một số kinh nghiệm tư vấn – hướng nghiệp cho học sinh lớp chủ nhiệm - Pdf 24

A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đã khởi sắc về nhiều mặt,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Để hoà
chung vào xu thế đó, đòi hỏi mỗi người phải luôn trau dồi kiến thức và lựa chọn
một hướng đi đúng đắn trong tương lai cho mình. Đặc biệt là đối với học sinh
THPT lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành mối quan tâm thường xuyên, chi phối
suy nghĩ và hành động của các em. Việc lựa chọn nghề của học sinh không chỉ
xác định hướng đi cho cuộc đời của mỗi cá nhân mà còn có tác dụng tới toàn xã
hội vì sau đó nó thúc đẩy hoặc kìm hảm sự đóng góp của cá nhân đối với xã hội.
Chọn nghề phù hợp với năng lực, nguyện vọng, hứng thú sẽ tạo một động lực
lớn thúc đẩy cá nhân say sưa, miệt mài, tích cực khám phá và sáng tạo để hoạt
động tốt trong nghề, ngược lại họ sẽ băn khoăn day dứt trong suốt cuộc đời.
Nhấn mạnh vai của sự phù hợp với nghề, cố Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã nói
“Có những nghề phù hợp với sở trường và năng lực, nhưng chưa thể là nghề
“kiếm cơm”, tuy vậy đến một giai đoạn chín muồi, khi đã thực sự vững tay nghề
sở đắc thì sẽ bước vào thời “nhất nghệ tinh, nhất nhân vinh”.
Nhưng để có sự lựa chọn đúng thì quả là vấn đề rất khó đối với lứa tuổi này
vì kinh nghiệm vốn có của học sinh chưa đủ để các em quyết định con đường
lao động tương lai. Sự lựa chọn nghề của học sinh THPT không chỉ phụ thuộc
vào các đặc điểm tâm, sinh lý của các em và những tác động sư phạm của nhà
giáo dục mà còn phụ thuộc vào yếu tố xã hội.
Là một giáo viên với kinh nghiệm 9 năm làm công tác chủ nhiệm, tôi luôn
nhận thức rõ tư vấn - hướng nghiệp trong trường THPT là một hoạt động giáo
dục quan trọng. Đặc biệt, vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong tư vấn - hướng
nghiệp cho học sinh lớp chủ nhiệm lại càng quan trong trọng hơn, nó có tính
chất quyết định, giúp các em học cách làm chủ cuộc đời, làm chủ tương lai.
Bởi thế tôi đã không ngừng suy nghĩ, học hỏi và đúc rút ra những kinh
nghiệm mới trong hành trình làm công tác chủ nhiệm của mình. Những giải
pháp để giúp các em có được sự lựa chọn đúng đắn trên con đường đi đến tương
lai của mình, những giải pháp này bước đầu đã thu được những kết quả đáng
khích lệ, làm tôi yêu nghề hơn và mạnh dạn ghi lại: “Một số kinh nghiệm tư

