A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước Việt Nam ta đang hòa nhập và phát triển cùng với thế giới một nền
kinh tế tri thức và một xã hội thông tin đầy khó khăn và thử thách. Sự phát triển
như vũ bão của ngành khoa học và công nghệ đã đem lại những thành tựu to lớn
trong mọi hoạt động của con người, bên cạnh sự phát triển không ngừng của khoa
học công nghệ đòi hỏi con người phải đa năng, có khả năng xử lý các vấn đề phát
sinh trong cuộc sống một cách nhanh chóng, có hiệu quả. Cùng với sự đổi mới
chung của nghành Giáo Dục thì Giáo Dục Mầm Non nói riêng với mục tiêu phát
triển cũng từng bước có những đổi mới ứng dụng công nghệ thông tin vào trong
các hoạt động giảng dạy.
Công nghệ thông tin ( CNTT) phát triển đã mở ra những hướng đi mới cho
nghành giáo dục trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học. Hiện nay
các trường Mầm non có điều kiện đầu tư, trang bị Tivi, đầu video, xây dựng phòng
đa năng với hệ thống máy tính, nối mạng Internet…tạo diều kiện cho người giáo
viên Mầm Non ứng dụng Công nghệ thông tin vào trong giảng dạy. Qua đó người
giáo viên mầm non không những phát huy được tối đa khả năng làm việc của mình
mà còn trở thành người giáo viên năng động sáng tạo và hiện đại, phù hợp với sự
phát triển của người giáo viên trong thời đại công nghệ thông tin. Việc áp dụng
công nghệ thông tin vào các hoạt động giảng dạy thể hiện rõ rệt nhất qua giáo án
điện tử. Tuy nhiên đây là việc làm còn mới mẻ, chưa có sự thông nhất về mặt hình
thức. Chính vì thế mà giáo viên thực hành việc ứng dụng công nghệ thông tin gặp
không ít khó khăn.
Là giáo viên Mầm Non – tôi cũng đã nhận thấy được việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào các hoạt động giảng dạy có ý nghĩa và có tác dụng to lớn trong
giáo dục nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện như: trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ… Mặt
khác, ứng dụng công nghệ thông tin còn giúp trẻ nhận biết thế giới xung quanh,
giúp trẻ giao tiếp với mọi người. Bên cạnh đó thì việc làm thế nào để giúp trẻ hứng
1
thú trong hoạt động học tập, vui chơi, và để trẻ hoạt động tích cực. Điều này làm
2
nguyên giáo dục phong phú, đa dạng, chủ động quay phim, chụp ảnh là tư liệu cho
bài giảng điện tử. Chỉ cần kích chuột, vài giây sau hình ảnh những con vật ngộ
nghĩnh, những bông hoa đủ màu sắc thật tươi sáng, những hàng chữ biết đi và
những con số biết nhảy múa theo tiếng nhạc hiện ngay ra thu hút được sự chú ý, tò
mò khám phá của trẻ. Đây có thể coi là một phương pháp ưu việt phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên tắc “lấy trẻ làm trung tâm”
một cách dễ dàng.
II, Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
2.1 Thực trạng chung:
2.1.1 Về cơ sở vật chất, điều kiện:
- Do trường mới xây, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, hiện tại trường mới chỉ
có sân chơi và các phòng học. Phòng chức năng như phòng vi tính, phòng âm nhạc
cho trẻ là chưa có.
- Nhà trường đầu tư một số phương tiện hiện đại như: dàn loa máy, máy tính kết
nối mạng internet.
- Đồ dùng đồ chơi tương đối đầy đủ cho công tác giảng dạy.
2.1.2 Về phía phụ huynh:
- Do điều kiện kinh tế của địa phương còn khó khăn, các bậc phụ huynh còn quá
chú trọng đến việc làm ăn, phát triển kinh tế, ít quan tâm đến việc học hành của
con. Chưa hiểu hết tầm quan trọng của bậc học mầm non. Nhiều phụ huynh chỉ coi
trọng vấn đề học tập của trẻ khi trẻ bắt đầu học làm quen với chữ cái và vào lớp
một, còn với trẻ nhà trẻ hầu như không quan tâm đến.
- Một số phụ huynh nhiệt tình ủng hộ tạo điều kiện cho giáo viên làm đồ dùng đồ
chơi ở lớp đáp ứng nhu cầu giảng dạy.
