skkn một số kinh nghiệm tư vấn – hướng nghiệp cho học sinh lớp chủ nhiệm - Pdf 35

A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đã khởi sắc về nhiều mặt,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Để hoà
chung vào xu thế đó, đòi hỏi mỗi người phải luôn trau dồi kiến thức và lựa chọn
một hướng đi đúng đắn trong tương lai cho mình. Đặc biệt là đối với học sinh
THPT lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành mối quan tâm thường xuyên, chi phối
suy nghĩ và hành động của các em. Việc lựa chọn nghề của học sinh không chỉ
xác định hướng đi cho cuộc đời của mỗi cá nhân mà còn có tác dụng tới toàn xã
hội vì sau đó nó thúc đẩy hoặc kìm hảm sự đóng góp của cá nhân đối với xã hội.
Chọn nghề phù hợp với năng lực, nguyện vọng, hứng thú sẽ tạo một động lực
lớn thúc đẩy cá nhân say sưa, miệt mài, tích cực khám phá và sáng tạo để hoạt
động tốt trong nghề, ngược lại họ sẽ băn khoăn day dứt trong suốt cuộc đời.
Nhấn mạnh vai của sự phù hợp với nghề, cố Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã nói
“Có những nghề phù hợp với sở trường và năng lực, nhưng chưa thể là nghề
“kiếm cơm”, tuy vậy đến một giai đoạn chín muồi, khi đã thực sự vững tay nghề
sở đắc thì sẽ bước vào thời “nhất nghệ tinh, nhất nhân vinh”.
Nhưng để có sự lựa chọn đúng thì quả là vấn đề rất khó đối với lứa tuổi này
vì kinh nghiệm vốn có của học sinh chưa đủ để các em quyết định con đường
lao động tương lai. Sự lựa chọn nghề của học sinh THPT không chỉ phụ thuộc
vào các đặc điểm tâm, sinh lý của các em và những tác động sư phạm của nhà
giáo dục mà còn phụ thuộc vào yếu tố xã hội.
Là một giáo viên với kinh nghiệm 9 năm làm công tác chủ nhiệm, tôi luôn
nhận thức rõ tư vấn - hướng nghiệp trong trường THPT là một hoạt động giáo
dục quan trọng. Đặc biệt, vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong tư vấn - hướng
nghiệp cho học sinh lớp chủ nhiệm lại càng quan trong trọng hơn, nó có tính
chất quyết định, giúp các em học cách làm chủ cuộc đời, làm chủ tương lai.
Bởi thế tôi đã không ngừng suy nghĩ, học hỏi và đúc rút ra những kinh
nghiệm mới trong hành trình làm công tác chủ nhiệm của mình. Những giải
pháp để giúp các em có được sự lựa chọn đúng đắn trên con đường đi đến tương
lai của mình, những giải pháp này bước đầu đã thu được những kết quả đáng
khích lệ, làm tôi yêu nghề hơn và mạnh dạn ghi lại: “Một số kinh nghiệm tư vấn

2007, thi đạt 20,5 điểm nhưng vẫn trượt đại học, hay có học sinh cầm giấy trúng
tuyển đại học mà chưa hiểu rõ về nghề mình học, hay học xong đại học rồi mà
nhu cầu xã hội thì không biết đến khi nào mới cần tới… Trong khi đó, có những
học sinh kết quả học tập THPT không có gì nổi bật, nhưng lại dễ dàng đậu đại
2