nhu cầu xã hội thì không biết đến khi nào mới cần tới… Trong khi đó, có những
học sinh kết quả học tập THPT không có gì nổi bật, nhưng lại dễ dàng đậu đại
2
học và khi vừa tốt nghiệp đại học đã có những đơn vị đến “chào mời” về làm
việc như em Nguyễn Tiến Thành (khóa 2004 - 2007) thi đậu khoa thú y đại học
Nông nghiệp I Hà Nội với số điểm thi 15,0 cầm phiếu báo đậu đại học nhiều
hàng xóm láng giềng và anh em dè bửu “đang muốn thoát khỏi nông nghiệp thì
không, lại học cái ngành đó rồi thì cuối cùng cũng là nông dân thôi”, thế nhưng
với quyết tâm của bản thân và sự động viên của thầy cô, bạn bè, em quyết tâm
học tập, và khi vừa ra trường em đã được tuyển dụng vào cục thú y Hà Nội,
tương lai rộng mở với nhiều cơ hội cống hiến và thăng tiến. Hay có những học
sinh ngay từ đầu rất biết “lượng sức” mình không giám thi đại học mà lựa chon
việc học một nghề phù hợp, thế nhưng chỉ trong một thời gian ngắn lại trở nên
nổi tiếng với tay nghề vững vàng và có thu nhập khá…
Đối với công tác tư vấn – hướng nghiệp ở trường THPT: Công tác tư vấn
– hướng nghiệp thực tế là một hoạt động giáo dục rất quan trọng trong những
năm gần đây ở các trường THPT nói chung, tuy nhiên, công tác này hầu hết là
kiêm nhiệm, lồng ghép trong các tiết học, lồng ghép trong hoạt động ngoài giờ
lên lớp, hoặc chỉ mang tính giới thiệu với một thời lượng rất ngắn trong 8 tiết
hướng nghiệp ở chương trình công nghệ 10. Chính vì thời lượng dành cho tư
vấn – hướng nghiệp THPT quá ít, nên giáo viên không có điều kiện tiếp cận đến
từng đối tượng học sinh, để hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng nghề nghiệp tương lai
cũng như sự phù hợp với năng lực cá nhân và nhu cầu xã hội của các em. Bên
cạnh đó giáo viên thiếu thông tin về hướng nghiệp, không được tập huấn và
trang bị kiến thức đầy đủ, không hiểu biết về nhu cầu xã hội, về năng lực sở
trường của bản thân, ngoài ra một số giáo viên còn thờ ơ với việc hướng nghiệp
cho học sinh. Trong khi đó các chương trình tư vấn – hướng nghiệp bài bản lại
chỉ tiến hành khi học sinh chuẩn bị làm hồ sơ tuyển sinh và nhiều chương trình
lại chỉ mang tính chất giới thiệu, quảng bá cho một số trường chuyên nghiệp.
Đối với phụ huynh học sinh: Nhận thức của phụ huynh học sinh về việc

Thực trạng trên đã làm tôi trăn trở rất nhiều, nghĩ ra rất nhiều phương án
khác nhau để cải thiện, nhưng thú thật quá trình tư vấn – hướng nghiệp thật
không dễ, đòi hỏi phải có kế hoạch, phương pháp hợp lí và kiên trì trong một
khoảng thời gian dài. Tuy vậy, với lòng yêu nghề và hết lòng vì học sinh tôi
quyết tâm thực hiện, bởi nếu không giải quyết được vấn đề này thì hậu quả mà
nó đem lại thật đáng lo ngại, đặc biệt là một giáo viên chủ nhiệm trách nhiệm tư
4
vấn - hướng nghiệp cho học sinh lớp chủ nhiệm lại càng nặng nề và bức thiết
hơn. Giáo viên chủ nhiệm tuy không phải là người quyết định nghề nghiệp cho
học sinh, nhưng lại là người bằng kinh nghiệm và sự trau rồi của bản thân có thể
trở thành người tư vấn tích cực và sâu sát nhất tới học sinh của lớp chủ nhiệm.
3. GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
3.1. Điều tra, nâng cao nhận thức về nghề nghiệp cho học sinh.
3.2. Nâng cao nhận thức về xu hướng nghề nghiệp và trách nhiệm tư vấn –
hướng nghiệp cho phụ huynh học sinh.
3.3. Lồng ghép hướng nghiệp trong các tiết dạy.
3.4. Khoanh vùng miền chọn nghề của từng học sinh.
3.5. Huy động tư vấn – hướng nghiệp của giáo viên bộ môn, bộ phận tuyển sinh
và các lực lượng ngoài nhà trường.
3.6. Quyết định chọn trường.
4. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
4.1. BIỆN PHÁP 1: Điều tra, nâng cao nhận thức về nghề nghiệp cho học sinh.
Bước 1. Điều tra nhận thức nghề nghiệp của học sinh trong tương lai.
Ngay từ đầu mỗi khóa học, khi vừa nhận lớp, trong buổi đầu tiên gặp mặt
các em để nắm bắt nhanh về lí lịch, sở thích… tôi đã yêu các em hoàn thiện bản
“thông tin cá nhân” như sau:
5
THÔNG TIN CÁ NHÂN
1. Họ và Tên………………………………………Giới tính………………
2. Ngày sinh………………………………………Dân tộc………………