2.2 Thực trạng đối với giáo viên:
- Phương pháp ứng dụng CNTT vào trong các hoạt động giảng dạy hiện đang còn
là việc làm mới mẻ, nhiều giáo viên tỏ thái độ e ngại, lúng túng, nhất là các giáo
8/14 = 57 %
Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ:
7/14 = 50 %
Lĩnh vực phát triển thẩm mỹ; tình cảm
7/14 = 50%
và kỹ năng xã hội:
III, Giải pháp và tổ chức thực hiện:
3.1 Tự bồi dưỡng nâng cao trình độ CNTT cho bản thân:
-
Mặc dù, tôi được tham gia lớp học bồi dưỡng 100 tiết tin học dành cho giáo
viên, nhưng mới chỉ dừng lại ở việc soạn thảo văn bản.Tôi tự nhận thấy mình còn
phải học hỏi thêm nhiều về cách sử dụng các phương tiện CNTT. Vì thế tôi đã tự đi
học hỏi các đồng nghiệp cách sử dụng một số phương tiện như: đài caset, âm li,
4
loa, máy tính…..Tiếp đó, tôi bắt đầu học cách sử dụng USB, cách coppy các dữ
liệu, bài hát, thông tin trên mạng về USB.
Kết quả: là tôi đã sử dụng thành thạo một số phương tiện CNTT như đài, âm
li, loa, máy tính, USB.Tôi đã biết cách coppy dữ liệu, biết tải các thông tin trên
mạng về máy tính…..
ô With tôi chọn phông chữ Vn.Tme.
- Để copy sang nhiều file: tôi đưa con trỏ chuột vào cạnh của slide, ấn giữ Ctrl kéo
xuống thì được thêm một slide.
- Để cho chữ to – nhỏ: tôi đã bôi đen chữ sau đó ấn đồng thời Ctrl + (to ra); Ctrl –
(nhỏ lại)
- Để có nền đẹp: tôi kích chuột vào Slide show
Animation schemes
Desings
templates. Sau đó nháy chuột phải vào hình nền mình chọn.
* Bước 3: Tôi làm hiệu ứng
Tôi đưa các hình ảnh vào slide rồi làm hiệu ứng như sau: tôi chọn đối tượng làm
hiệu ứng, kích chuột vào slide show, chọn Custom Animations, chọn Add effects,
tùy chọn hiệu ứng rồi nhấn ok.
Lưu ý: Để tránh cho việc rối mắt chữ trong bài giảng tôi chỉ dùng một màu đỏ
sen cho tất cả các Slide, chọn màu nền là màu vàng nhạt. Riêng về hiệu ứng nếu
dùng quá nhiều sẽ gây rối nên tôi lựa chọn một nhóm hiệu ứng nhất định bao gồm:
Peek In ( từ dưới vào giữa), Wedge (tách ra), Strips (nhiều mảnh), wheel (xoay
tròn).
* Bước 4: Tôi chèn âm thanh, chèn video:
- Để chèn âm thanh tôi kích chuột vào Insert
from file
tìm âm thanh cần chèn
nhấn Ok
- Để chèn video, tôi kích chuột vào Insert
xong giáo án điện tử thì tôi lại bắt đầu xây dựng hệ thống bài giảng đảm bảo tính
khoa học, dễ tìm kiếm, dễ sử dụng.
- Tôi tạo một thư mục với tên gọi “ hệ thống bài giảng điện tử 18 – 24”. Trong thư
mục này chứa các thư mục con:
Hệ thống bài giảng điện tử 18 – 24
Hình
ảnh
Bài
giảng
Kho
thơ
Kho
truyện
Câu
đố
Trò
chơi
Bài
hát
Tôi tạo các thư mục con ở thư mục bài giảng mang tên các chủ đề. Ở mỗi thư mục
“chủ đề” chứa các bài giảng điện tử của chủ đề đó. Còn lại tôi sưu tầm các hình ảnh
ở trên mạng về lưu trữ trong thư mục “hình ảnh”; các bài thơ lưu ở “kho thơ”; các
- Để nâng cao kiến thức về CNTT, ngay từ đầu năm học tôi đã kiến nghị lên Ban
giám hiệu (BGH) nhà trường mời thầy giáo dạy tin học về tập huấn bồi dưỡng tin
học cho chị em giáo viên trong trường 2 ngày, đã được các đồng chí trong BGH
đồng ý và triển khai thực hiện tháng 8/2012 đạt kết quả tốt.
