Tự do hóa tài chính lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra cho việt nam - Pdf 41

ĐẠI H Ọ C Q UỐC GIA HÀ NỘI

Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

ĐỀ TÀI ĐẶC BIỆT

T ự DO HÓA TÀI CHÍNH
LỶ LUẬN, KINH NGHIỆM QUÓC TẾ
VÀ NHỮNG VẤN ĐÈ ĐẶT RA
CHO VIỆT NAM
Mã số: QG.04.25

Chủ trì đề tài: PGS. TS. TRẰN THỊ THÁI HÀ

Cán bộ phối hợp nghiên cứu chính:
Thạc sỹ Nguyễn Hữu Nghĩa
Thạc sỹ Nguyễn Thị Thục Anh
Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Hương

HOC QUOC G,A ha moi
TRWG TÂM TH0NGTIMthư V EN
0 1 / 0 0 5 SÊ-

HÀ NỘI, 2006


M ỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................. i
CHƯƠNG 1. TỪ KIÊM CHẾ TÀI CHÍNH TỚI T ự DO HÓA
TÀI CHÍNH - NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ T H U Y É T ....................................01

2.1.3. So sánh kiềm chế và tự do hóa tài chính ở Ân Độ và Indonesia.......74
2.2.

Tự do hóa các dịch vụ tài chính - lĩnh vực bảo hiếm.......................... 80

2.2.1. Tỏng quan các thị trường bảo hiểm đang n ổ i......................................... 80
2.2.2. Vai trò thích hợp của các hãng bảo hiêm nước ngoài........................... 83
2.3.

Tự do hóa tài khoản v ố n ............................................................................ 86

2.3.1. Brazil (1993-97) - Can thiệp vô hiệu không thành công và chi
p h ỉ của ngân hàng trung ương.............................................................................. 86
2.3.2. Chile (1991-98) - D ự trữ bắt buộc không trả lũi.....................................89
2.3.3. M alaysia (1994 và 1998-1999)- Kiểm soát (lòng vốn vào và ra.............99


2.3.4. Thái lan (1988-1997) - Tự do hóa tài chỉnh - gia tăng nhanh
chóng tinh dễ tổn thương trên cả hai phương diện vi mô và vĩ mo............. ỉ 01
2.3.5. Hàn Quốc - tự do hóa tài khoản vốn với trình tự s a i......................... 127
2.3.6. Cuộc khủng hoảng Mexico 1994-95. Bài học về tư nhăn hóa các
ngân hàng và tác động của giao dịch các công cụ phải sinh trong
khủng hoảng.......................................................................................................
2.4.

Một
số nhận
định
từ việc
khảo sát kinh nghiệm tự do hóa tài

BOK

N gân hàng Hàn Quốc

CTTC

Công ty tài chính

CN TT

Công nghệ thông tin

CRA

Tô chức Xêp hạng tín nhiệm

FDI

Đầu tư nước ngoài trực tiếp

HTX

Hợp tác xã

M OFE

Bộ Tài chính và Kinh tê (Hàn Quốc)

NHNN


TTGDCK

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán

TTCK

Thị trườn G chứna khoán

TTTC

Thị trường tài chính

URR

Dự trừ bắt buộc khôna trả lãi

W TO

Tô chức Thương mại Thê giới


2.3.4. Thái lan (1988-1997) - Tự do hóa tài chỉnh - gia tăng nhanh
chóng tinh dễ tổn thương trên cả hai phương diện vi mô và vĩ mo............. ỉ 01
2.3.5. Hàn Quốc - tự do hóa tài khoản vốn với trình tự s a i......................... 127
2.3.6. Cuộc khủng hoảng Mexico 1994-95. Bài học về tư nhăn hóa các
ngân hàng và tác động của giao dịch các công cụ phải sinh trong
khủng hoảng.......................................................................................................
2.4.

