Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp - Pdf 41

1

1. Lý do chọn đề tài
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong hoạt động của các NHTM thì tín
dụng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trên cả hai phương diện: Quy mô sử
dụng vốn và khả năng tạo ra lợi nhuận. Ở phương diện sử dụng vốn thì đa phần
các NHTM đều có tín dụng chiếm khoảng 70% trên tổng tài sản có. Do đó lợi
nhuận và rủi ro từ hoạt động này là cao nhất mà một NHTM phải đối mặt. [33]
Trong nền kinh tế thị trường, khi nhắc đến tín dụng thì tất cả mọi người kể
cả các nhà kinh tế đều đề cập đến vai trò to lớn của tín dụng đó là: Tín dụng là
một kênh dẫn vốn từ người thừa vốn chưa có nhu cầu sử dụng đến người đang có
nhu cầu sử dụng vốn. Theo đó, người cho vay sẽ thu được lãi, người sử dụng cuối
cùng số vốn đó sẽ tạo ra lợi nhuận, nền kinh tế sẽ tạo ra được thêm việc làm. Từ
các hệ quả trên, ta thấy tín dụng đã góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế và
có thể coi đây như là mạch máu trong một cơ thể sống. Nhưng chính hoạt động tín
dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro mà hệ quả của nó gây ra cho nền kinh tế là vô cùng
to lớn. [33]
Ngày nay, hòa mình vào xu thế hội nhập kinh tế thế giới, các doanh nghiệp,
tổ chức nước ngoài sẽ xâm nhập thị trường Việt Nam mở ra nhiều cơ hội cùng với
nhiều thách thức. Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế sẽ tạo ra một
môi trường cạnh tranh gay gắt từ đó làm cho nợ xấu có thể gia tăng gây ảnh
hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng
thương mại nói riêng. Từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các nhà quản lý về tài
chính – ngân hàng phải ứng dụng một biện pháp quản trị rủi ro sao cho hiệu quả
nhất. Và nội dung của hiệp ước Basel II (06/2004) về “Tiêu chuẩn vốn quốc tế”
giúp đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro, qua đó giảm thiểu được rủi ro
mà nhất là rủi ro tín dụng, khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận đã được xem như
là giải pháp nâng cao tiêu chuẩn ngân hàng tại hội nghị lần thứ 21 của Hiệp Hội
Ngân Hàng Châu Á.



nóng được các sinh viên, giảng viên, nghiên cứu sinh và các chuyên gia tham gia
bàn luận sôi nổi bằng các bài báo khoa học, các công trình nghiên cứu nhằm tạo
sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn để tìm được cách giải quyết hợp lý và khoa
học nhất trong lĩnh vực này.
Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học Lạc Hồng thì đề
tài về nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng đã có một số sinh viên thực
hiện. Các đề tài đều đã đề ra được một số biện pháp tháo gỡ những khó khăn tồn


3

tại trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng, mở rộng và nâng cao chất lượng hiệu
quả quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, mỗi tác giả
thực hiện đề tài của mình trong thời gian, không gian, và tình hình kinh tế xã hội
khác nhau nên sẽ có những đề xuất, kiến nghị khác nhau mà trong đó sẽ có những
đề xuất không còn phù hợp trong tình hình kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập
toàn cầu, cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay. Do đó, em quyết định tiếp tục thực
hiện đề tài này nhưng sẽ đi sâu nghiên cứu về khả năng ứng dụng Basel II – một
giải pháp được nhiều nước phát triển áp dụng trong hoạt động quản trị rủi ro tín
dụng. Từ đó nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng ở các NHTM nói chung
và Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp nói riêng.
3. Mục tiêu nghiên cứu
¾ Tiếp cận và nắm bắt được tình hình QTRRTD tại Ngân Hàng Thương Mại
Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp.
¾ Phân tích được ưu và nhược điểm của công tác QTRRTD hiện tại, đánh
giá mức độ ứng dụng Basel II trong QTRRTD tại ngân hàng.
¾ Đề ra giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao khả năng
ứng dụng Basel II trong QTRRTD từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân
Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á cũng như PGD Tân Hiệp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