lựa chọn nghề của các em và cuối cùng là chỉ rõ cho học sinh thấy từ những bất
hợp lí trên có thể dẫn đến sự mâu thuẫn giữa “cung” và “cầu” trong vấn đề lao
động và giải quyết việc làm.
- Cung cấp thông tin về các loại ngành nghề trong xã hội, về nhu cầu xã hội và
những xu hướng nghề nghiệp trong thời gian tới. Để có những thông tin này tôi
phải tìm hiểu từ nhiều kênh thông tin như trên tivi, mạng internet, thực tế xã hội,
từ những người hiểu biết nhiều về ngành nghề trong xã hội, từ các học sinh cũ
đã đi làm hoặc đang là sinh viên… Ví dụ: Nước ta là nước đang phát triển
nên nhu cầu xây dựng, giao thông, các ngành kĩ thuật vẫn còn nhiều. Sức khỏe
6
người dân ngày càng được quan tâm nên còn cần nhiều y, bác sỹ, đặc biệt là
những người được đào tạo chính quy…
Cuối cùng, tôi vẫn khẳng định với học sinh: Các em vẫn còn 3 năm để
nuôi ước mơ, để thay đổi tương lai và để nhận thức đúng hơn về “nghề” và
“nghiệp”, vì thế ngay từ bây giờ các em phải nổ lực trong học tập, tu dưỡng, tìm
hiểu và lắng nghe “tích cực” về tư vấn - hướng nghiệp.
4.2. BIỆN PHÁP 2: Nâng cao nhận thức về xu hướng nghề nghiệp và trách
nhiệm tư vấn – hướng nghiệp cho phụ huynh học sinh.
Tôi nhận thức rõ để làm tốt công tác hướng nghiệp thì phụ huynh học sinh
đóng vai trò rất quan trọng. Vì thể, ngay trong phiên họp phụ huynh học sinh lần
thứ nhất (đầu lớp 10) tôi đã thông báo tới các phụ huynh học sinh kết quả điều
tra bước đầu nhận thức về nghề nghiệp từ học sinh, những bất cập, mù mờ, hoài
nghi… về nghề nghiệp trong tương lai. Cung cấp cho các phụ huynh những
thông tin về nghề nghiệp, về nhu cầu của xã hội hiện tại và xu hướng nghề
nghiệp trong tương lai. Đây là những thông tin rất quan trọng đối với các phụ
huynh, đặc biệt phụ huynh học sinh trường THPT Triệu Sơn 3 đa số làm nghề
nông thuần túy, nhận thức về nghề nghiệp còn nhiều hạn chế và qua đó, tôi tranh
thủ sự đồng thuận của phụ huynh học sinh về vấn đề tư vấn - hướng nghiệp và
cũng ngầm giao “nhiệm vụ” cho các phụ huynh theo dõi, định hướng, tìm hiểu
và động viên các em, để các em có đủ tự tin khi quyết định lựa chọn nghề ở cuối

Để đồng hành cùng tư vấn – hướng nghệp trong suốt khóa học, tôi đã
thống kê kết quả điều tra theo mẫu sau:
(Bảng 1)
TT Họ và tên Nghề lựa
chọn
Lí do lựa
chọn
Thuận lợi Khó khăn
1
2
3
4

Từ việc điều tra tôi đã thu được các kết quả sau:
Thứ nhất: Hầu hết học sinh định hướng rõ ràng hơn về công việc mà mình
yêu thích.
8
Thứ hai: Việc chọn nghề của các em đã có cơ sở như dựa vào năng lực, sở
thích bản thân, thu nhập mong muốn, điều kiện gia đình, cơ hội việc làm…
Thứ ba: Hầu hết học sinh cũng nhận thức rõ những thuận lợi, mà đặc biệt
là những khó khăn mà các em sẽ phải đối mặt trước mắt cũng như lâu dài khi
theo đuổi nghề mình thích.
Trên cơ sở thống kê này tôi từng bước nhận định về từng học sinh, từng
nhóm học sinh, từ đó phối hợp với phụ huynh học sinh theo dõi, giúp đỡ, động
viên, kích lệ để các em vững tin theo đuổi ước mơ của mình, cũng như đưa ra lời
khuyên bước đầu cho các em.
Ví dụ: Em Triệu Thị Linh (2007 - 2010), em muốn làm kĩ sư cầu đường
(trường thi đại học: Đại học giao thông vận tải). Tôi đã đưa ra lời khuyên: Nghề
này rất vất vả cho nữ, vì phải bám sát công trình thi công, những công trình này
không gần nhà và luôn thay đổi nên khó khăn cho đi lại, ăn ở, đặc biệt khi em có