Một

Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh.
VI. Những đóng góp của đề tài
1. Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết từ kiềm chế tài chính tới tự do hóa tài
chính. Đặc biệt làm rõ những lợi ích của tự do hóa tài chính, những rủi ro
gắn với việc châm ngòi cho các cuộc khủng hoảng, những vấn đề mang
tính nguyên tắc để đảm bảo thành công và giảm thiểu rủi ro của quá trình
này,
2. Chọn lọc và phân tích một cách thỏa đáng những bài học điên hình về
thành công và thất bại của tự do hóa: bài học vê những lựa chọn phối hợp
chính sách tài chính-tiền tệ-tỷ giá hối đoái; bài học về kiêm soát các dòng
vốn vào, ra; bài học vê minh bạch tài chính trong khu vực ngân hàng và
công ty; về thiết kế lộ trình tự do hóa tài khoản vốn v.v.
3. Trên nền tảng khái quát hóa thực trạng cải cách và tự do hóa tài chính ở
Việt Nam, đề xuất được một số gợi ý chính sách, dừng lại ở mức độ
những nguyên tắc tống quát.
Tất cả những nội dung trên đều có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên
cứu, học tập và đề xuât chính sách.
VII. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm ba
chương chính với những nội dung như sau:
CHƯƠNG 1. TỪ KIẺM CHÉ TÀI CHÍNH TỚI T ự DO HÓA TÀI CHÍNH NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ THUYÉT
1.1 Kiềm chế tài chính

Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí


1.2 Bối canh toàn cầu của tự do hóa tài chính
1.3 Mối quan hệ siữa tự do hóa tài chính với khùng hoảng kinh tê
CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM QUỐC TÉ VẺ T ự DO HÓA TÀI CHÍNH
2.1 Tự do hóa lãi suất

công cụ tài chính công minh bạch hon. Toàn bộ quá trình này được gọi là
kiềm chế tài chính {financial represion).
Kiềm chế tài chính nặng nề đã diễn ra một cách phố biển trên khắp thế
giới trong gần suốt thế kỷ hai mươi. Mong muốn về kiềm che tài chính gắn
liền với sự phát triển của chủ nghĩa dân túy (populism), chủ nghĩa dân tộc
(nationalism) và chủ nghĩa nhà nước (statism). Quan điểm dân túy coi các
biện pháp kiểm soát lãi suất như là một cách thức phân phôi lại thu nhập.
Các khoản vay tư nhân ngân hàng tới các hãng kinh doanh lớn hoặc người
nước ngoài là những mục tiêu chuân của phái dân túy hoặc dân tộc. Mong
muốn tránh được sự tập trung quá mức quyên lực vào tay một số ít tư nhân
hoặc mong muốn báo đảm ràng hệ thống tài chính trong nước không bị kiểm
soát bởi người nưóc ngoài là những người sẽ không nhạy cảm với các mục


tiêu dài hạn của quỏc sia, là nhừne khía cạnh quan trọng nhât trong nhưng
quan điểm chính trị loại này. Theo đó, các mục tiêu xã hội có thê đạt được
một cách dễ dàng hơn nểu các hoạt động của những định chế tài chính lớn
không hoàn toàn bị dẫn dắt bởi lợi nhuận. Chủ nghĩa dân túy cùng dân tới
tình trạng lỏng lẻo trong việc thu nợ, cả từ phía các ngân hàng nhà nước do
các áp lực chính trị và từ khuôn khổ pháp lý tổng thể.[6]
Chủ nghĩa nhà nước có lẽ là yếu tổ thậm chí còn quan trọng hơn trong
sự gia tăng kiềm chế tài chính. Vào giữa thế kỷ hai mươi, can thiệp của nhà
nước được quan niệm rộng rãi là một cách thức đê cải thiện sự phân bô các
nguồn lực và thúc đẩy phát triển. Đe hoàn thành vai trò đã mở rộns này, nhà
nước cần phải có các nguồn lực lớn hon là mức độ có thế huy động được
qua các hệ thốníì thuế kém phát triển. Nhà nước cũng cố gắng bành trướng
vai trò cua mình trona, sự phân bô các nguồn lực nơoài ngân sách thônơ qua
những can thiệp vào khu vực tài chính, cũng như vào hệ thống giá cả, vào
các quyết định đầu tư và những mối liên hệ với các thị trường quốc tế.[6]
Đi theo những triêt lý này, chính phủ của nhiều nưó'c đã sử dụng

một thị trường cạnh tranh hoàn toàn. Những khoản tiền tô này được trả bởi
những người tiết kiệm và nhũng người vay tư nhân (thực sự hoặc tiềm năng)
không được chính phủ ưu ái. Hình 1.1 chỉ ra những hiệu ứng này, sử dụng
một biểu đồ cung và cầu đơn giản cho các khoản vay thực như là một hàm
số của lãi suất thực. [5]