tiến hành trên cơ sở thu thập mới số liệu trong hoạt động tín dụng, và việc ứng
dụng Basel II trong QTRRTD của hệ thống NHTM nói chung và Ngân Hàng
Thương Mại Cổ Phần Đại Á nói riêng trong năm 2010 sẽ đem đến cái nhìn tổng
quát về hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong tình hình hội nhập kinh tế thế giới
theo tinh thần Hiệp ước Basel II. Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao khả
năng ứng dụng Basel II trong QTRRTD, từ đó nâng cao hiệu quả QTRRTD của
các NHTM trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.
7. Kết cấu nội dung nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan lý luận về QTRRTD theo Basel II trong NHTM.
Chương 2: Thực trạng ứng dụng Basel II trong QTRRTD tại Ngân Hàng
Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân Hiệp.
Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng ứng dụng Basel II trong
QTRRTD tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đại Á – Phòng giao dịch Tân
Hiệp.


5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG THEO BASEL II TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Lý luận về RRTD trong hoạt động của NHTM
1.1.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng là một thuật ngữ có gốc từ tiếng La Tinh là: Creditum, mang ý
nghĩa “tin tưởng, tín nhiệm”. Trong Tiếng Anh đó là “Credit” và theo Tiếng Việt
diễn giải đó là sự vay mượn. [13]
Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển
giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định dựa trên
nguyên tắc có sự hoàn trả cả vốn và lãi theo thời hạn đã thỏa thuận. [13]
Cho vay vốn
Chủ thể cho vay

tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
6

493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN) thì “RRTD trong
hoạt động NH của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình theo cam kết”. [15]
Nói cách khác, RRTD là rủi ro phát sinh khi khách hàng không thực hiện
đúng các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng TD sau khi được NH cấp TD.
1.1.2.2 Phân loại RRTD
Theo nguyên nhân dẫn đến RRTD thì RRTD được phân loại theo sơ đồ sau:
Rủi ro tín
dụng

Rủi ro giao
dịch

Rủi ro lựa
chọn

Rủi ro bảo
đảm

Rủi ro danh
mục

Rủi ro

• Rủi ro nội tại là rủi ro liên quan đến những đặc điểm riêng có của từng
loại TD như là: Cho vay tín chấp hay thế chấp, thời hạn vay dài hay ngắn, lĩnh vực
hoạt động của khoản TD được cấp.
• Rủi ro tập trung xuất hiện khi ngân hàng thiếu sự đa dạng trong hoạt
động cấp TD như chỉ tập trung cấp TD có các khách hàng hoạt động trong cùng lĩnh
vực, cấp TD với lãi suất cao, … tất cả những điều này một khi có sự biến động
không tốt xảy ra thì danh mục TD của ngân hàng sẽ bị tác động toàn bộ do mang
tính tập trung nên hiệu ứng sẽ xảy ra cùng lúc.
1.1.3 Nguồn gốc phát sinh RRTD trong NHTM
1.1.3.1 Từ phía khách hàng
Khách hàng là chủ thể được cấp TD nên các nguyên nhân phát sinh RRTD từ
đối tượng này là chủ yếu nhất, như là:
Sau khi được cấp TD, khách hàng sử dụng vốn vay không đúng như cam
kết, làm ăn thua lỗ gây thất thoát vốn từ đó mất khả năng trả lãi và vốn gốc cho NH.
Khách hàng sau khi được cấp TD có hành vi vi phạm pháp luật bị cơ quan
công an truy tố phải chịu án tù hay tử hình từ đó không còn khả năng trả nợ.
Nguyên nhân phổ biến nhất gây phát sinh RRTD từ phía khách hàng đó
chính là khách hàng không có thiện chí trả nợ. Cho nên dù có khả năng tài chính
đầy đủ nhưng khách hàng vẫn tìm mọi cách trì hoãn hay từ chối thanh toán vốn gốc
và lãi cho ngân hàng.
1.1.3.2 Từ phía ngân hàng