học và khi vừa tốt nghiệp đại học đã có những đơn vị đến “chào mời” về làm
việc như em Nguyễn Tiến Thành (khóa 2004 - 2007) thi đậu khoa thú y đại học
Nông nghiệp I Hà Nội với số điểm thi 15,0 cầm phiếu báo đậu đại học nhiều
hàng xóm láng giềng và anh em dè bửu “đang muốn thoát khỏi nông nghiệp thì
không, lại học cái ngành đó rồi thì cuối cùng cũng là nông dân thôi”, thế nhưng
với quyết tâm của bản thân và sự động viên của thầy cô, bạn bè, em quyết tâm
học tập, và khi vừa ra trường em đã được tuyển dụng vào cục thú y Hà Nội,
tương lai rộng mở với nhiều cơ hội cống hiến và thăng tiến. Hay có những học
sinh ngay từ đầu rất biết “lượng sức” mình không giám thi đại học mà lựa chon
việc học một nghề phù hợp, thế nhưng chỉ trong một thời gian ngắn lại trở nên
nổi tiếng với tay nghề vững vàng và có thu nhập khá…
Đối với công tác tư vấn – hướng nghiệp ở trường THPT: Công tác tư vấn
– hướng nghiệp thực tế là một hoạt động giáo dục rất quan trọng trong những
năm gần đây ở các trường THPT nói chung, tuy nhiên, công tác này hầu hết là
kiêm nhiệm, lồng ghép trong các tiết học, lồng ghép trong hoạt động ngoài giờ
lên lớp, hoặc chỉ mang tính giới thiệu với một thời lượng rất ngắn trong 8 tiết
hướng nghiệp ở chương trình công nghệ 10. Chính vì thời lượng dành cho tư
vấn – hướng nghiệp THPT quá ít, nên giáo viên không có điều kiện tiếp cận đến
từng đối tượng học sinh, để hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng nghề nghiệp tương lai
cũng như sự phù hợp với năng lực cá nhân và nhu cầu xã hội của các em. Bên
cạnh đó giáo viên thiếu thông tin về hướng nghiệp, không được tập huấn và
trang bị kiến thức đầy đủ, không hiểu biết về nhu cầu xã hội, về năng lực sở
trường của bản thân, ngoài ra một số giáo viên còn thờ ơ với việc hướng nghiệp

việc, giảm sự sáng tạo, đây lại là vấn nạn cho xã hội, làm mất cân đối lao động
trong các ngành nghề đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang hội
nhập và phát triển, cơ hội mở ra cho học sinh, thanh niên không phải chỉ làm các
nghề như bác sĩ, kĩ sư, luật sư, ngân hàng… mới là thành đạt, mà các lĩnh vực
như kĩ thuật, công nghệ thông tin, nông nghiệp, công nghệ sinh học… lại là
những cánh cổng luôn mở với nhiều hứa hẹn.
Thực trạng trên đã làm tôi trăn trở rất nhiều, nghĩ ra rất nhiều phương án
khác nhau để cải thiện, nhưng thú thật quá trình tư vấn – hướng nghiệp thật
không dễ, đòi hỏi phải có kế hoạch, phương pháp hợp lí và kiên trì trong một
khoảng thời gian dài. Tuy vậy, với lòng yêu nghề và hết lòng vì học sinh tôi
quyết tâm thực hiện, bởi nếu không giải quyết được vấn đề này thì hậu quả mà
nó đem lại thật đáng lo ngại, đặc biệt là một giáo viên chủ nhiệm trách nhiệm tư
4


vấn - hướng nghiệp cho học sinh lớp chủ nhiệm lại càng nặng nề và bức thiết
hơn. Giáo viên chủ nhiệm tuy không phải là người quyết định nghề nghiệp cho
học sinh, nhưng lại là người bằng kinh nghiệm và sự trau rồi của bản thân có thể
trở thành người tư vấn tích cực và sâu sát nhất tới học sinh của lớp chủ nhiệm.
3. GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
3.1. Điều tra, nâng cao nhận thức về nghề nghiệp cho học sinh.
3.2. Nâng cao nhận thức về xu hướng nghề nghiệp và trách nhiệm tư vấn –
hướng nghiệp cho phụ huynh học sinh.
3.3. Lồng ghép hướng nghiệp trong các tiết dạy.
3.4. Khoanh vùng miền chọn nghề của từng học sinh.
3.5. Huy động tư vấn – hướng nghiệp của giáo viên bộ môn, bộ phận tuyển sinh
và các lực lượng ngoài nhà trường.
3.6. Quyết định chọn trường.
4. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
4.1. BIỆN PHÁP 1: Điều tra, nâng cao nhận thức về nghề nghiệp cho học sinh.

