SKKN Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2 - Pdf 41

Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

A. PHẦN MỞ ĐẦU

2

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

2

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

4

III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

4

IV. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM:

4

V. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:

4


19

Biện pháp thứ ba: Giáo viên cần đọc mẫu diễn cảm:
Biện pháp thứ tư: Cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từ, ngữ:
Biện pháp thứ năm: Rèn kỹ năng đọc ngắt, nghỉ giọng đúng chỗ cho học sinh:
Biện pháp thứ sáu: Sử dụng linh hoạt trò chơi học tập:
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ

20
23
25
27
30

C. KẾT LUẬN

31

I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

32

II. ĐỀ XUẤT – KHUYẾN NGHỊ:

33

PHỤ LỤC: MỘT SỐ GIÁO ÁN MINH HỌA

35

trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay. Đọc thông viết thạo là một yêu cầu đặt ra với
bất cứ học sinh tiểu học nào, ngay từ những ngày đầu tiên đến trường các em đã phải học
đọc mặc dù ở giai đoạn này việc đọc của các em mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện kí
hiệu chữ viết và giải mã bằng âm thanh song đây là một giai đoạn rất quan trọng bởi đó là
giai đoạn học sinh phải học để đọc và làm nền tảng cho những giai đoạn tiếp theo, giai
đoạn đọc để học. Càng về sau yêu cầu đặt ra trong việc đọc càng được nâng cao, từ việc
đọc để hiểu được nội dung văn bản đến việc phát triển kĩ năng đọc diễn cảm. Dạy học tập
đọc ở Tiểu học là một việc làm hết sức có ý nghĩa trong việc hình thành và phát triển kĩ
năng đọc cho học sinh, nó khẳng định sự cần thiết cho việc hình thành và phát triển một
cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh.Thông qua phân môn Tập đọc
mà trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn học văn và phát triển tư duy, mở rộng vốn hiểu biết của
2


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

học sinh về cuộc sống. Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm trong sáng, yêu cái đẹp, cái thiện, có
thái độ ứng xử tốt trong cuộc sống, yêu tiếng Việt. Bên cạnh đó theo quan điểm tích hợp
các bài tập đọc còn có nhiệm vụ cung cấp ngữ liệu để hình thành và phát triển các kỹ năng
khác được quy định trong chương trình. Các bài tập đọc đã trở thành nguyên liệu để các
phân môn khác như: Tập làm văn – Kể chuyện – Luyện từ và câu khai thác. Chính vì vậy
việc dạy phân môn Tập đọc chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Nó làm nòng cốt xuyên
suốt toàn bộ chương trình Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng.

2. Cơ cở thực tiễn:
Từ nhiều năm nay Bộ giáo dục và đào tạo đã liên tục chỉ đạo đổi mới phương pháp song
sự chuyển biến trong phương pháp dạy học của giáo viên đang còn chậm. Kiểu dạy học
thuyết giảng đã trở thành nếp nghĩ, nếp làm của nhiều giáo viên trong nhà trường. Thực
hiện dạy Tập đọc theo phương pháp mới đòi hỏi giáo viên phải từ bỏ một số thói quen

Mai, Hà Nội.
V. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
- Tôi nghiên cứu đề tài này từ tháng 9/2013 đến tháng 5 năm 2014 tại Trường Tiểu học
Thúy Lĩnh
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu và sách tham khảo.
2. Khảo sát thực tế: - Dự giờ thăm lớp.
- Khảo sát tình hình thực tế.
3. So sánh đối chiếu.
4. Phương pháp thực hành.