- Trong các đợt học chuyên đề, tập huấn phần mềm do phòng giáo dục huyện Nga
Sơn tổ chức thì trường tôi cũng đã tạo điều kiện cho tôi được đi tiếp thu chuyên đề,
nâng cao kiến thức cho bản thân.
8
- Nhận thức được vai trò to lớn của CNTT tôi đã tham mưu với nhà trường trong
việc đầu tư trang thiết bị như: khuyến khích các giáo viên chủ nhiệm mỗi lớp mua
một bộ máy vi tính để sử dụng tại lớp, nối mạng internet tới từng phòng, nhóm lớp.
Đầu tư mua máy chiếu, màn chiếu, đàn……
Kết quả: trường tôi mỗi lớp đều có một bộ máy vi tính và được kết nối mạng
internet. Trường đã mua được máy chiếu, đã có bộ loa. Tuy nhiên, do kinh phí hạn
hẹp nên chưa thể mua được đàn, màn chiếu, hiện tại nhà trường phối hợp với
trường tiểu học tại xã để mượn màn chiếu.
- Tôi đã phối hợp với các đồng nghiệp, cùng nhau trao đổi kiến thức về sử dụng các
thiết bị CNTT, cách soạn giảng, cách ứng dụng CNTT vào trong các hoạt động
giảng dạy.
3.2.2 Tham mưu với các cấp lãnh đạo địa phương; phối hợp với các đoàn thể
chính trị xã hội trong xã:
- Tôi đã đề nghị với nhà trường tham mưu với UBND xã đầu tư cơ sở vật chất cho
nhà trường, xây dựng thêm 3 phòng học và phòng chức năng nhất là hỗ trợ xây
phòng vi tính, phòng âm nhạc.
- Tôi đã viết bài tuyên truyền về vấn đề trẻ 18 – 24 tháng tuổi tiếp thu kiến thức qua
CNTT và đưa trên loa phát thanh của xã tuyên truyền tới người dân về bậc học
mầm non, về vai trò của CNTT đối với sự phát triển của trẻ. Từ đó giúp phụ huynh
PowerPoint mà đó cũng bao gồm nhiều các phương tiện công nghệ thông tin khác
như tivi, đầu đĩa, đàn, đài, mạng internet…Vì thế việc lựa chọn đề tài và phương
tiện ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng vô cùng phong phú đa
dạng
* Ở hoạt động vận động:
Tùy theo từng đề tài, có thể với đề tài “Đi theo hướng thẳng có mang vật trên tay
– Lăn bóng”:
Tôi sử dụng đài nhạc cho trẻ khởi động theo nhạc bài hát ‘‘một đoàn tàu”,
tập bài tập phát triển chung theo nhịp bài “Thể dục buổi sáng”.., hay khi trẻ thực
10
hiện vận động cơ bản, chơi trò chơi vận động tôi cũng sử dụng một bản nhạc có nội
dung phù hợp với chủ đề để gây hứng thú cho trẻ.
- Với đề tài khác, ví dụ: “Bò chui qua cổng” tôi đã thay đổi hình thức bằng cách
cho trẻ tập theo màn hình ti vi:
+ Khởi động: Tôi cho trẻ nối đuôi nhau làm đoàn tàu theo video nhạc bài hát: “một
đoàn tàu”.
+ Trọng động:
Tôi mở video nhạc bài “ ồ sao bé không lắc” và cho trẻ tập bài tập phát triển
chung theo các động tác minh họa bài này.
Sau đó, tôi cho trẻ xem video các bé đang bò chui qua cổng. Tôi hỏi trẻ: các bé
trong ti vi đang làm gì? (đang bò).Tôi phân tích cho trẻ thấy “các bé đang bò chui
qua cổng, bò bằng bàn tay, cẳng chân, khi tới cổng thì hơi cúi đầu xuống để không
chạm cổng…”
Tôi làm mẫu và phân tích động tác cho trẻ quan sát và hiểu rõ hơn. Sau đó tôi cho
trẻ bò thi với các bé trong video clip. Tôi bật nhạc nhỏ vui nhộn tạo không khí vui
vẻ cho trẻ hoạt động.
bạn Lan đi từ ngoài vào và giới thiệu đây là bạn Lan.