Hìn h 1.1 C h o vay s ẵ n có th ự c tế t r o n g thị trtrò ìi g tir

Hình 1.1 trình bầy một đường cầu thực về các khoản vay thực Lc, thể
hiện lượng các khoản vay L đưọc điều chỉnh theo những thay đổi trong mức
giá p mà những người vay có uy tín muốn, với tư cách là một hàm giám của
lãi suất thực (đã điều chỉnh theo lạm phát) trên khoản vay, R L. Đường cung
Ls cho thấy lượng các khoản vay thực mà những người tiết kiệm sẵn sàng
cung cấp như là một hàm tăng của lãi suất thực trên tiền gửi R D biểu diễn


điêm cân bàng E tại đó thị trường là "sạch", lãi suất của khoản vay băng lãi
suất tiền eừi và lượng các khoản vay thực là L e
Trong thực tế, cho vay ngân hàng sẽ không thể đạt tới điêm E. Chi phí
hoạt động của các ngân hàng cũng phải được tính là yêu tô quyêt định lãi
suất trên khoản vay và tiền gửi. Các ngân hàng phải thu được một khoản
chênh lệch giữa lãi suất tiền aừi và lãi suât cho vay đê bù đăp khoản chi phí
để vận hành bộ máy của họ (chi phí lao động, chi phí co hội của việc duy trì
trong tay khoản dự trữ bằng tiền khôns có lãi để đáp ứng việc rút tiền. v.v).
Đường thẳng đứng thể hiện khổi lượna của khoản chênh lệch phải có đó (R|_
- R d). Do đỏ. chính sự cần thiết phải dành một phần thu nhập của ngàn hàng
từ các khoan vay để thanh toán các khoản chi phí cố định đă làm giảm phần
lợi tức mà người mri tiền có thê nhận được, và thu hẹp khối lượno, khoản vay
thực, từ L|. còn Lị.
Việc áp đặt một trân lãi suảt tiên gửi tại R[JC làm giám neuôn cung săn

khi được theo đuổi trong những giới hạn, có thể có lợi cho các ngân hàng và
công chúng. Các ngân hàng trung ương có thể là một nơi đáng tin cậy để cất
giữ các khoản dự trữ và có the sử dụng nhữns, số dư dự trữ này để tạo thuận
lợi cho việc thanh toán giữa các ngân hàng. Các ngân hànơ cần có những số
dư dự trữ có thể tiếp cận, vừa đê giải quyết dòng các chuyên giao tiền gửi
thông thường giữa các ngân hàng, vừa đê dự phòng trước những

khủng

hoảng tài chính khi những đòi hỏi rút tiền có thê rất lớn.
Tuy nhiên, thông lệ không trả lãi trên các khoản dự trừ lại không có
được một sự biện minh nào từ quan điếm xúc tiến hoạt động ngân hàng hiệu
quả. Lợi thế duy nhất của nó là nguồn thu mà nó tạo ra cho chính phủ: dự trữ
bắt buộc cung cấp nguồn thu cho chính phủ bàng cách buộc các ngân hàng
phải gửi quỹ tại ngân hàng trung ương mà không thu được bất kỳ một khoản
lãi nào trên số tiền e;ửi đó. Điều đó làm giảm lượng nợ phải trả lãi mà chính
phủ phải phát hành, và do đó làm giảm chi phí dịch vụ nợ của chính phủ.
Trong đa số trường hợp, tỷ lệ dự trừ bắt buộc cao và những mức lãi suất thấp
mà các ngân hàng kiểm được trên những khoản dự trữ nàv phản ánh mong
muốn của chính phủ duy trì một dạng thuê có khả năng tạo ra nguồn thu lớn
ngầm định. Dạng thuế đó có lợi thế chính trị mà nhiều người gừi tiền (mà
suy cho cùng là những người đóng thuế) không ý thức được về nó. Khi