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN:
4


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1. Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học
Tiếng Việt ở Tiểu học là một môn học độc lập. Nhiệm vụ chủ yếu của bộ môn Tiếng
Việt ở Tiểu học là cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về Tiếng Việt để trên cơ
sở đó, các em có khả năng sử dụng một cách hiệu quả Tiếng Việt trong hoạt động học tập
và sinh hoạt, đồng thời giúp các em rèn luyện và phát triển tư duy. Hay nói cách khác, qua
việc học Tiếng Việt, các em học sinh Tiểu học một mặt vừa lĩnh hội được kiến thức về
ngôn ngữ ở mức độ sơ giản, hình thành được năng lực và biết cách tổ chức giao tiếp bằng
Tiếng Việt, mặt khác giúp các em hình thành được năng lực tư duy, hình thành được nhân
cách của mình. Các em biết tiếp nhận lời người khác, biết tạo ra lời nói riêng của mình vừa
đúng với quy tắc ngôn ngữ, phù hợp với quy luật của tư duy, vừa phù hợp với hoàn cảnh,

2.3. Nhiệm vụ của phân môn Tập đọc
* Rèn kĩ năng đọc và rèn trí nhớ cho học sinh
- Thông qua hai hình thức: đọc thành tiếng và đọc thầm.
- Rèn đọc thành tiếng theo các mức độ từ thấp đến cao: đọc đúng; đọc rõ ràng, rành
mạch; đọc lưu loát, trôi chảy; đọc diễn cảm. Đọc diễn cảm là sự tổng hợp của tất cả các
mức độ đọc làm nổi bật ý nghĩa, tình cảm mà tác giả gửi gắm trong bài.
- Rèn đọc thầm cũng cần được chú ý bởi đọc thầm ít mệt, có thể đọc nhanh, mau hiểu
nội dung đọc. Rèn đọc thầm phải gắn với một yêu cầu nhất định để buộc học sinh phải tập
trung đọc.
- Nhiệm vụ rèn trí nhớ được thực hiện thông qua việc dạy học sinh đọc thuộc lòng các
văn bản thơ và một số văn bản văn xuôi.
* Trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngữ và kiến thức đời sống
- Dạy Tập đọc phải thông qua nhiều loại văn bản khác nhau. Các văn bản Tập đọc
chứa đựng nhiều mặt kiến thức văn hoá của nhân loại và dân tộc. Do vậy thông qua Tập
đọc có thể trau dồi kiến thức nhiều mặt cho học sinh như kiến thức văn học, kiến thức ngôn
ngữ và kiến thức về đời sống.
* Giáo dục thẩm mĩ, tình cảm tư tưởng và phát triển tư duy
- Học Tập đọc, học sinh được tiếp xúc với vẻ đẹp của văn chương thông qua các văn
bản nghệ thuật. Đó là cơ hội để học sinh được giáo dục về tình cảm thẩm mĩ, tư tưởng và
phát triển tư duy trừu tượng. Khi học các văn bản nghệ thuật, cần làm cho học sinh xúc
6


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

động với vẻ đẹp của văn chương, nhận thức được tình cảm yêu thương con người và cuộc
sống mà tác giả gửi gắm trong bài đọc…
3. Các cở sở của việc dạy Tập đọc
3.1. Cơ sở tâm lí, sinh lí của việc dạy đọc