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi



9

Chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh: Khi chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh xảy
ra thì không một cá nhân hay tổ chức nào có thể tiếp tục hoạt động sản xuất kinh
doanh. Điển hình gần đây nhất đó là khi đại dịch H1N1 bùng nổ trên toàn cầu vào
năm 2010 thì Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) yêu cầu phong tỏa, tạm ngưng hoạt
động bất cứ đơn vị nào phát hiện có dịch để kiểm tra phòng ngừa dịch bệnh lan
rộng. Trong tình hình như vậy thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
sẽ bị đình trệ nên khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.
An ninh, chính trị quốc gia: Hoạt động trong một quốc gia mất an ninh xã
hội, bất ổn về chính trị thì RRTD của ngân hàng là vô cùng lớn. Vì sau khi được cấp
TD thì khách hàng khó có thể làm ăn, kinh doanh thuận lợi trong tình hình thiếu an
ninh và bất ổn về chính trị, như vậy thu nhập và lợi nhuận sẽ không ổn định dẫn đến
việc thanh toán lãi và nợ gốc cho ngân hàng cũng khó đảm bảo đúng như cam kết
trong hợp đồng TD.
Môi trường pháp lý: Đây là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khả
năng phát sinh nợ quá hạn. Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộ luật và văn bản
dưới luật chưa được đầy đủ và đồng bộ, không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành
mạnh cho các hợp đồng kinh tế, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, gây nên các khoản nợ quá hạn cho NH. [30]
Nói chung các nguyên nhân khách quan gây ra RRTD là những nguyên nhân
nằm ngoài tầm kiểm soát của cả khách hàng lẫn ngân hàng, nên cho dù ngân hàng
có các biện pháp phòng chống RRTD tuyệt vời, khách hàng có thiện chí trả nợ thì
ngân hàng cũng khó có thể thu hồi được khoản TD đã cấp như mong muốn.
1.1.4 Tác động của RRTD
RRTD luôn tồn tại trong mọi nghiệp vụ cấp TD của NHTM mà tác động của
nó không chỉ trong nội bộ của mỗi NHTM mà nó còn có tính lan truyền trong cả hệ
thống NH và thậm chí là ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia.

rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán.[4]
1.1.4.3 Đối với nền kinh tế
Ở mức độ trầm trọng, nợ quá hạn không chỉ làm cho một NHTM bị mất vốn,
mất khả năng thanh toán, đi đến phá sản ngân hàng mà còn kéo theo sự chao đảo
của một loạt các NHTM khác trong hệ thống các ngân hàng. Sự việc đó sẽ gây rối
loạn quá trình lưu thông tiền tệ trong nước, giảm giá đồng nội tệ, dẫn đến đình trệ
sản xuất kinh doanh, gây khủng hoảng kinh tế trầm trọng. [13]
1.1.4.4 Trong quan hệ kinh tế quốc tế
Khi hệ thống ngân hàng của một quốc gia xảy ra sự cố về RRTD dẫn đến
tính thanh khoản giảm. Điều này sẽ làm xấu đi hình ảnh và uy tín trong các quan hệ
hợp tác quốc tế của các NHTM trong nước và cũng như chính quốc gia đó.


11

Tóm lại, RRTD của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức độ
khác nhau: Nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng,
không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc
và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình
trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả
nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì
vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện
pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.[4]
1.1.5 Một số chỉ tiêu đánh giá RRTD
RRTD là rủi ro không thu hồi được lãi và gốc của các khoản TD đã cấp cho
khách hàng. Vì thế các chỉ tiêu đánh giá RRTD chủ yếu ghi nhận từ các khoản nợ
quá hạn, nợ xấu. Do đó, chúng ta cần nắm rõ cách phân loại nợ của một NHTM
theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước (phụ lục 1) để hiểu được một số chỉ tiêu
đánh giá RRTD như sau:


1.1.5.3 Tình hình rủi ro mất vốn

x100% [11]


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
12

Tỷ lệ dự phòng
RRTD

=

Tỷ lệ mất vốn

=

Dự phòng RRTD được trích lập
Dư nợ cho kỳ báo cáo

x100% [8]

Mất vốn đã xóa cho kỳ báo cáo

Tổng tài sản có

x100% [8]

1.1.5.6 Khả năng bù đắp rủi ro
Dự phòng RRTD được trích lập
Hệ số khả năng bù đắp các
=
khoản cho vay bị mất
Dư nợ bị thất thoát
Hệ số khả năng bù đắp RRTD
1.2 Quản trị RRTD trong NHTM
1.2.1 Quản trị rủi ro