+ Tôi trình chiếu slide 2, kể 2 lần.
Đàm thoại:
• Tôi click chuột slide 3 cho hình ảnh mẹ xuất hiện to hết màn hình, hỏi trẻ: ai
12
đây? Trẻ trả lời “mẹ”, tôi khuyến khích nhiều trẻ phát âm từ “mẹ”.
• Sau đó, tôi lại click chuột cho hình ảnh bé Lan xuất hiện to hết màn hình, hỏi
trẻ “ai đây?”, Trẻ trả lời“ bạn Lan”, tôi khuyến khích nhiều trẻ phát âm từ “bạn
Lan”
• Tôi click chuột trình chiếu slide 4 “mẹ đang tắm cho bé Lan”, hỏi trẻ “mẹ
đang làm gì?” ( tắm bé). Tôi giảng nội dung câu truyện.…..
Kết quả: 14/14 cháu hoạt động tích cực, trẻ chỉ trỏ vào màn hình, miệng bi
bô nói “mẹ”,“tắm”,“bé” rồi vỗ tay, cười ,..đạt được yêu cầu đặt ra một cách rất nhẹ
nhàng, thoải mái.
* Ở hoạt động nhận biết tập nói, nhận biết phân biệt:
Tôi sưu tầm các hình ảnh phù hợp với đề tài và thiết kế giáo án điện tử.
Ví dụ: với đề tài “nhận biết tập nói con gà – con vịt”, tôi sưu tầm các hình ảnh
con gà, con vịt và một số con vật nuôi trong gia đình, rồi làm hiệu ứng như gà đang
mổ thóc, gà vẫy cánh, gà gáy, vịt đang bơi. Tôi chèn các file âm thanh tiếng kêu
của gà, vịt vào các slide để cho trẻ nghe.
Tổ chức hoạt động:
+ Khi tổ chức ở phần ổn định:
Tôi mời trẻ đi thăm trang trại chăn nuôi nhà bạn búp bê. Tôi click slide 1: hình
ảnh nhà Búp bê có rất nhiều các con vật: gà, vịt, mèo chó, lợn,… Dù tôi chưa hỏi gì
nhưng trẻ mới chỉ nhìn thấy các hình ảnh đã thi nhau gọi tên các con vật. Khi tôi
hỏi trẻ: nhà bạn Búp bê nuôi những con vật gì? Trẻ trả lời tên con vật nào thì tôi
click cho hình ảnh con vật đó to lên rồi trở lại bình thường để thu hút trẻ. Tôi khái
quát lại các ý kiến của trẻ.
Tôi cho trẻ xem các hình ảnh hoạt động phù hợp với nội dung đề tài, sau đó đàm
thoại hướng dẫn trẻ cách hoạt động với đồ vật. Quá trình trẻ hoạt động tôi bật nhạc
nhỏ bài hát có nội dung phù hợp với chủ đề gây hứng thú cho trẻ.
Ví dụ ở đề tài: “bé tập sử dụng cốc, bát, thìa”
Tôi cho trẻ xem các video clip cho bé ăn, cho bé uống nước, mẹ nựng, vỗ về em
bé như thế nào.
14
Tôi đàm thoại hướng dẫn trẻ về cách cầm thìa, cốc, cách bế em, vỗ về em. Tôi
cho trẻ chơi “cho Búp bê ăn, uống”, tôi bật nhạc nhỏ bài hát “em ngoan hơn búp
bê” cho trẻ nghe.
(Hình ảnh bé tập sử dụng cốc, bát, thìa)
* Ở hoạt động âm nhạc:
Tôi sưu tầm các hình ảnh, thiết kế các slide thể hiện nội dung các bài hát,
chèn nhạc không lời ( đề tài dạy hát) hoặc chèn nhạc và lời của bài hát đó ( đề tài
nghe hát) cho trẻ trực quan, đàm thoại giúp trẻ hình tượng hóa nội dung bài hát, trẻ
dễ nhớ tên bài hát, lời bài hát, nhớ giai điệu bài hát và hiểu nội dung bài hát đó.
Ví dụ: Ở đề tài nghe hát “cháu yêu bà”.
Tôi sưu tầm hình ảnh ông, bà, bố mẹ, bé, và hình ảnh cụ bà có mái tóc bạc trắng,
nụ cười tươi đang ngồi nắm tay em bé ở sân, trên bầu trời có mây trắng trôi bồng
bềnh. Tôi chèn file nhạc bài hát “cháu yêu bà” vào slide cho trẻ vừa nghe nhạc, vừa
quan sát hình ảnh.