B
Đây là một chút áp lực trước kì thi để các em quen dần với áp lực khi thi
đại học, đồng thời đây là thước đo về sự nổ lực cũng như kiểm chứng về khả
năng hoàn thành mục tiêu đề ra của bản thân.
Bước 3. Tổng hợp kết quả mỗi lần khảo sát.
Sau khi có kết quả khảo sát đại học ở mỗi lần, tôi thống kê kết quả theo
mẫu sau:
(Bảng 3)
T
T
Họ và
tên
Khối
thi
Mục tiêu khảo sát Kết quả khảo sát Đánh
giá
toán lí hóa sinh Tổng toán lí Hóa sinh Tổng
1 Phạm
Thị An
A 6 7 6 / 19 6,5 6 7 / 19,5 Đạt
B 6 / 6 8 20 6,5 / 7 7,5 20,0 Đạt
2 Nguyễn
Thị
Linh
A 5 5 5 / 15 4 4 4,5 / 12,5 Không
đạt
B 5 / 5 6 16 4 / 4 5,5 13,5 Không
đạt
….
Qua kết quả thống kê mỗi lần khảo sát đại học, tôi chia học sinh lớp chủ

Tỉ
lệ
(%)
1 Phạm Thị An A 19 19,5 19 20,
0
19 19,5 3/3 100
2 Nguyễn Thị
Linh
A 15 12,5 15 13,0 15 13,0 0 0

Từ kết quả thống kê trên tôi tiếp tục chia lớp thành 3 nhóm:
Nhóm 1. Nhóm có 100% các lần khảo sát đại học đạt mục tiêu.
Nhóm 2. Nhóm có từ 50% số lần khảo sát đại học đạt mục tiêu trở lên.
Nhóm 3. Nhóm có số lần khảo sát đại học đạt mục tiêu dưới 50% hoặc không
đạt mục tiêu lần nào.
Trên cơ sở thống kê trên tôi tư vấn với mỗi nhóm như sau:
- Đối với học sinh thuộc nhóm 1: Tạm yên tâm về mục tiêu đại học nhưng cần
cố gắng để đạt được mục tiêu thi đại học cuối cùng.
- Đối với học sinh thuộc nhóm 2: Để đạt được mục tiêu đại học thì cần nỗ lực
rất nhiều, đồng thời cần chuyển mục tiêu của mình cả sang thi cao đẳng.
- Đối với học sinh thuộc nhóm 3: Các em không nên đặt cho mình mục tiêu đại
học, chỉ nên thi cao đẳng hoặc trung học chuyên nghiệp hoặc tham gia thi đại
học nhưng để xét tuyển xuống cao đẳng.
Cuối cùng, sau khi đã phân tích, tư vấn cho học sinh, tôi yêu cầu học sinh
tìm hiểu và hoàn thiện bảng thống kê sau:
Bảng 5
TT Họ và
tên
Trường
thi