=

Dự phòng RRTD được trích lập
Nợ quá hạn khó đòi

x100% [8]

x100% [11]


13

1.2.1.1 Khái niệm
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có
hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất
mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro.[5]

tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
14

Trong nền kinh tế thị trường, khi nhắc đến TD thì tất cả mọi người kể cả
các nhà kinh tế đều đề cập đến vai trò to lớn của TD đó là: Tín dụng là một kênh
dẫn vốn từ người thừa vốn chưa có nhu cầu sử dụng đến người đang có nhu cầu sử
dụng vốn. Theo đó, người cho vay sẽ thu được lãi, người sử dụng cuối cùng số vốn
đó sẽ tạo ra lợi nhuận, nền kinh tế sẽ tạo ra được thêm việc làm. Từ các hệ quả trên,
ta thấy TD đã góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế và có thể coi đây như là
mạch máu của một cơ thể sống. Nhưng chính hoạt động TD luôn tiềm ẩn nhiều rủi
ro mà hệ quả của nó gây ra cho nền kinh tế là vô cùng to lớn. [33]
Như vậy, quản trị RRTD tốt đồng nghĩa với quản trị tốt hoạt động của chính
ngân hàng đó, cũng như duy trì sự vận hành của hệ thống NHTM trong nước, góp
phần ổn định và phát triển kinh tế quốc gia.
1.2.2.3 Công cụ để quản trị RRTD
™ Chính sách TD: Với chính sách TD hợp lý cùng các điều khoản
ràng buộc phù hợp sẽ giúp ngân hàng hạn chế được các khoản TD xấu.
™ Giới hạn cấp TD: Hạn mức cấp TD thấp thì tất nhiên là rủi ro
gặp phải cũng sẽ thấp.
™ Định giá khoản vay: khoản vay được định giá thận trọng thì khả
năng thu hồi sẽ cao hơn.
™ Xếp hạng TD: Những doanh nghiệp làm ăn kinh doanh hiệu quả,
năng lực tài chính mạnh sẽ được xếp hạng TD cao. Vì thế cho vay những doanh
nghiệp nay sẽ an toàn hơn.
™ Tài sản thế chấp: Tài sản thế chấp là lựa chọn hàng đầu của ngân
hàng khi RRTD xảy ra.
™ Đa dạng hóa danh mục đầu tư: Muốn giảm thiểu được các rủi ro

1.3.1 Giới thiệu chung về Hiệp ước Basel [29]
Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking
Supervision – BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng
Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel,
Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập
kỷ 80. Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện Ngân hàng Trung ương
hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà
Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý.
Ủy ban được nhóm họp 4 lần trong một năm.
Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà
nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I.
Hệ thống này cung cấp khung đo lường RRTD với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%.
Basel I không chỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
16

biến ở hầu hết các nước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế. Đến năm 1996,
Basel I được sửa đổi với rất nhiều điểm mới. Tuy vậy, Hiệp ước vẫn có khá nhiều
điểm hạn chế.
Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề
xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế
thừa Basel I; (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của



17

trữ tài sản đánh giá lại được chiết khấu 55%; thời gian đáo hạn còn lại của nợ thứ
cấp tối thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm vốn vô hình (goodwill).
Tài sản có rủi ro (RWA): Basel I mới chỉ đề cập đến RRTD, và tùy theo mỗi
loại tài sản sẽ được gắn cho một hệ số rủi ro.
Phương trình tính tài sản có rủi ro trong Basel I:
RWA Basel I = tài sản * hệ số rủi ro [6]
Theo Basel I, hệ số rủi ro của tài sản có rủi ro được chia thành 4 mức là: 0%,
20%, 50%, và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản (phụ lục 3).
Theo biến đổi của thị trường, năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi có
tính đến rủi ro thị trường và rủi ro thị trường có thể được tính theo hai phương pháp:
Bằng mô hình Basel hoặc bằng các mô hình nội bộ của các ngân hàng.
Nhìn chung, Basel I đã thể hiện một bước đột phá cơ bản liên quan đến tỷ lệ
an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng. Basel I phân loại tài sản có rủi ro và xác
định hệ số rủi ro cho từng loại tài sản, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% tính
trên tổng tài sản điều chỉnh theo rủi ro.
1.3.3 Nội dung cơ bản của Basel II trong quản trị rủi ro của NHTM [6]
Mặc dù Basel I đã giúp quản trị ngân hàng hiệu quả hơn, đảm bảo khả năng
chống đỡ của ngân hàng với rủi ro tốt hơn. Tuy nhiên, qua quá trình dài áp dụng với
xu thế phát triển như vũ bão của hệ thống ngân hàng trên thế giới thì Basel I với bản
sửa đổi năm 1996 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế như: Phân loại rủi ro chưa chi tiết
cho các khoản vay, chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động, chỉ mới đề cập
đến RRTD và chưa đầy đủ về rủi ro thị trường, một số các quy tắc do Basel I đưa ra
không thể vận dụng trong trường hợp ngân hàng sáp nhập hay tập đoàn ngân hàng,
ngân hàng mẹ, ngân hàng – chi nhánh.
Nhằm khắc phục các hạn chế của Basel I và khuyến khích các ngân hàng
thực hiện các phương án quản lý rủi ro tiên tiến hơn, cho đến 2004 bản Hiệp ước


