo cáo: Thông tin trên BCTC sẽ giảm hữu ích nếu như chúng không
được sử dụng trong thời gian hợp lý sau ngày kết thúc kỳ kế toán. Do đó đơn vị cần
phải phát hành BCTC trong vòng 6 tháng, sau ngày kết thúc kỳ kế toán.
1.2.4.2 Cơ sở xây dựng
IPSAS 1 (ban hành tháng 5 năm 2000) "Trình bày báo cáo tài chính" được xây
dựng dựa trên chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) số 1 "Trình bày báo cáo tài chính".
Đặc biệt IPSAS 1 nhấn mạnh IPSAS này chỉ được áp dụng cho các báo cáo tài
chính lập trên cơ sở kế toán dồn tích, phù hợp với các chuẩn mực kế toán công
quốc tế. Và chỉ áp dụng cho các đơn vị thuộc lĩnh vực công, đặc biệt không áp dụng
cho các đơn vị kinh doanh bằng vốn nhà nước.
Các báo cáo tài chính phải tuân thủ các IPSAS, dựa trên cơ sở kế toán dồn
tích, cơ sở đánh giá được áp dụng đối với tài sản là phản ánh theo giá gốc và điều
chỉnh khi đánh giá lại tài sản. Ngoài ra báo cáo tài chính được lập trên cơ sở hoạt
động liên tục và chính sách kế toán được áp dụng ổn định trong suốt kỳ kế toán.
1.2.4.3. Hệ thống Báo cáo tài chính
* Báo cáo tình hình tài chính
Tài sản là tiền mặt hoặc các tài sản tương đương tiền. Tài sản ngắn hạn bao
gồm các khoản phải thu về thuế, phí sử dụng dịch vụ, tiền phạt và phí khác theo
quy định, các khoản thu nhập về hàng hóa và đầu tư được thu về, tiêu dùng hoặc
bán.
Tất cả các tài sản khác thì được phân loại vào tài sản dài hạn bao gồm tài
sản vô hình, tài sản hoạt động và tài sản tài chính sử dụng trong khoảng thời gian
dài.
Nợ ngắn hạn và dài hạn : Một khoản nợ là nợ ngắn hạn khi được dự tính
Bên cạnh đó đơn vị còn phải trình bày những thông tin sau trong báo cáo
kết quả hoạt động hoặc trong giải trình báo cáo tài chính
Vốn góp và phần đã phân phối cho chủ sở hữu - là những khoản chuyển
giao giữa hai đơn vị trong cùng một đơn vị kinh tế ví dụ: chi chuyển giao từ Chính
phủ cho một Bộ nào đó;
Số dư thặng dư hoặc thâm hụt lũy kế đầu kỳ và cuối kỳ kế toán, cũng như
sự thay đổi của nó trong kỳ kế toán; và
Trình bày riêng biệt các bộ phận của tài sản thuần/ vốn chủ sở hữu, đối
chiếu giá trị ghi sổ của mỗi bộ phận cấu thành tài sản thuần ở đầu kỳ, cuối kỳ, cũng
như sự biến động của mỗi bộ phận đó trong kỳ kế toán.
* Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cần phải báo cáo các luồng tiền trong kỳ được
phân loại theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
Hoạt động kinh doanh:
22
Đơn vị có hai phương pháp để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh
doanh: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp:
- Theo phương pháp trực tiếp, luồng tiền từ hoạt động kinh doanh được
trình bày theo các loại chủ yếu của tổng các khoản tiền thu vào và các khoản tiền
chi ra. Và các đơn vị được khuyến khích sử dụng phương pháp trực tiếp vì có thể
cung cấp thông tinh hữu ích trong việc đánh giá những luồng tiền mặt tương lai mà
phương pháp gián tiếp không cung cấp được.