Với những lực lượng này, tôi liên lạc và tổ chức những cuộc gặp gỡ nói
chuyện trong tiết sinh hoạt với các em hoặc mở hộp thư, trang wed và giới thiệu
với các em để các em tiện trao đổi, tư vấn. Từ đó, các em và phụ huynh học sinh
nhận thấy được việc chọn trường của mình là sự kết hợp năng lực, nguyện vọng
và nhu cầu xã hội về các ngành nghề hiện nay và tương lai, từ đó đưa ra quyết
định chọn trường.
4.6. BIỆN PHÁP 6: Quyết định chọn trường.
Để giúp học sinh quyết định chọn trường thi chuyên nghiệp, trong lần họp
phụ huynh cuối cùng của lớp 12 (khoảng cuối tháng 2 năm 2007 - đối với lớp D,
cuối tháng 2 năm 2010 – đối với lớp B1, cuối tháng 2 năm 2013 – đối với lớp
E1), tôi thông báo tới các phụ huynh kết quả tư vấn – hướng nghiệp trong suốt
khóa học của tôi, sự nỗ lực của phụ huynh học sinh, sự tư vấn của các lực lượng
khác đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức nghề nghiệp của các em, đây là kết
quả đáng mừng và cần phát huy. Đồng thời, tôi photo và gửi tới các phụ huynh
12
bảng thống kê trường thi, điểm chuẩn 3 năm gần nhất và điểm khảo sát đại học
các lần khảo sát mà các em đã thống kê (bảng 4 và bảng 5), kết hợp với học lực
mà các em đạt được trong 3 năm học, đặc biệt tôi quan tâm đến sự tiến bộ của
các em trong học tập các môn thuộc khối thi. Trên cơ sở đó tôi và các phụ huynh
tư vấn – hướng nghiệp cho từng học sinh để các em quyết định lựa chọn các
trường đăng kí tuyển sinh.
Vì trường THPT Triệu Sơn 3 nằm ở vùng bán sơn địa, lực học của học
sinh “đuối” hơn so với học sinh các trường THPT khác trong huyện, trong khi
nguyện vọng được học lên đại học và tìm được việc làm của các em là rất tha
thiết, vì thế kinh nghiệm của tôi tư vấn chọn trường cho học sinh lớp chủ nhiệm
(lớp mũi nhọn của trường) là các em làm hồ sơ ít nhất 3 trường đại học. Khối thi
chủ đạo làm hồ sơ 2 trường, 2 trường này cùng ngành học là tốt nhất, 1 trường
có điểm trúng tuyển những năm trước gần với điểm khảo sát đại học của các em,
1 trường có điểm chuẩn những năm gần đây thấp hơn so với điểm khảo sát đại
của các em. Khối còn lại làm hồ sơ 1 trường. Đây chính là luận điểm “kiềng ba

Với những quá trình và công tác tư vấn – hướng nghiệp trên học sinh sẽ
có được quyết định đúng đắn cuối cùng khi dự thi đại học.
5. KẾT QUẢ
5.1. Lớp D, khóa học 2004 - 2007 (Khóa đối chứng).
Khi mới ra trường, tôi được giao chủ nhiệm lớp D (lớp chọn khối B) khóa
học 2004 – 2007, tôi đã rất vui mừng khi làm công tác chủ nhiệm một lớp chọn
được định hướng học khối B ngay từ đầu, có đầu vào trung bình. Nhưng do chưa
có kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm nên tôi chỉ mới chú trọng đến quản lí
học sinh, phát động các phong trào thi đua mà chưa quan tâm đến tư vấn –
hướng nghiệp cho học sinh, tôi nghĩ rằng học sinh có khả năng lựa chọn đúng
nghề nghiệp và trường học. Nhưng thực tế năm đó tôi đã thất bại, kết quả thi
chuyên nghiệp của lớp 12D như sau:
Sĩ số học sinh: 55
- Thống kê số học sinh tham gia thi tuyển:
Sĩ số Học sinh thi đại học Học sinh thi cao đẳng Học sinh thi TCCN
Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %
55 48 87,2 13 23,6 7 12.7
(Có học sinh vừa thi đại học, vừa thi cao đẳng, có học sinh vừa thi cao
đẳng, vừa thi TCCN ).
- Kết quả thi tuyển:
Tỉ lệ đậu chuyên nghiệp của các em là 19/55 = 34,5%
Cụ thể:
TT Phân loại học sinh thi
theo nguyên vọng
Số học
sinh
tham gia
Số bộ hồ
sơ đăng kí
Số học