Tổng vốn: Xác định tương tự như Basel I.
Tài sản có rủi ro (RWA): Ngoài RRTD và rủi ro thị trường đã được quy định
tại Basel I, Basel II bổ sung thêm một loại rủi ro nữa là rủi ro hoạt động. Ngoài ra,
cách tính RWA trong Basel II cũng phức tạp hơn so với Basel I, và có khả năng
đánh giá chính xác hơn mức độ an toàn vốn:
™ RWA

Basel I

™ RWA

RRTD phương pháp chuẩn Basel II

= tài sản * hệ số rủi ro (không đề cập đến xếp hạng tín

dụng).
= tài sản * hệ số rủi ro (đề cập đến

xếp hạng TD).
™ RWA Basel II = vốn yêu cầu tối thiểu đối với từng rủi ro (K) * 12.5
1.3.3.2 Trụ cột 2 của Basel II – thanh tra, giám sát ngân hàng [6]
Đưa ra các nguyên tắc chủ chốt của việc kiểm tra, giám sát.
Đề cập đến các vấn đề cụ thể phải được quan tâm trong quá trình kiểm tra
giám sát: Rủi ro lãi suất trong sổ ngân hàng, RRTD, rủi ro hoạt động, rủi ro thị
trường.
Các hướng khác của quá trình kiểm tra giám sát: Tính minh bạch giám sát,
thông tin liên lạc và sự hợp tác tăng cường qua biên giới.



sự minh bạch nào và kiểm soát nội bộ nào sẽ thực hiện theo quá trình minh bạch;


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
20

thể hiện rõ các mục tiêu và chiến lược dành cho việc công khai hóa các thông tin về
thực trạng tài chính và hoạt động ngân hàng.
Ngoài ra, các ngân hàng cũng phải xây dựng kế hoạch thực hiện công khai
tài chính bao gồm cả chu kỳ công bố. Đó là công khai cơ cấu vốn, công khai cơ cấu
rủi ro và các đánh giá rủi ro, công khai hiện trạng phù hợp vốn.
Điều này cho phép các bên tham gia thị trường có thể thẩm định mức vốn an
toàn và có sự so sánh. Các ngân hàng phải có chính sách công khai rõ ràng và một
quy trình để đánh giá sự chính xác trong các báo cáo của họ. Đối với từng loại rủi ro
riêng biệt, các ngân hàng phải mô tả các mục tiêu và các chính sách quản trị rủi ro.
Như vậy, từ một văn bản 30 trang (Basel I) đã được phát triển thành một văn
bản gần 250 trang là một sự xây dựng chi tiết. Với quá trình phát triển của Basel và
những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, nếu áp dụng đúng các tiêu chuẩn này thì
việc đánh giá sức khỏe của các ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính nói chung
sẽ trở nên dễ dàng và minh bạch hơn, đảm bảo phòng ngừa nhiều loại rủi ro hơn.
1.3.4 Phương pháp xác định RRTD Basel II
Theo Basel II, để đo lường và tính toán hệ số rủi ro đối với các khoản mục
tài sản trong QTRRTD có 2 phương pháp cơ bản đó là: Phương pháp chuẩn
(Standardized) và phương pháp xếp hạng nội bộ (IRB).

khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít
nhất là 5 năm trước đó. Những dữ liệu được phân theo 3 nhóm sau:
Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách
hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng.
Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý,
khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng
trưởng của ngành.