- Theo phương pháp gián tiếp, luồng tiền từ hoạt động kinh doanh được
trình bày theo thặng dư hoặc thâm hụt thuần được điều chỉnh đối với ảnh hưởng của
những giao dịch phi tiền tệ, bất kỳ khoản hoãn lại hoặc dồn tích của các khoản thu
hoặc chi bằng tiền của hoạt động kinh doanh trong quá khứ hoặc trong tương lai và
những khoản mục của thu nhập hoặc chi phí liên quan đến các luồng tiền của hoạt
chọn và hợp đồng hoán đổi trừ khi những hợp đồng này được nắm giữ vì mục
đích kinh doanh hoặc được phân loại là hoạt động tài chính;
- Các khoản thu bằng tiền từ các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng lựa chọn và các
hợp đồng hoán đổi trừ khi những hợp đồng này được nắm giữ vì mục đích kinh
doanh hoặc được phân loại là hoạt động tài chính.
* Hoạt động tài chính: các luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính có
thể là: (đoạn 26 - IPSAS 2)
- Tiền thu từ việc phát hành những giấy nợ, những khoản tiền vay,
những trái khoán, những trái phiếu, và các khoản cầm cố và các khoản cho vay
ngắn hoặc dài hạn khác;
- Các khoản trả lại bằng tiền của các khoản đã vay; và các khoản thanh
toán bằng tiền từ việc đi thuê nhằm làm giảm trách nhiệm nợ còn lại liên quan đến
thuê tài chính.
* Giải trình BCTC
Giải trình BCTC của một đơn vị phải: (đoạn 122 - IPSAS 1)
- Nêu được những thông tin là cơ sở để lập BCTC và chính sách kế toán
áp dụng và các sự kiện khác trong đơn vị;
- Đưa ra các thông tin theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán công mà
nó chưa được trình bày trong báo cáo; và cung cấp thêm thông tin chưa được trình
bày trong BCTC nhưng cần thiết để phản ánh trung thực như các cam kết, sự kiện
24
tiềm tàng và các thông tin tài chính khác và các thông tin phi tài chính;
Giải trình về chính sách kế toán: (đoạn 128 - IPSAS 1)
- Cơ sở đánh giá được sử dụng trong quá trình lập BCTC như nguyên
giá, giá hiện hành, giá có thể thực hiện, giá trị hợp lý hoặc giá trị hiện tại;
- Mức độ đơn vị áp dụng các điều khoản trong các IPSAS; và Chế độ kế
toán cụ thể cần thiết cho việc hiểu đúng các BCTC.
báo cáo là mục tiêu cải cách trung và dài hạn . Vì đòi hỏi nhiều công sức chuẩn bị
và nâng cao năng lực để có thể triển khai thành công cơ sở dồn tích.
Theo đó, ngân hàng thế giới gần đây đã hoàn thành một báo cáo “Hiện trạng
ngành kế toán và kiểm toán tại các nước Asean”. Báo cáo đã thực hiện phân tích
thực trạng khu vực công tại tất cả 10 nước ASEAN. Mặc dù được đánh giá các
nước rất khác nhau về mức độ áp dụng và thực hiện chuẩn mực kế toán công tại
khu vực công. Cụ thể:
- Tại 2 quốc gia như Cam-pu-chia, CHDCND Lào- Đã áp dụng chuẩn mực
IPSAS – cơ sở tiền mặt (cơ sở thực thu thực chi và đang trong giai đoạn đầu thực
hiện).
- Ma-lay-sia : Đã áp dụng IPSAS và đang thực hiện chuẩn mực kế toán cơ
sở dồn tích với mục tiêu hoàn thành vào năm 2017
- In-đô-nê-sia đã vận dụng IPSAS khu vực công trên cơ sở dồn tích năm
2015
- Phi-lip-pin : đã áp dụng IPSAS và thực hiện trên cơ sở dồn tích có sửa
đổi năm 2013
- Thái Lan hội đã áp dụng IPSAS trong khu vực công và đang lên kế
hoạch thực hiện trên cơ sở dồn tích
- Miến Điện- Dự kiến áp dụng áp dụng IPSAS – cơ sở tiền mặt ( thực thuthực chi)
- Bru-nây và Singapore – chưa có kế hoạch áp dụng IPSAS .
Qua đây, có thể thấy rằng tuy 8 nước ASEAN đã hoặc đang áp dụng và thực
hiện IPSAS nhưng họ có cách tiếp cận khác nhau và đang trong các giai đoạn khác
nhau.
1.3.2. Giới thiệu hệ thống BCTC ở một số quốc gia
* Tại Mỹ