sự đoán nghĩa. Bước sang lớp 2, 3 học sinh bắt đầu đọc tổng hợp, dần đến cuối cấp thì việc
đọc ngày càng được tự động hóa. Cụ thể hơn, người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính
quá trình mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh văn bản như: Nội dung các sự kiện, cấu trúc,
chủ đề, các phương tiện biểu đạt của nó. Thời gian gần đây, người ta đã chú trọng hơn đến
những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng làm việc với văn bản.
Nghĩa là đòi hỏi tổ chức giờ Tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài đọc đồng
thời hướng đến việc hoàn thiện kĩ năng đọc, hướng đến đọc có ý thức bài đọc. Như vậy
việc đọc như thế nhằm vào nhận thức, chỉ có thể xem một đứa trẻ biết đọc khi nó đọc mà
hiểu được điều đang đọc. Đọc là hiểu nghĩa của chữ viết, nếu trẻ không hiểu những từ mà
ta đưa cho chúng đọc, chúng sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành
công. Do đó hiểu những gì được đọc sẽ tạo ra động cơ, hứng thú cho việc đọc.
Quá trình hiểu được văn bản gồm các bước sau:
- Hiểu nghĩa các từ, các ngữ.
- Hiểu các câu.
- Hiểu các đoạn.
- Hiểu được cả bài.
Học sinh Tiểu học không phải lúc nào cũng có thể dễ dàng hiểu được những điều mình
đọc. Hầu như toàn bộ sức chú ý đều dồn vào việc nhận ra mặt chữ, đánh vần để phát ra
thành âm, nghĩa của vấn đề đọc thì học sinh chưa đủ thời giờ và sức lực để nhận biết. Mặt
khác, do vốn từ còn ít, năng lực liên kết thành câu, thành ý còn hạn chế nên việc hiểu và
nhớ nội dung còn khó khăn. Điều này chính là cơ sở để đề xuất các biện pháp hình thành
năng lực đọc hiểu cho học sinh Tiểu học.
3.2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học
Phương pháp dạy Tập đọc phải dựa trên cơ sở của ngôn ngữ học. Nó liên quan mật
thiết với một số vấn đề của chính âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học).
Phương pháp dạy Tập đọc sẽ dựa trên những kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học, Việt
ngữ học về những vấn đề nói trên để xây dựng, xác lập nội dung và phương pháp học. Bốn
8



Chất lượng của hình thức đọc thành tiếng bao gồm đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc
9


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

diễn cảm. Chất lượng của hình thức đọc thầm bao gồm đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu,
(đọc diễn cảm không được bàn đến khi đọc thầm).
Đọc đúng: Đọc đúng là cách phát âm thể hiện đúng hệ thống ngữ âm chuẩn. Nói
cách khác là phải đọc đúng chính âm, không đọc theo cách phát âm địa phương vì phát âm
địa phương sẽ có chỗ sai với âm chuẩn.
Đọc đúng đòi hỏi thể hiện chính xác các âm vị của âm tiết: âm đầu, âm đệm, âm
chính, âm cuối, thanh điệu.
Ngoài ra đọc đúng còn có nghĩa là đúng ngữ điệu, bao gồm lên giọng, xuống giọng,
nhấn giọng, chuyển giọng, ngắt hơi, cường độ giọng… Đọc đúng quan trọng nữa là phải
đúng nội dung của từ, của câu, đúng phong cách chức năng vủa văn bản.
Đọc nhanh: Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là nói đến phẩm chất đọc
về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắc ngứ. Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc
đúng.
Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn: đọc không ê a, ngắc ngứ, không vừa
đọc vừa đáng vần. Về sau tốc độ đọc phải song song với việc tiếp nhận có ý thức bài đọc.
Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi nó không tách rời việc hiểu rõ điều được đọc. Khi đọc
cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ nhanh nhưng để cho người nghe
hiểu kịp được. Vì vậy, đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận được
của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ đọc
sẽ nhanh hơn nhiều.
Đọc hiểu: Hiệu quả của việc đọc (nhất là đối với hình thức đọc thầm) được đo bằng
khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó, dạy đọc phải gắn với đọc có ý thức, đọc
hiểu: hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài, tức là toàn bộ những gì được đọc. Giáo

hiệu quả thiết thực và sắp xếp một cách hợp lí.
- Sách hay về nội dung, hấp dẫn về hình thức, nhiều bài đọc mang tính truyện để
tăng tính hấp dẫn, làm cho học sinh ham học. Chú trọng vai trò của kênh hình (tranh ảnh,
màu sắc).
* Cấu trúc nội dung chương trình:
- Các bộ phận của chương trình:
Chương trình Tiếng Việt Tiểu học gồm những bộ phận sau:
+ Kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói).