5


khoan thuế này trờ nên lớn, nó có một hiệu ứng tiêu cực nghiêm trọng lên hệ
thổng tài chính.
Một khoản thuế dự trừ có nghĩa là các ngân hàng phải đòi nhừng mức
lãi suất cao hơn trên các khoản vay tư nhân và trả một lãi suât thâp hơn cho

hơn theo giá trị thực vì chênh lệch lãi đã tăng lên giữa thu nhập trên các
khoản vay, mà đã được chỉ số hóa theo lạm phát, và thu nhập trên tiền mặt,
là bằng 0 bất kể tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu.
Tóm lại, hệ thống ngân hàng thường là một nguồn quan trọng của
nguồn thu của chính phủ, mà suy cho cùng phản ánh độc quyền của chính
phủ về quyền in tiền (cho phép chính phủ ấn định tỷ lệ lạm phát) và quyền
lực quản lý của nó đối với các ngân hàng (cho phép chính phủ thực thi
những đòi hỏi về dự trữ không trả lãi). Vì nhũng người vay thường là đổi
tượng hiểu biết và thường được chính phủ ưu đãi, nên những người tiết kiệm
trong đa số trường hợp là nạn nhân chủ yếu của những loại thuế tài chính
giấu mặt này. Người tiết kiệm trả những khoản thuế này thông qua lãi suất
thực bị giảm đi trên khoản tiểt kiệm của họ. Các mức trần lãi suất tiền gửi đã
làm giảm lãi suất này đi một cách rõ ràng; còn lạm phát thì làm giảm chúng
bằng cách lấy đi một phần trong lãi suất danh nghĩa. Và những đòi hỏi về dự
trữ buộc các ngân hàng phải eiảm lợi suất thực trả cho những người tiết
kiệm.
ưj

C h o V1ÌỴ sẵn có thực tế tron g thị ỉr u ò n g tư nhân

H ìn h 1.2 H iệ u ứ n g c ủ a d ự t r ữ bát b u ộ c , lạm p h á t v à tín d ụ n g c h ỉ đ ịn h

7


Tín dụnơ chính phủ và chỉ định của chính phủ đổi với tín dụng ngân
hàng
Khi hệ thống nsân hàna bị buộc phải tái gửi một tỷ lệ đáng kê tiền gửi
cùa nó tại nsân hàng truns ươn 2 . thì ngân hàng trung ương có được những
nguồn lực mà nó có thê cho vav trực tiêp tới các ngành. Đa sô cac chinh


những chương trình tín dụng chi định của mình tới nhừng người vay được
ưu đãi thông qua Ngân hàng Phát triển Nhật Bản và những tổ chức cho vay
khác của chính phủ. Bằng cách hạn chế cạnh tranh để dành những khách
hàng bán lé từ các ngân hàng tư nhân (cho tới mãi gần đây), chính phủ có
khả năng tài trợ cho các chính sách tín dụng chi định của mình với chi phí
rất thấp.
Không phải toàn bộ tư cách sờ hữu của chính phủ đối với các ngân
hàng là kết quà của một sự nồ lực có ý thức của chính phủ nhằm kiêm soát
các ngân hàng. Đôi khi sở hữu chính phù xẩy ra trong điều kiện có một sự
sụp đổ và cứu giúp đối với hoạt động ngàn hàng. Khi đó, một sổ ngân hàng
bị mất khả năng thanh toán mà các nsân hàns trụ lại được hâu như không có
ý định mua chúna. Trorm nhừna trườne hợp như thế, giải pháp thiết thực
nhất có thề là chính phủ nam quyền sở hữu trực tiếp đối với ngân hàng, với
dự tính sẽ bán nó đi tronơ tương lai. Một trường hợp sớm quổc hữu hóa ngân
hàn” ngay sau khủng hoảng ngân hàna là tnrờng hợp của Chi lê. Cho dù
chính phù cam kết mạnh mẽ về nền kinh tế thị trường, rút cục nó vẫn tiếp
quàn khoảng hai phần ba hệ thổn" ngân hàng. Tương tự, Mexico quốc hữu
hóa toàn bộ hệ thống ngân hàng của nước này trong năm 1982 khi tình trạng
vỡ nợ cua chính phủ đã kích hoạt khúna hoảng nợ toàn cầu.
Mặc dù mức độ sờ hữu cùa chính phủ đối với các ngân hàng có thể đo
được một cách dễ dàng, điều khó khăn hom nhiều là đo lường sự kiểm soát
hữu hiệu đòi với các quyêt định cho vay nsân hàns; của chính phú thông qua
quá trinh quan lý. Sự thảm nhập của chính phù vào hoạt động quản trị ngân
hàng không dề lượng hóa. Có thè khó mà phân biệt sự quản lý thích hợp đối
sự thạn tiọng cua ngdn hànă với nhừn2 mệnh lênh cho vav đươc chs dấu
cua chính phu.

\ 01


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status