15
- Ở phần ổn định: tôi trò chuyện với trẻ về những người thân trong gia đình bạn Bi,
kể đến đâu tôi cho xuất hiện hình ảnh để trẻ kiểm chứng lại. Sau đó tôi cho trẻ xem
Tôi sưu tầm hình ảnh động về dáng đi, các hoạt động của các con vật, đồ vật như
gà gáy, gà kiếm ăn, vịt vẫy cánh, vịt bơi, chó đang đi, chó chạy, ngựa chạy, chim
bay, ô tô chạy ,....Tôi sắp xếp các hình ảnh theo từng chủ đề, từng nhóm rồi làm
hiệu ứng.
Ví dụ: Chủ đề động vật tôi nhóm các động vật nuôi trong gia đình lại với
nhau, các động vật sống trong rừng với nhau, các động vật sống dưới nước lại với
nhau.
Tổ chức cho trẻ chơi:
Tôi giới thiệu cho trẻ tên trò chơi, phổ biến cách chơi. Sau đó tôi trình chiếu các
slide, mỗi slide là hình ảnh động về một con vật, một dáng đứng hoặc dáng đi.
- Slide 1: hình ảnh con gà đang vẫy cánh. Tôi hỏi trẻ con gì đây? ( con gà) Con gà
đang làm gì? ( vẫy cánh). Chúng mình cùng vẫy cánh giống con gà nào!
- Slide 2: con bò đang ăn cỏ. Tôi hỏi trẻ con gì đây? ( con bò ) Con bò đang làm
gì? (ăn cỏ). Chúng mình cùng tạo dáng bò ăn cỏ nào!
Các slide khác tương tự, tôi khuyến khích động viên trẻ chơi.
Kết quả: 14/14 cháu thích thú tạo dáng, gọi tên con vật, màu sắc con vật và
một vài đặc điểm nhận biết con vật.
17
* Trò chơi 2: Bắt chước tiếng kêu các con vật.
Tôi cũng sưu tầm các hình ảnh các con vật, mỗi slide là hình ảnh một con vật và
chèn tiếng kêu của con vật đó.
Cách chơi: cho trẻ xem hình ảnh của con vật, hỏi trẻ tên con vât ?, Con vật đó kêu
như thế nào? (trẻ bắt chước tiếng kêu của con vật đó).Sau đó tôi click chuột cho trẻ
nghe âm thanh tiếng kêu của con vật đó.
* Trò chơi 2: chọn hoa.
Tôi sưu tầm rất nhiều các loại hoa với màu sắc khác nhau, cho trẻ lên chọn hoa và
gọi tên theo yêu cầu của cô: chọn hoa to, hoa nhỏ, chọn hoa màu đỏ, hoa màu
vàng,.....
9/14 = 65 %
12/14 = 88 %
Lĩnh vực phát triển thể chất:
8/14 = 57 %
13/14 = 93 %
Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ:
7/14 = 50 %
12/14 = 88 %
Lĩnh vực phát triển thẩm mỹ; tình
7/14 = 50%
11/14 = 81 %
cảm và kỹ năng xã hội:
* Đối với giáo viên:
- Nâng cao trình độ tin học cho bản thân.
- Có kinh nghiệm trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong các hoạt động
giảng dạy tại lứa tuổi 18 – 24 tháng.
C KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:
Từ việc áp dụng các biện pháp trên vào giảng dạy đạt kết quả tốt, tôi đã rút ra
có chất lượng.
Trên đây là một số bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình ứng dụng
CNTT vào trong các hoạt động giảng dạy lứa tuổi 18 – 24 tháng của bản thân tôi.
Tôi xin mạnh dạn trình bày với các bạn đồng nghiệp mong được sự đóng góp của
các đồng chí trong Hội đồng khoa học ngành và các đồng nghiệp. Để từ đó bản
thân tôi rút ra được các kinh nghiệm sâu sắc hơn khi ứng dụng công nghệ thông tin
vào trong các hoạt động giảng dạy lứa tuổi 18 – 24 tháng đạt kết quả tốt.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Nga Thanh, ngày 05 tháng 04 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người viết:
20
Nguyễn Thị Thu
21