11


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

+ Tri thức Tiếng Việt (một số hiểu biết cơ sở, tối thiểu về ngữ âm, chính tả, ngữ
nghĩa, ngữ pháp…).
+ Tri thức về văn học, về tự nhiên và xã hội (một số hiểu biết tối thiểu về văn học và
cách tiếp cận chúng; về con người; về đời sống tinh thần và vật chất; về đất nước và dân
tộc Việt Nam…).
- Cấu trúc hai giai đoạn của chương trình:
+ Giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3):
Nội dung dạy học giai đoạn này có nhiệm vụ: Hình thành những cơ sở ban đầu cho
việc học đọc, học viết; định hướng cho việc học nghe, học nói trên cơ sở vốn Tiếng Việt
mà trẻ em đã có.
Yêu cầu cơ bản với học sinh ở giai đoạn này là: Đọc thông thạo và hiểu đúng một văn
bản ngắn; viết rõ ràng, đúng chính tả; nghe chủ động; nói chủ động, rành mạch.
Những bài học ở giai đoạn này chủ yếu là bài học thực hành đọc, viết, nghe, nói. Tri
thức Tiếng Việt không được dạy thành bài riêng mà được rút ra từ những bài thực hành,
được thấm vào học sinh một cách tự nhiên qua hoạt động thực hành. Ví dụ, học âm e, sau

trong 2 tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học 3 tuần):
Tập một gồm 8 đơn vị học, với các chủ điểm sau:
+ Tuần 1, 2: Em là học sinh
+ Tuần 3, 4: Bạn bè
+ Tuần 5, 6: Trường học
+ Tuần 7, 8: Thầy cô
+ Tuần 9: Ôn tập giữa kì I
+ Tuần 10, 11: Ông bà
+ Tuần 12, 13: Cha mẹ
+ Tuần 14, 15: Anh em
+ Tuần 16, 17: Bạn trong nhà
+ Tuần 18: Ôn tập cuối kì I
Tập hai gồm 7 đơn vị học, với các chủ điểm sau:
+ Tuần 19, 20: Bốn mùa
+ Tuần 21, 22: chim chóc
+ Tuần 23, 24: Muông thú
13


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

+ Tuần 25, 26: Sông biển
+ Tuần 27: Ôn tập giữa kì II
+ Tuần 28, 29: Cây cối
+ Tuần 30, 31: Bác Hồ
+ Tuần 33, 34: Nhân dân
+ Tuần 35: Ôn tập cuối kì II
Cấu trúc của một đơn vị học: Học trong 2 tuần, mỗi tuần học 9 tiết, gồm:
+ Tập đọc (2 tiết): một chuyện kể

phương pháp phù hợp để rèn luyện cho học sinh những kĩ năng ngôn ngữ cần thiết theo
định hướng đổi mới - định hướng giao tiếp.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

15


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

Thực trạng tình hình dạy học của giáo viên và việc học của học sinh qua điều tra cụ thể
là: Đầu năm học khi có ý định làm đề tài này tôi đã trao đổi với các đồng nghiệp trong
khối, xin thăm lớp dự giờ các tiết tập đọc ở khối. Qua dự giờ sau các tiết dạy tôi có nhận
xét sau:

1. Giáo viên:
- Giáo viên đã nghiên cứu phương pháp dạy tập đọc để dạy tốt song chưa đi sâu lựa chọn
phương pháp cho phù hợp để tiết dạy đạt kết quả cao nhất.
- Giáo viên chưa chú ý và coi trọng tính luyện tập, thực hành của học sinh.

2. Học sinh
2.1. Thuận lợi:
- Học sinh đúng độ tuổi, phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình như mua
đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập.
- Cơ sở vật chất ở lớp học đầy đủ, bàn ghế đẹp, kích thước phù hợp với học sinh lớp 2.
- Thực tế giảng dạy cho thấy rằng các năm học thực hiện đổi mới giáo dục trên toàn
quốc chất lượng học sinh có tiến bộ rõ rệt. Đặc biệt là các em mạnh dạn, tự tin trong giao
tiếp. Nhiều học sinh đọc rất hay mặc dù yêu cầu đọc diễn cảm chưa đặt ra đối với học sinh
lớp2. Thông qua luyện đọc học sinh bước đầu đã hiểu nghĩa từ chìa khoá để hiểu nội dung

dạy học và chỉ đạo chuyên môn tổ khối và để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 2.