Một thực tế rút ra sau khi điều tra bước đầu cho thấy, là những học sinh
có điểm đầu vào cao nhất khối, tuy chưa nắm rõ bản chất nghề nghiệp nhưng đa
phần các em đều lựa chọn những ngành đang rất “nóng” của xã hội về thu nhập,
hay những nghành vốn nổi tiếng về “nhãn”, về “mác” như ngoại thương, ngân
hàng, tài chính, bác sỹ… và không mặn mà, thậm chí không có học sinh nào lựa
chọn các nghề như nông nghiệp, sư phạm, học nghề…
Bước 2. Nâng cao nhận thức của học sinh về nghề nghiệp.
Sau khi tổng hợp điều tra, tôi tiến hành:
- Thẳng thắn nhận xét trước lớp về vấn đề hướng nghiệp của các em, chỉ rõ sự
không hợp lí giữa việc lựa chọn trường đào tạo nghề và nghề muốn làm, sự quan
niệm phiến diện về một số ngành nghề, sự bất hợp lí trong cơ cấu ngành từ việc
lựa chọn nghề của các em và cuối cùng là chỉ rõ cho học sinh thấy từ những bất
hợp lí trên có thể dẫn đến sự mâu thuẫn giữa “cung” và “cầu” trong vấn đề lao
động và giải quyết việc làm.
- Cung cấp thông tin về các loại ngành nghề trong xã hội, về nhu cầu xã hội và
những xu hướng nghề nghiệp trong thời gian tới. Để có những thông tin này tôi
phải tìm hiểu từ nhiều kênh thông tin như trên tivi, mạng internet, thực tế xã hội,
từ những người hiểu biết nhiều về ngành nghề trong xã hội, từ các học sinh cũ
đã đi làm hoặc đang là sinh viên…

Ví dụ: Nước ta là nước đang phát triển

nên nhu cầu xây dựng, giao thông, các ngành kĩ thuật vẫn còn nhiều. Sức khỏe

6


người dân ngày càng được quan tâm nên còn cần nhiều y, bác sỹ, đặc biệt là
những người được đào tạo chính quy…
Cuối cùng, tôi vẫn khẳng định với học sinh: Các em vẫn còn 3 năm để



học sinh sơ bộ nắm bắt các ngành nghề trong xã hội và nhu cầu xã hội về một số
ngành nghề.
Ví dụ: Có các nhóm nghề như: Nhóm nghề y dược, sư phạm, kĩ thuật, tài
chính – ngân hàng, kinh tế…Hay thuộc nhóm nghề y có các nghề như: Bác sỹ đa
khoa, bác sỹ răng hàm mặt, y sĩ, kĩ thuật y học, bác sỹ chẩn đoán hình ảnh, bác
sỹ đông y, bác sỹ điều dưỡng… và nhu cầu xã hội về các nghề này đang còn rất
lớn để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Bước 2. Sau khi kết thúc phần hướng nghiệp (cuối chương trình công nghệ 10),
tôi đã hướng học sinh lớp chủ nhiệm theo mục đích tư vấn – hướng nghiệp bằng
cách viết 1 bài thu hoạch với sự định hướng của giáo viên chủ nhiệm như sau:
1. Em thích làm nghề gì trong tương lai?
2. Tại sao em lại chọn nghề đó?
3. Những yêu cầu đối với người làm nghề đó (Sức khỏe, khéo tay, thông
minh, nhẫn nại, năng khiếu…)?
4. Nếu em làm nghề đó em thấy có những thuận lợi và khó khăn gì?
- Trước mắt:
- Lâu dài:
Bước 3. Phân tích kết quả:
Để đồng hành cùng tư vấn – hướng nghệp trong suốt khóa học, tôi đã
thống kê kết quả điều tra theo mẫu sau:
(Bảng 1)
Họ và tên