Cụ thể:
Số học sinh thi
đậu
Đại học Cao đẳng TCCN Tổng
Nguyện vọng 1
(theo mục đích tư
vấn)
35 2 2 39
Nguyện vọng 2 3 1 0 4
Tổng 38 3 2 43
Như vậy, có 39/43 học sinh đậu nguyện vọng 1 (đúng với mục tiêu hướng
nghiệp), 04 đậu nguyện vọng 2, 04 học sinh còn lại tuy có điểm thi đại học từ
17,5 – 20,0 điểm nhưng do nguyện vọng học sinh không được thỏa mãn nên các
15
em quyết định thi năm thứ hai và cả 4 em này đều đậu đại học như nguyện vọng
ở năm thứ 2 thi.
- Lĩnh vực nghề nghiệp:
Ở khóa học này, kinh tế xã hội trong nước và thế giới tương đối ổn định,
nên xu hướng nghề nghiệp ít ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp của các em,
vì thế ngành nghề mà các em lựa chọn và thi đậu phân phối trong hầu hết các
ngành tuyển sinh của khối thi A, B. Cụ thể:
TT Ngành học Số học sinh theo học
1 Ngoại thương 02
2 An ninh, cảnh sát 03
3 Quân đội 05
4 Xây dựng, giao thông 04
5 Các ngành kĩ thuật (bách khoa, công
nghiệp )
06
6 Ngành y 09

5 Ngành dược 08
6 Nông lâm nghiệp 19
7 Các ngành kĩ thuật 21
8 Các ngành xây dựng, giao thông, bưu chính
viễn thông.
11
9 Các ngành kinh tế (thương mại, ngân hàng,
tài chính, quản lí nhân lực…)
08
10 Các ngành khác 13
Tổng 127 bộ hồ sơ
Nhìn vào bảng thống kê trên cho thấy, xu hướng nghề nghiệp của các em đã
chuyển dịch sang khối kĩ thuật, y, dược và đặc biệt quan niệm về các ngành
trong lĩnh vực nông nghiệp đã thay đổi theo hướng tích cực, học sinh làm hồ sơ
dự thi trong các ngành thuộc khối kinh tế giảm đáng kể. Đồng thời kết quả trên
cũng cho thấy sự có sự phân luồng học sinh theo năng lực bản thân, theo nhu
cầu xã hội phù hợp với mục đích hướng nghiệp hiện nay của Bộ GD - ĐT. Tuy
kì thi đại học 2012 – 2013 chưa diễn ra, nên chưa có kết quả sát thực, nhưng tôi
có niềm tin rằng công tác tư vấn – hướng nghiệp của tôi là rất hiệu quả và sát
thực.
17
C - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. KẾT LUẬN
Người giáo viên là người đưa đò, đặc biệt trách nhiệm này lại rất vinh dự
khi đặc biệt quan trọng đối với người giáo viên chủ nhiệm. Để giúp mỗi “con
đò” học sinh, đến được với bến bờ tương lai tươi sáng thì đòi hỏi người giáo
viên chủ nhiệm không chỉ truyền thụ kiến thức, hô hào hưởng ứng các phong
trào hay tìm các biện pháp đẩy mạnh học tập của lớp chủ nhiệm…Mà hơn thế
người giáo viên chủ nhiệm phải là chỗ dựa tinh thần, là tấm gương, là người dẫn
đường chỉ lối cho các em, để những học sinh đang chập chững vào đời có được

4.2. BIỆN PHÁP 2: Nâng cao nhận thức về xu hướng nghề nghiệp và trách
nhiệm tư vấn – hướng nghiệp cho phụ huynh học sinh.
4.3. BIỆN PHÁP 3: Lồng ghép hướng nghiệp trong các tiết dạy.
4.4. BIỆN PHÁP 4: Khoanh vùng miền chọn nghề của từng học sinh.
4.5. BIỆN PHÁP 5: Huy động tư vấn – hướng nghiệp của giáo viên bộ môn,
bộ phận tuyển sinh và các lực lượng ngoài nhà trường.
19
4.6. BIỆN PHÁP 6: Quyết định chọn trường.
5. KẾT QUẢ
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
1. KẾT LUẬN
2. ĐỀ XUẤT
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status