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ
17


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

Trước tình hình thực tế dạy học của trường, là một tổ trưởng chuyên môn, tôi đã làm
tốt công tác tham mưu để nhà trường quyết định tổ chức chuyên đề Tập đọc lớp 2, 3 ngay
từ đầu năm học để rút kinh nghiệm. Qua thực tế giảng dạy và chỉ đạo công tác chuyên môn
tổ khối tôi đã rút ra một số biện pháp để nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 2 như
sau:
Biện pháp thứ nhất: Khảo sát phân loại học sinh qua từng giai đoạn:
Để nắm được khả năng đọc của học sinh, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành tìm hiểu,
phân loại học sinh. Tôi tiến hành kiểm tra các em về đọc và kiến thức trong bài. Kết quả
điều tra kỹ năng đọc của học sinh lớp 2A1 do tôi phụ trách cũng như các lớp 2 trong toàn
trường trong đợt khảo sát chất lượng đầu năm như sau:

Lớp

SL

Đọc diễn cảm

Đạt chuẩn

Còn chậm


thành

dung
73%

tâm bài
53%

câu
10%

Biết nghe

Đọc đánh
vần
0
5
5

Mạnh dạn xử lý tình

học sinh hứng

và nhận xét huống giao tiếp của

thú, thích học

bạn đọc
42%


- Để giúp học sinh đọc tốt, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi trao đổi với phụ
huynh, thống nhất phương pháp hướng dẫn học sinh học môn Tập đọc tại nhà. Từ đó
phụ huynh học sinh có thể giúp đỡ các em chuẩn bị tốt bài Tập đọc của giờ học sau.
- Chính vì có sự chuẩn bị chu đáo như vậy nên trong những giờ Tập đọc sẽ giúp các
em đọc lưu loát, biết cách ngắt nghỉ đúng ở các dấu câu, dấu phẩy trong câu văn.
Ví dụ: Khi dạy bài Ngôi trường mới tôi đã hướng dẫn học sinh chuẩn bị như sau:
- Đọc thành tiếng 5 lần, dùng bút chì ghi số câu trong bài tập đọc.
- Đọc kĩ phần giải nghĩa các từ: - > điều này sẽ giúp các em hiểu rõ hơn nội dung bài
đọc.
- Học sinh tập trả lời miệng các câu hỏi để tìm hiểu nội dung bài:
+ Tìm đoạn văn ứng với từng nội dung sau:
a, Tả ngôi trường từ xa
b, Tả lớp học
c, Tả cảm xúc của học sinh dưới mái trường mới.
+ Tìm những từ ngữ tả vẻ đẹp của ngôi trường
+ Dưới mái trường mới, bạn học sinh cảm thấy có những gì mới?
Phần tìm hiểu này giúp học sinh nhớ được nội dung bài.
Với sự chuẩn bị bài kỹ của học sinh như vậy nên ở trên lớp dưới sự dẫn dắt, hướng
dẫn của giáo viên, học sinh sẽ đọc lưu loát, tiến tới đọc hay, các em chủ động trong việc
nắm bắt nội dung bài đọc, phát huy được tính cực, chủ động của học sinh trong giờ học.
19


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

2. Chuẩn bị của giáo viên:
Qua thực tế giảng dạy, dưới sự chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường, tôi nhận
thấy rằng để dạy thành công một tiết tập đọc, truyền thụ được kiến thức một cách khoa
học, sâu sắc giáo viên cần chuẩn bị kỹ những việc sau:

giải thích nội dung bài đọc.
- Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa phát âm sai và rèn cách đọc đúng cho học sinh
Vấn đề đặt ra trước tiên, để đọc mẫu tốt, giáo viên cần tìm hiểu và cảm thụ bài văn, tìm
hiểu bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh sáng tác, vị trí của tác phẩm, tác giả... tiếp đến là việc tìm
hiểu nội dung, hình thức bài đọc: thể loại, bố cục, kết cấu, nghệ thuật.
Hiểu được nội dung cảm thụ: cảm thụ sâu sắc, tính lôgic sẽ đọc diễn cảm tốt. Giọng đọc
hay sẽ bắt đầu với cảm xúc của lòng mình, người đọc phải nhập vai lúc đó khả năng truyền
cảm người nghe lớn hơn.
Ví dụ: * Bài “Ông Mạnh thắng Thần Gió”
- Đoạn 1: Giọng kể chậm rãi
- Đoạn 2: Nhịp nhàng hơn, nhấn giọng những từ ngữ tự sự, ngạo nghễ của Thần Gió, sự
tức giận của ông Mạnh – “Xô, ngã lăn quay, lồm cồm, quát, ngạo nghễ...”
- Đoạn 3, 4: Đọc nhấn giọng các từ ngữ thể hiện quyết tâm chiến thắng Thần Gió của
ông Mạnh; sự điềm tĩnh, kiên quyết của ông trước thái độ tức tối của Thần Gió, “quyết
chống trả, quật đổ, thật vững chãi, lớn nhất, thật to, thét, không, giận dữ, lồng lộn...”
- Đoạn 5: Kể về sự thoả thuận giữa ông Mạnh và Thần Gió – Đọc với giọng kể chậm
rãi, thanh bình.
Đọc thơ phải nắm vững đặc trưng của thơ. Đó là tiếng nói tình cảm mãnh liệt, là sản
phẩm của những rung động đột xuất, độc đáo, là kết tinh của trí tưởng tượng, phân tích.
Ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, tính hàm xúc trong trong thơ. Vì vậy, khi đọc thơ cần thể
hiện được tình cảm tác giả gửi gắm trong từng từ, từng dòng thơ, nhịp thơ, vần thơ để
truyền cảm xúc đến người nghe.
Ví dụ: Nhịp điệu 2/2 trong đoạn thơ dưới đây sẽ góp phần tích cực thể hiện nét vui tươi
hoạt bát của chú bé liên lạc.
21


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo


GV: Trần Bích Thảo

định trật tự, tạo cho học sinh tâm thế ngồi đọc, hứng thú nghe đọc và yêu cầu học sinh đọc
thầm theo. Khi đọc, giáo viên đứng ở vị trí bao quát được cả lớp, không nên đi lại trong khi
đọc, cầm sách mở rộng, đọc đủ lớn để em học sinh xa nhất cũng nghe rõ và thỉnh thoảng
mắt phải rời sách nhìn lên học sinh nhưng không làm cho bài đọc bị gián đoạn.
Như vậy, người giáo viên khi đọc phải làm sao để “đánh thức những cảm xúc ngủ yên
trong chữ nghĩa, làm cho con cá biết bơi, con chim biết bay, con người biết đi, đứng, chạy
nhảy như cuộc sống ngoài đời, bởi dạy văn tức là dạy người”. Giáo viên phải làm sao để
học sinh thể hiện được cảm xúc chân thành khi nghe thầy đọc thơ:
“Thêm yêu tiếng hát nụ cười
Nghe thơ em thấy đất trời đẹp hơn
Biện pháp thứ tư: Cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từ, ngữ:
a) Cho học sinh đọc từ chú giải lúc nào cho hợp lý?
Nhiều ý kiến cho rằng, việc cho học sinh đọc từ chú giải trong sách giáo khoa là không
cần thiết. Giáo viên chỉ cần nêu câu hỏi nếu học sinh giải thích được nghĩa của từ là xem
như học sinh đã được đọc phần chú giải? Vậy nếu như những bài tập đọc như: “Voi nhà”
Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 có 6 từ chú giải mà giáo viên cứ đặt câu hỏi lôi 6 từ ra để học
sinh trả lời thì thời gian đâu để tổ chức hoạt động khác? Tạp chí thế giới trong ta nêu quan
niệm: Chú giải là một bộ phận cần đọc. Đọc để ghi nhớ từ mới là tăng vốn từ cho học sinh.
Đọc để nắm được cách giải nghĩa từ khi cần. Song nên tổ chức cho học sinh đọc từ chú giải
lúc nào cho hợp lý? Theo tôi phần chú giải cần tổ chức cho học sinh đọc thầm, trong khi
học sinh đọc thầm nối tiếp nhau từng đoạn trong nhóm là hợp lý nhất. Sau đó học sinh lại
đọc thành tiếng theo nhóm trước lớp. Có thể học sinh đọc chú giải mà vẫn chưa hiểu nghĩa
của từ giáo viên vận dụng cơ hội này để giảng từ, nhằm mở rộng vốn từ cho học sinh.
Đến bước tìm hiểu bài giáo viên vẫn còn thời cơ để kiểm tra, cũng cố nghĩa của từ
(nếu cần), bằng cách đặt câu hỏi, tìm hiểu nội dung thông qua đó rút từ chìa khoá để giảng
cho học sinh. Cách kiểm tra có thể yêu cầu học sinh nhắc lại nghĩa của từ, tìm từ gần
nghĩa, cùng nghĩa, trái nghĩa hoặc đặt câu với từ cần giải nghĩa. Chính ở bước này, những
23