TT

Nghề lựa

Lí do lựa

(trường thi đại học: Đại học giao thông vận tải). Tôi đã đưa ra lời khuyên: Nghề
này rất vất vả cho nữ, vì phải bám sát công trình thi công, những công trình này
không gần nhà và luôn thay đổi nên khó khăn cho đi lại, ăn ở, đặc biệt khi em có
gia đình và có con nhỏ. Lời khuyên bước đầu khi em còn học lớp 10 đã có tác
dụng rõ rệt, những suy nghĩ ban đầu của em đã thay đổi và cuối năm lớp 12 em
đã chọn thi 2 trường đại học là đại học nông nghiệp Hà Nội (khoa công nghệ
sinh học – khối A) và đại học y Hải Phòng (khoa bác sỹ đa khoa) đều đậu với số
điểm cao.
4.4. BIỆN PHÁP 4. Khoanh vùng miền chọn nghề.
Từ những việc làm trên, kết thúc năm học lớp 10 học sinh lớp tôi chủ
nhiệm đã dần định hình được nghề nghiệp trong tương lai và nhận thấy rằng tư
vấn - hướng nghiệp rất quan trọng trong quyết định nghề nghiệp của các em. Vì
các em đều là học sinh mũi nhọn nên miền chọn nghề của các em còn đang rất
rộng, vậy để khoanh vùng miền chọn nghề của các em, tôi đã tiến hành như sau:
Bước 1. Động viên các em tham gia khảo sát đại học các môn trong khối mà các
em sẽ thi đại học (khối A hoặc khối B hoặc cả khối A và khối B), thực tế kết quả
khảo sát đaị học trong những năm gần đây trở thành một chỉ tiêu chất lượng
đánh giá năng lực học sinh. Công việc này được tiến hành từ khi các em còn học
lớp 11, để các em tiếp cận dần với kì thi đại học.
Bước 2. Cho học sinh đăng kí mục tiêu của mỗi lần tham gia khảo sát đại học.
Trước mỗi lần khảo sát đại học, sau khi học sinh đã đăng kí khối thi, tôi lập danh

9


sách, cho học sinh thời gian suy nghĩ và yêu cầu học sinh hoàn thành nội dung
như sau:
(Bảng 2)
TT Họ và tên
1


B

8

/

7,5

8

23,5

A

8,5

8

8,5

/

25

B

/

/


Phạm
Thị An

2

Mục tiêu khảo sát

Kết quả khảo sát

Đánh

toán lí

hóa

sinh

Tổng

toán



Hóa

sinh

Tổng


6

8

20

6,5

/

7

7,5

20,0

Đạt

Nguyễn A

5

5

5

/

15


16

4

/

4

5,5

13,5

Không
đạt

….

Qua kết quả thống kê mỗi lần khảo sát đại học, tôi chia học sinh lớp chủ
nhiệm thành 2 nhóm:
Nhóm 1: Nhóm đạt được mục tiêu đặt ra. Nhóm này tiếp tục cố gắng.
10


Nhóm 2: Nhóm không đạt mục tiêu đặt ra. Với nhóm này, tôi phân tích để
học sinh thấy rõ khả năng có thể hoàn thành mục tiêu của mình, những khó khăn
các em gặp phải, năng lực bản thân và khả năng hoàn thành mục tiêu. Từ đó
động viên, khích lệ, phân tích để các em có chiến lược sát thực và hiệu quả hơn,
như nỗ lực học tập trong thời gian tới hoặc thay đổi mục tiêu bản thân (Ví dụ:
Từ mục tiêu đại học xuống mục tiêu cao đẳng)…
Bước 4. Đánh giá kết quả các lần khảo sát đại học.