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
22

Những dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo
hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu
chi, … rồi từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó
tính được xác suất không trả được nợ của khách hàng. Đó có thể là mô hình tuyến
tính, mô hình propit, … và thường được xây dựng bởi các tổ chức tư vấn chuyên
nghiệp.
Thiệt hại do vỡ nợ (LGD – loss given default): Đây là tỷ trọng phần vốn
bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ. LGD không
chỉ bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất khác phát sinh khi
khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán
và các chi phí hành chính có thể phát sinh như: Chi phí xử lý tài sản thế chấp, các
chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan.


Chưa quy định

Khoản phải thu

35%

0%

125%

CRE/RRE

35%

30%

140%

Khoản cầm cố khác

40%

30%

140%

Loại tài sản đảm bảo

(Nguồn:International Convergence of Capital Measurement & Capital Standards) [34]

[6]

t

với CFt là ngân lưu hàng năm (gốc, lãi và phí) theo hợp đồng phải trả trong
kỳ hạn t. Nếu ngân hàng không tính được M theo công thức thì sẽ sử dụng cách cổ
điển khi tính M, đó là M bằng với thời gian đáo hạn tối đa còn lại (theo năm) mà
người vay chấp nhận thanh toán toàn bộ theo nghĩa vụ hợp đồng vay (gốc, lãi và
phí). Thông thường, đó chính là thời gian đáo hạn danh nghĩa của khoản vay hoặc
các công cụ.
Phương pháp IRB sẽ dựa trên việc đo lường những thiệt hại không mong đợi
(UL – unexpected losses) và các thiệt hại biết trước (EL – expected losses). Hàm
số hệ số rủi ro được sử dụng làm cơ sở tính toán nhu cầu vốn cần thiết cho tỷ trọng
các thiệt hại không mong đợi (UL):
UL =

K
[6]
f (M )

Điều chỉnh kỳ đáo hạn f(M) được xác định bằng công thức:


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi

đồng thời tự tính toán biến số M, nhưng phải tuân theo các chuẩn mực tối thiểu. Đối
với cả hai phương pháp cơ bản và nâng cao, các ngân hàng phải luôn luôn sử dụng
hàm số hệ số rủi ro theo quy định cụ thể của Hiệp ước.
PD và LGD được đo bằng số thập phân hoặc tỷ lệ phần trăm, EAD được đo
lường bằng đơn vị tiền tệ (ví dụ như EUR, USD).


25

Cách tính RWA đối với từng trường hợp cụ thể xem chi tiết tại phụ lục 5.
1.4 Đánh giá tình hình QTRRTD theo Basel II của NHTM trên thế giới
1.4.1 Tình hình ứng dụng Basel II trên thế giới [6]
Trong cuộc khảo sát QIS 5, ủy ban Basel đã phân chia các ngân hàng được
khảo sát thành 2 nhóm. Trong đó, nhóm 1 là những ngân hàng có vốn cấp 1 từ 3 tỷ
USD trở lên và hoạt động đa ngành, đa quốc gia và nhóm 2 là những ngân hàng có
vốn cấp 1 nhỏ hơn 3 tỷ USD.

Biểu đồ 1.1 Ứng dụng các phương pháp đánh giá RRTD của Basel II ở nhóm 1
(Nguồn: Results of the fifth quanlitative impact study) [35]

Biểu đồ 1.2 Ứng dụng các phương pháp đánh giá RRTD của Basel II ở nhóm 2
(Nguồn: Results of the fifth quanlitative impact study) [35]
Theo kết quả khảo sát về việc ứng dụng các phương pháp của Hiệp ước
Basel II trong đánh giá RRTD, nhận thấy các ngân hàng thuộc các quốc gia G10
chủ yếu ứng dụng các phương pháp xếp hạng nội bộ (trong đó các ngân hàng thuộc
nhóm 1 chủ yếu ứng dụng phương pháp xếp hạng nội bộ nâng cao). Trong khi các
ngân hàng có quy mô vốn nhỏ hơn 3 tỷ USD thuộc các quốc gia không nằm trong




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status