+ Sử dụng đồ dùng dạy hoc (vật thật, tranh ảnh)

24


Một số kinh nghiệm trong việc rèn đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học Thúy Lĩnh
GV: Trần Bích Thảo

Cách tìm hiểu từ chủ yếu là phải đặt trong ngữ cảnh. Cần giới hạn việc giải nghĩa từ
trong phạm vi nghĩa cụ thể bài đọc giải nghĩa, đơn giản với học sinh lớp 2 – tránh dài dòng,
giải nghĩa cồng kềnh quá tải làm mất thời gian luyện đọc của học sinh.
Ví dụ: Bài tập đọc: “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh”
Phần chú giải có 7 từ. Đó là: cầu hôn, lễ vật, ván, nộp, ngà, cựa, hồng mao. Các từ
trên là từ khó hiểu nghĩa đối với các em song không phải là từ chìa khoá. Giáo viên cần căn
cứ vào nội dung. Câu chuyện nhằm giải thích nạn lũ lụt ở nước ta là do Thuỷ Tinh ghen tức
Sơn Tinh gây ra và nói lên tinh thần chống lũ của nhân dân nên từ chìa khoá ở đây là:
đùng đùng nổi giận, cuồn cuộn, đuối sức . Việc rút từ chìa khoá của giáo viên không yêu
cầu từ nào cũng phải giải nghĩa mà chủ yếu là để học sinh hiểu được nội dung bài từ đó
giúp các em đọc, viết đúng; đọc hay.
Biện pháp thứ năm: Rèn kỹ năng đọc ngắt, nghỉ giọng đúng chỗ cho học sinh:
Có 2 kiểu ngắt giọng: Ngắt giọng logic và ngắt giọng biểu cảm.
Ngắt giọng logic là những chỗ dùng để tách nhóm trong câu. Ngắt giọng logic phụ
thuộc vào ý nghĩa và quan hệ giữa các từ trong câu.
Ngắt giọng biểu cảm đối lập với ngắt giọng logic đó là những chỗ nghỉ lâu hơn bình
thường hoặc chỗ nghỉ không do logic ngữ nghĩa mà do dụng ý của người đọc nhằm tạo ra
ấn tượng về cảm xúc.
a) Kỹ năng ngắt giọng logic:
Khi đọc một văn bản nếu gặp dấu câu ta cần phải ngắt, nghỉ giáo viên cần hướng dẫn
học sinh sau dấu chấm, dấu hai chấm, chấm cảm ta cần phải nghỉ. Song sau dấu chấm
xuống dòng cần nghỉ lâu hơn sau dấu chấm. Sau dấu phẩy ta phải ngắt giọng, sau dấu phẩy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status