tiêu

quả

tiêu

quả

Đánh giá
Số lần

Tỉ

đạt mục lệ
tiêu

(%)

1

Phạm Thị An A

19

19,5 19

20,0 19

19,5 3/3

học, chỉ nên thi cao đẳng hoặc trung học chuyên nghiệp hoặc tham gia thi đại
học nhưng để xét tuyển xuống cao đẳng.
Cuối cùng, sau khi đã phân tích, tư vấn cho học sinh, tôi yêu cầu học sinh
tìm hiểu và hoàn thiện bảng thống kê sau:
11


Bảng 5
TT

Họ và

Trường

tên

thi

Khối

Điểm chuẩn 3

Điểm các lần

Đánh

năm gần nhất

khảo sát đại học


chuyện trong tiết sinh hoạt với các em hoặc mở hộp thư, trang wed và giới thiệu
với các em để các em tiện trao đổi, tư vấn. Từ đó, các em và phụ huynh học sinh
nhận thấy được việc chọn trường của mình là sự kết hợp năng lực, nguyện vọng
và nhu cầu xã hội về các ngành nghề hiện nay và tương lai, từ đó đưa ra quyết
định chọn trường.
4.6. BIỆN PHÁP 6: Quyết định chọn trường.
Để giúp học sinh quyết định chọn trường thi chuyên nghiệp, trong lần họp
phụ huynh cuối cùng của lớp 12 (khoảng cuối tháng 2 năm 2007 - đối với lớp D,
cuối tháng 2 năm 2010 – đối với lớp B1, cuối tháng 2 năm 2013 – đối với lớp
12


E1), tôi thông báo tới các phụ huynh kết quả tư vấn – hướng nghiệp trong suốt
khóa học của tôi, sự nỗ lực của phụ huynh học sinh, sự tư vấn của các lực lượng
khác đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức nghề nghiệp của các em, đây là kết
quả đáng mừng và cần phát huy. Đồng thời, tôi photo và gửi tới các phụ huynh
bảng thống kê trường thi, điểm chuẩn 3 năm gần nhất và điểm khảo sát đại học
các lần khảo sát mà các em đã thống kê (bảng 4 và bảng 5), kết hợp với học lực
mà các em đạt được trong 3 năm học, đặc biệt tôi quan tâm đến sự tiến bộ của
các em trong học tập các môn thuộc khối thi. Trên cơ sở đó tôi và các phụ huynh
tư vấn – hướng nghiệp cho từng học sinh để các em quyết định lựa chọn các
trường đăng kí tuyển sinh.
Vì trường THPT Triệu Sơn 3 nằm ở vùng bán sơn địa, lực học của học
sinh “đuối” hơn so với học sinh các trường THPT khác trong huyện, trong khi
nguyện vọng được học lên đại học và tìm được việc làm của các em là rất tha
thiết, vì thế kinh nghiệm của tôi tư vấn chọn trường cho học sinh lớp chủ nhiệm
(lớp mũi nhọn của trường) là các em làm hồ sơ ít nhất 3 trường đại học. Khối thi
chủ đạo làm hồ sơ 2 trường, 2 trường này cùng ngành học là tốt nhất, 1 trường
có điểm trúng tuyển những năm trước gần với điểm khảo sát đại học của các em,
1 trường có điểm chuẩn những năm gần đây thấp hơn so với điểm khảo sát đại

sinh
1
2
3
4

13


Công tác tư vấn – hướng nghiệp dường như dừng lại ở đây nhưng thực tế,
công tác này vẫn tiếp diễn cho đến khi các em đi thi tuyển sinh. Từ bảng thống
kê trên, giáo viên chủ nhiệm kết hợp với các lực lượng khác, đặc biệt là phụ
huynh học sinh tiếp tục tư vấn để học sinh quyết định cuối cùng thi trường nào?
Cụ thể:
Nếu lực học của học sinh cuối năm ngày càng tiến bộ thì chọn trường
đăng kí thi có điểm chuẩn hàng năm cao hơn.
Nếu lực học của học sinh cuối năm không tiến bộ thì chọn trường đăng kí
thi có điểm chuẩn hàng năm thấp hơn.
Với những quá trình và công tác tư vấn – hướng nghiệp trên học sinh sẽ
có được quyết định đúng đắn cuối cùng khi dự thi đại học.
5. KẾT QUẢ
5.1. Lớp D, khóa học 2004 - 2007 (Khóa đối chứng).
Khi mới ra trường, tôi được giao chủ nhiệm lớp D (lớp chọn khối B) khóa
học 2004 – 2007, tôi đã rất vui mừng khi làm công tác chủ nhiệm một lớp chọn
được định hướng học khối B ngay từ đầu, có đầu vào trung bình. Nhưng do chưa
có kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm nên tôi chỉ mới chú trọng đến quản lí
học sinh, phát động các phong trào thi đua mà chưa quan tâm đến tư vấn –
hướng nghiệp cho học sinh, tôi nghĩ rằng học sinh có khả năng lựa chọn đúng
nghề nghiệp và trường học. Nhưng thực tế năm đó tôi đã thất bại, kết quả thi
chuyên nghiệp của lớp 12D như sau:


7

12.7

(Có học sinh vừa thi đại học, vừa thi cao đẳng, có học sinh vừa thi cao
đẳng, vừa thi TCCN...).
- Kết quả thi tuyển:
Tỉ lệ đậu chuyên nghiệp của các em là 19/55 = 34,5%
Cụ thể:
14


TT

Phân loại học sinh thi

Số học

Số bộ hồ

Số học

theo nguyên vọng

sinh

sơ đăng kí

sinh thi

3

Trung cấp

7

8

5

71,4%

Tổng số học sinh thi đậu chuyên nghiệp

19/55 học 34,5%
sinh

- Lĩnh vực nghề nghiệp:
Thi vào nghành y chiếm 75%, thi sư phạm chiếm 20%, khoảng 5% thi vào
các lĩnh vực khác như nông nghiệp, công nghệ sinh học...
Như vậy, với khóa học này tỉ lệ đậu của các em rất thấp, ngành nghề lựa
chọn không linh hoạt, chọn nghề trong phạm vi hẹp, tỉ lệ học sinh thi tuyển ở
bậc đại học phản ánh sai với năng lực thực tế của học sinh.
5.2. Lớp B1, khóa học 2007 - 2010 (Khóa thí nghiệm).
Đây là lớp mũi nhọn ban KHTN của trường khóa học 2007 - 2010, đầu
vào của học sinh cao nhất trường và tương đối đồng đều. Với khóa học này tôi
đã áp dụng những kinh nghiệm tư vấn - hướng nghiệp cho học sinh lớp chủ
nhiệm ngay từ đầu khóa học và kết quả đạt được:
Sĩ số học sinh: 47
- Thống kê số học sinh tham gia thi tuyển:

Tỉ lệ đậu chuyên nghiệp của các em là 43/47 = 91,48%
Cụ thể:
Số học sinh thi

Đại học

Cao đẳng

TCCN

Tổng

đậu
15


Nguyện vọng 1

35

2

2

39

Nguyện vọng 2

3



TT

Số học sinh theo học

1

Ngoại thương

02

2

An ninh, cảnh sát

03

3

Quân đội

05

4

Xây dựng, giao thông

04

5

10

Các ngành thuộc lĩnh vực khác

03

Từ kết quả trên cho thấy phương pháp tư vấn – hướng nghiệp của tôi đã
mang lại hiệu quả rất thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, đồng thời
cũng cho thấy tư vấn - hướng nghiệp là cần thiết đối với học sinh THPT.

16


5.3. Lớp E1, khóa học 2010 - 2013 (Khóa thí nghiệm).
Từ hiệu quả của công tác tư vấn - hướng nghiệp, tôi tiếp tục áp dụng và
phát huy ở khóa học 2010 - 2013. Với khóa học này tôi lại được BGH nhà
trường giao chủ nhiệm lớp E1, đây là lớp có nhiều điểm tương đồng với lớp B1
(khóa học 2007 - 2010), cũng là lớp mũi nhọn ban KHTN của trường ở khóa học
này có đầu vào cao nhất trường và đồng đều. Tuy nhiên đây là khóa học diễn ra
trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế trong nước và thế giới kéo dài và sự mất cân
bằng trong đào tạo các ngành nghề, nhưng tôi vẫn kiên trì với công tác tư vấn –
hướng nghiệp của mình, kết quả bước đầu các em nộp hồ sơ thi tuyển như sau:
Sĩ số học sinh: 42
- Thống kê số học sinh tham gia thi tuyển:
Sĩ số Học sinh thi đại học
Số lượng
42

Tỉ lệ %


1

Quân đội

13

2

An ninh

03

3

Cảnh sát

04

4

Ngành y

27

5

Ngành dược

08


17


Nhìn vào bảng thống kê trên cho thấy, xu hướng nghề nghiệp của các em đã
chuyển dịch sang khối kĩ thuật, y, dược và đặc biệt quan niệm về các ngành
trong lĩnh vực nông nghiệp đã thay đổi theo hướng tích cực, học sinh làm hồ sơ
dự thi trong các ngành thuộc khối kinh tế giảm đáng kể. Đồng thời kết quả trên
cũng cho thấy sự có sự phân luồng học sinh theo năng lực bản thân, theo nhu
cầu xã hội phù hợp với mục đích hướng nghiệp hiện nay của Bộ GD - ĐT. Tuy
kì thi đại học 2012 – 2013 chưa diễn ra, nên chưa có kết quả sát thực, nhưng tôi
có niềm tin rằng công tác tư vấn – hướng nghiệp của tôi là rất hiệu quả và sát
thực.

18


C - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. KẾT LUẬN
Người giáo viên là người đưa đò, đặc biệt trách nhiệm này lại rất vinh dự
khi đặc biệt quan trọng đối với người giáo viên chủ nhiệm. Để giúp mỗi “con
đò” học sinh, đến được với bến bờ tương lai tươi sáng thì đòi hỏi người giáo
viên chủ nhiệm không chỉ truyền thụ kiến thức, hô hào hưởng ứng các phong
trào hay tìm các biện pháp đẩy mạnh học tập của lớp chủ nhiệm…Mà hơn thế
người giáo viên chủ nhiệm phải là chỗ dựa tinh thần, là tấm gương, là người dẫn
đường chỉ lối cho các em, để những học sinh đang chập chững vào đời có được
bước đi vững vàng trong tương lai. Khi vận dụng “một số kinh nghiệm tư vấn –
hướng nghiệp cho học sinh lớp chủ nhiệm” tôi đã gặt hái được những kết quả
khả quan và đã chứng minh phương pháp của mình mang lại kết quả thiết thực
trong tư vấn - hướng nghiệp cho học sinh, góp phần tích cực vào hướng ngiệp,
phân luồng lao động THPT.

nhiệm tư vấn – hướng nghiệp cho phụ huynh học sinh.
4.3. BIỆN PHÁP 3: Lồng ghép hướng nghiệp trong các tiết dạy.
4.4. BIỆN PHÁP 4: Khoanh vùng miền chọn nghề của từng học sinh.
4.5. BIỆN PHÁP 5: Huy động tư vấn – hướng nghiệp của giáo viên bộ môn,
bộ phận tuyển sinh và các lực lượng ngoài nhà trường.
4.6. BIỆN PHÁP 6: Quyết định chọn trường.
5. KẾT QUẢ
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
1. KẾT LUẬN
2. ĐỀ XUẤT

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status